View Full Version : Vong hồn có thật hay không ?
manutd
04-18-2007, 06:47 PM
Huy Giang không phải là một cái tên quá xa lạ đối với anh em làng báo bởi cái chất sâu sắc, hóm hỉnh trong bài viết của anh. Bài "Tôi đi gọi hồn" đăng trên nguyệt san Người Hà Nội là một góc nhìn khá độc đáo và thú vị.:chair[1]:
manutd
04-18-2007, 06:52 PM
Cũng giống như mọi người, tôi quay ra chỗ bàn thờ đặt ngoài trời xin lộc từ cái đĩa hoa quả mà mình đã thắp hương từ sáng. Tôi thấy tờ 10 nghìn đồng của tôi đặt trong đĩa hoa quả đã không cánh mà bay từ khi nào. Tôi lẩm bẩm: "Chẳng biết cõi âm thế nào, chứ cõi dương thì vẫn còn nhiều người tham lam lắm. Đến mấy nghìn để lên bàn thờ để cúng cụ mà có người cũng cuỗm luôn. Thật là tệ”!
Nằm ở một bên sông Mã, gần như liền kề với một đầu cầu Hàm Rồng (hướng về phía Hà Nội) và cách thành phố Thanh Hóa không xa, có một địa điểm chuyên gọi hồn mà người khởi xướng và chủ trì là cô Phương (nhiều người còn gọi là bà Phương). Cô Phương có khả năng đặc biệt và hiếm hoi này từ lâu lắm rồi. Hồi cô còn rất trẻ. Nay thì cô đã 46, 47 tuổi. Xưa thì người ta coi việc gọi hồn thuộc diện mê tín dị đoan. Nay thì khác, cô là người có cùng tần số với người âm, có khả năng "thông dịch" giữa người dương với người âm và rất đáng trở thành đối tượng của Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người có trụ sở tại Hà Nội, tồn tại hợp pháp ít năm nay.:smile 9:
Khoảng 8 giờ sáng một ngày đầu tháng trước, tôi đã có mặt ở nhà cô Phương. Trong một khuôn viên có diện tích hàng nghìn m2, lôi được mục đích hàng trăm con người đang bình tĩnh chờ đợi. Có người (khách vãng lai) vừa ăn sáng xong. Có người (khách ở trọ) vừa ngủ dậy, vội vã đi đánh răng, rửa mặt. Một người thấy tôi là "ma mới", bèn bảo: "Anh mới đến đây lần đầu à? Hôm nay, phải 10 giờ cô Phương mới bắt đầu và sẽ kết thúc vào 3 giờ chiều. Còn thủ tục thì cũng đơn giản thôi. Anh vào chỗ kia sắm lấy một cái lễ từ 20 đến 50 nghìn đồng. Sau đó đặt vào chỗ kia và thắp hương khấn. Anh cứ khấn, có thể khấn thầm hoặc nghĩ thầm trong đầu cũng được và nhớ gọi tên một vong hồn nào đó, rồi ngồi vào chỗ kia mà đợi. Xong việc, anh có thể tạ ơn... cô thế nào thì tùy tâm". "Nhưng đợi có lâu không?". "Không thể biết được, có thể rất nhanh hoặc rất lâu. Có thể đến lượt hoặc không bao giờ đến lượt. Tất cả đều phụ thuộc vào vong, anh hiểu chưa? Nếuvong nhà anh về ngay thì nhanh, về chậm thì lâu, không về thì chịu”. "Thế cứ ngồi đợi thôi à”? "Chỉ có ngồi đợi thôi và hy vọng. Ngoài ra, còn biết làm gì khác nữa. Bản thân tôi cũng đã phải ăn chờ nằm đợi ba hôm nay rồi. Tôi sẽ phải đợi cho đến bao giờ vong nhà tôi về thì thôi. Tôi có nhiều việc vô cùng cần thiết để hỏi người cõi âm. Còn anh"? "Tôi chỉ vì tò mò thôi mà. Gọi hồn để cho biết vậy thôi".
Rồi đến 10 giờ, cô Phương bắt đầu vào việc, Cô ngồi trong một phòng, còn mọi người ngồi trong mấy gian nhà xung quanh chờ đợi. Chốc chốc, lại có một giọng phụ nữ đã cứng tuổi, xướng: Vong ông M đã về! Vong bà H đã lên! Vong chị K đã xuất hiện.
Sau mỗi lần giọng phụ nữ kia xướng lên như thế, lại có một đám người chạy hớt ha hớt hải vào chỗ cô Phương như thể thời bao cấp xếp hàng ở một cửa hàng lương thực mà được gọi vào mua gạo vậy. Ngồi cạnh tôi có một người phụ nữ trạc 50 tuổi cứ hết vào lại ra đến hai, ba lần. Một cô gái trẻ ngồi đối diện với tôi, nói: "Từ hôm qua đến hôm nay, chị này vào ra có đến 3, 4 lần rồi nhưng vẫn không được việc. Không biết hôm nay có xong không”?:happybday[1]:
Vào được một chút thì người phụ nữ trạc 50 tuổi lại đi trở ra. Chị nói giọng buồn bã: "Vong nhà mình hiền quá! Lại bị các vong khác chen bật ra rồi! Thế là lại không gặp được! Lại đành phải chờ thôi! Chẳng biết phải chờ với đợi bao lâu nữa!".
Nghe lời than này, tôi chợt nhớ đến bà nội tôi. Sinh thời, bà thường bảo tôi: "Trần sao âm vậy, cháu ạ! Có lần vừa sáng bảnh mắt, bà đã bảo tôi: "Hôm qua tao nằm mơ, thấy cụ Hàn về (cụ Hàn là cụ tôi và là bố chồng của bà tôi). Cụ bảo: "Dưới âm hồi này cũng loạn lắm, khó sống lắm". Tôi nghe bà tôi nói thế mà gai cả người. Chả nhẽ những người đã về cõi vĩnh hằng rồi mà vẫn phải sống bon chen, vất vả thế sao?
Một người đàn ông nói giọng Nghệ, kể với tôi: "Em đi gọi hồn vợ em lần này là lần thứ hai. Lần trước, em đã được gặp vong vợ em. Em hỏi cô ấy thì cô ấy chỉ khóc không nói gì. Vợ em mất đã mấy năm nay. Em muốn hỏi vợ em xem cô ấy có đồng ý cho em đi bước nữa không?". Tôi nhìn người đàn ông nói giọng Nghệ này với ánh mắt trân trọng, bụng thầm nghĩ: phải công nhận tay này yêu vợ thật! Chắc chắn khi vợ còn sống, anh này là một người hạnh phúc.
Tôi tình cờ gặp một người quen tên là V Anh này có dạo làm việc ở Công ty T Còn tôi thì làm báo, có dạo được phân công việc mảng du lịch. Có lần vì đi viết bài về khách sạn L mà có quen biết V sơ sơ. Ngồi nghe V kể những chuyện quanh quanh việc gọi hồn mà tôi thấy lạnh cả gáy.
Rồi V kể: "Anh có biết tuần trước, có một bà mẹ đi gọi hồn không. Con bà mới chết trước khi bà đi gọi hồn không lâu. Vong hồn con trai bà nói: "Không phải con bị chết đuối đâu. Con bị chúng nó giết đấy. Lần sau, mẹ vào đây, con sẽ gọi tên những đứa giết con. Còn bản thân con, cũng phải tìm cách trả thù chúng". Cách đây cũng chỉ một tháng chứ mấy, có một gia đình vào đây gọi hồn. Vậy mà có một vong mới 3 tháng tuổi, nói giọng tức tưởi: "Con chưa có tên. Hồi mẹ nạo thai, con mới là một thai nhi ba tháng tuổi. Con oán bố mẹ lắm. Tại sao bố mẹ lại hại con như vậy? Hồi mẹ bỏ con, con đã phải sống nương tựa vào ông bà".:smile 20:
Ngừng một lát, V kể nhưng chuyển sang "gam” khác: "Đi gọi hồn này, có lúc cũng vui. Có người còn sợ không dám theo vợ vào đây một lần nữa... Em biết có một ông vừa gặp vong hồn ông nội, đã bị mắng như tát nước vào mặt: "Mày là thằng hư đốn. Mày dám có cả tình nhân cơ à. Tao biết mày sắp có ý định bỏ vợ. Từ nay phải sửa chữa khuyết điểm ngay nhé! Từ nay mà mày còn thế nữa thì đừng vác mặt vào gặp tao nữa. Chúng tao sẽ từ mày!".
Thế V có tin không?
Tin chứ! Mình chỉ khấn thầm mà vong lại về gặp cô Phương. Cũng có thể thắp hương khấn vong, xin gặp vong từ Hà Nội cũng được. Rồi vong về. Rồi vong cứ gọi vanh vách tên từng người. Hỏi chuyện gì ở cõi dương, vong cũng biết hết cả. Vong thông thạo mọi thứ như thế cơ mà, vậy sao lại không tin?
Nhưng gọi hồn thì có tác dựng gì không?
Có chứ. Người âm chỉ cho người dương những gì may rủi, những gì lành dữ đã xảy ra hoặc sắp xảy ra để lường trước mắt để biết mà phòng. Người âm yêu cầu người dương phải gửi gì xuống cõi âm, giúp người âm. Thế là âm dương kết hợp còn gì! âm dương mà kết hợp thì sẽ tốt thêm thôi! Anh bảo nếu không tin, làm sao ngày nào cũng có đông người đến đây? Anh bảo nếu không tin, tại sao cô Phương được hoạt động công khai? Anh bảo nếu không tin, tại sao cơ ngơi của cô Phương cứ ngày một phát triển như hiện nay?
Trong lúc trò chuyện với V, thỉnh thoảng tôi lại thấy mấy người vào chỗ cô Phương đi ra. Có người thì cười. Có người thì mắt ngân ngấn lệ.
V bảo: "Họ gặp được người cõi âm rồi đó! Họ cùng vui buồn với người cõi âm rồi đó”!
Tôi hỏi: "Sao tôi thấy có mấy người mới đến mà đã được cô Phương cho gọi vào ngay thế”?
V nói ra chiều rất thành thạo: “Có gì đâu, hôm qua, mấy người này gặp vong hồn mẹ. Họ nhờ vong hồn mẹ họ mời hộ mấy vong hồn nữa cùng về vào sáng nay. Thế là y hẹn, họ gặp được thôi".:beated:
Tôi ngồi đợi mãi đến trưa, bụng hơi đói, bèn nhờ V "Này, cậu còn ngồi ở đây chứ? Vậy cho tớ nhờ một việc. Tớ sẽ ra ngoài kia ăn tạm cơm trưa. Hễ thấy cô Phương cho vong hồn ông tớ tên là R thì nhớ gọi tớ ngay nhé”!
Tôi ngồi ăn một bữa cơm trưa dạng bình dân trong khuôn viên nhà cô Phương. Chỉ gọi có một bát canh cá, một đĩa dưa xào với giá chạy qua một ít thịt bò và một đĩa trứng rán khiêm tốn cùng hai chai bia Hà Nội mà hết tròn một trăm nghìn đồng. Vừa ăn trưa, tôi vừa nghe một bà già người Vĩnh Phúc nói nhỏ: Đồ lễ bán cũng đắt quá. Chỉ cớ mấy quả cà, quả quýt nho nhỏ mà cũng phải mua tới 20 nghìn đồng. Lộc của những người gửi cô Phương sau khi gặp vong xong, cũng khá nhiều, toàn là hoa quả. Không biết sau đó, người ta có bán "quay vòng" không nhỉ? Mỗi ngày mà ở đây cũng tốn kém ra phết, đấy là chưa tính tiền ngủ trọ".
Đến 13h cùng ngày thì tôi buộc phải về Hà Nội. Lý do hôm nay cô Phương mệt quá, không thể tiếp tục được.
Gặp tôi, V nói luôn: "Không thấy cô Phương gọi tên vong hồn ông nội anh. Hình như hôm nay, vong về hơi ít. Em được biết, có hôm, vong về nhiều quá đến nỗi cô Phương ngạt thở, phải mở tất cả các cửa ra, cho thoáng".
Cũng giống như mọi người, tôi quay ra chỗ bàn thờ đặt ngoài trời xin lộc từ cái đĩa hoa quả mà mình đã thắp hương từ sáng. Tôi thấy tờ 10 nghìn đồng của tôi đặt trong đĩa hoa quả đã không cánh mà bay từ khi nào. Tôi lẩm bẩm: "Chẳng biết cõi âm thế nào, chứ cõi dương thì vẫn còn nhiều người tham lam lắm. Đến mấy nghìn để lên bàn thờ để cúng cụ mà có người cũng cuỗm luôn. Thật là tệ”!:smile 20:
manutd
04-18-2007, 07:00 PM
Vẫn chuyện cô Phương Hàm Rồng
Vào thời điểm những năm 2000, bỗng xuất hiện nhiều “nhà ngoại cảm’’ có tài tiên đoán hậu vận, tương lai, tìm mồ mả thất lạc.. thậm chí có vị còn “nói chuyện được với người chết”. Trong số đó có “Cô Phương” ở Hàm Rồng, Thanh Hoá, được đồn đại là có biệt tài “gọi hồn người chết”, dù mới chết hay chết đã lâu, và dù chết gần hay xa, tận bên Nhật, bên Mỹ…cô cũng gọi được về...:smile 54:
“Cô Phương” nổi lên như một hiện tượng, đến nỗi đã có nhiều đoàn nghiên cứu về “cô”, sau đó tán phát nhiều tài liệu tán dương, gây xôn xao dư luận. Vì vậy có rất nhiều người ở khắp nơi kéo về để nhờ cô gọi hồn, gây mất an ninh trật tự và hoang mang trong nhân dân. Trước thực trạng đó, là một nhà báo làm việc tại địa phương, tôi quyết tâm tìm hiểu sự thực để nêu ra trước công luận.
Nhập cuộc
“Đại bản doanh” của “Cô Phương” ở xã Hoàng Long, ngay sát đường lớn, bao gồm một “toà ngang dãy dọc”, có cả vườn cây ao cá khá rộng rãi. Trên đường ô tô biển số các tỉnh nối đuôi nhau hàng dãy. Còn xe máy thì chật hẳn một bãi gửi rộng, có người trông ghi số hẳn hoi. Quán cơm, nhà trọ xung quanh hoạt động ỳ xèo. Sau hai ngày đóng vai một “con nhang đệ tử” đang có nhu cầu gọi hồn người nhà, tôi lê la khắp xóm, thuê nghỉ ở nhà trọ (của người nhà “Cô Phương”), nghe đủ thứ chuyện trên trời dưới đất của các cò mồi (gồm các bác xe ôm, bà bán nước, cô bán cơm, anh chữa xe…), sau dó, tôi bắt đầu tham dự buổi gọi hồn của cô Phương.
Đầu tiên, phải qua thủ tục “báo cáo thần linh” bằng cách mua một “lễ vật” bao gồm một chiếc túi, trong đó có sẵn gói bánh, kẹo, vàng hương, chai rượu…tổng cộng vài chục ngàn đồng, của một quán người nhà “cô Phương” bán, đặt vào cái miếu nhỏ giữa sân nhà cô. Đồng thời viết một tờ giấy nhỏ, ghi rõ tên tuổi, nơi ở, muốn gọi hồn của ai, rồi đứng trước miếu mà khấn. Sau đó chỉ việc ngồi mà đợi, khi nào “cô” gọi thì vào nói chuyện với hồn. Tuy vậy có người cũng phải đợi đến vài ngày mới đến lượt. Có người đợi mãi không được đành bỏ về…
Những chiêu thức của “Cô Phương”
Mất một ngày chờ cô “ươn mình” không “làm việc”, ngày hôm sau, khoảng 9 giờ sáng, đang vạ vật trước sân thì tôi nghe tiếng lao xao: “cô ra, cô ra”. Một phụ nữ khoảng dưới ba mươi tuổi, dong dỏng cao, nét mặt đẹp và sắc sảo, trang điểm cầu kỳ, ăn vận khá “mô đen” từ nhà trên xuất hiện, đủng đỉnh đi xuống gian nhà ngang nơi dùng để gọi hồn. Người người xô đẩy nhau ào đến. Tôi cũng nhanh chân chiếm được một vị trí trong đó. Còn “cô” thì ngồi xuống một tấm thảm trước một điện thờ thật to. Chẳng chú ý đến ai, đầu tiên, “cô” nhét vào máy chiếc băng cát xéc, bật phím ghi âm rồi trùm lên đầu chiếc khăn nhiễu đỏ. Bất thình lình, người cô rung lên bần bật. Lát sau cô hất tung chiếc khăn, mắt long lên sòng sọc rồi hét lên the thé:
-Mão đây, Mão về rồi đây. ai là người nhà ra đón Mão nào…
Bên dưới, mọi người giục nhau:
-Kìa, ai có mẹ (hay bố) là Mão thì nhận đi kìa…
Ngay lúc đó có một cô gái từ bên ngoài chạy bổ vào, hét khản giọng:
-Mẹ ơi, con Hương đây, con đợi đã 3 ngày nay rồi…có phải mẹ Mão ở Làng Chiểu, Yên Thành không ạ?
Lập tức hồn kêu tướng lên:
-Trời ơi, Hương đấy hả con, mẹ đây, Mão ở làng Chiểu chứ còn ai, con đi đâu mà để mẹ đợi mãi vậy? không nhận ra mẹ nữa à? cha tiên nhân con với cái, mới xa mẹ có…bấy nhiêu năm mà đã quên mẹ mất rồi…Hu hu hu, con ơi là con ơi…
Cô gái tên Hưong cũng oà khóc, lao tới ôm chầm lấy hồn. Nhiều người ngồi gần cũng sùi sụt khóc theo. Hai “mẹ con” khóc lóc kể lể hồi lâu, Mãi hồn mới “thăng”, sau khi đã dặn dò cô gái thỉnh thoảng đến đây để “gặp mẹ”… Trước khi cô gái tên Hương ra về, “Cô Phương” rút trong máy chiếc băng cát xéc đưa cho Hương mang về làm kỷ niệm, Hương cũng không quên gửi tiền lễ và tiền băng cho “cô”. Sau đó, “Cô” lại đút chiếc băng cát xéc vào máy để dành cho người kế tiếp.
Không chậm hơn 5 phút sau, một “hồn” khác nhập vào “cô”, xưng tên là Tuất. Lần này thì có hai người cùng nhận, một anh thnah niên ở mãi tận Nam Định nhận bố là Tuất, và một người phụ nữ ở Đông Sơn, Thanh Hoá nhận Tuất là em gái. Hồn liếc mắt lưỡng lự một chút rồi nói dứt khoát:
-Ta là Tuất nữ, là em gái của chị đây chứ không phải là bố của ai đâu nhé…
Thế là anh thanh niên mừng hụt, quay ra. Còn người phụ nữ thì phấn khởi ra mặt, xoắn lấy “cô em ruột’ mà trò chuyện. Khóc lóc, kể lẻ…
Cứ thế, “Cô Phương” làm việc không ngừng, liên tiếp hồn này “thăng”, hồn sau lại “nhập”. Có lúc hồn về chẳng ai nhận, có lúc một hồn lại vài ba người tranh nhau. Quan sát một hồi, tôi nhận ra rằng, “cô Phương’ quả là láu cá. Cô ta cứ kêu bừa một cái tên hú hoạ nào đó, ai có thì nhận, cô sẽ “trông mặt mà bắt hình dong”, bịa chuyện tào lao na ná giống nhau, chủ yếu là khóc lóc những nhớ cùng thương, còn mọi người gặp “hồn” thì mừng quýnh mấy ai còn tâm trí đâu mà suy xét…Chính điểm này làm cho cô nổi tiếng là “gọi hồn không cần hỏi tên tuổi”. Biết thóp vậy, tôi quyết định tương kế tựu kế, sẽ nhận bừa một hồn nào đó…:smile 15:
Sau khi nghỉ uống hết một chai nước ngọt, “cô” lại “làm việc” tiếp. Lần này khi “hồn” vừa kêu bằng giọng khàn nhàn ra cái điều ta là nam giới: “Bình đây, Bình về đây”, tôi cũng kêu tướng lên: “lạy anh Bình, em là Nam đây. Anh ơi vừa qua cấp trên đã công nhận anh là liệt sỹ rồi anh ạ”. Nghe thấy vậy, hồn có vẻ thích chí ra mặt, tủm tỉm cười mà rằng: “em ơi, anh chiến đấu dũng cảm lắm, giết được bao nhiêu là giặc, hy sinh anh dũng như vậy, nay cấp trên công nhận liệt sỹ cho anh là xứng đáng rồi…Anh ở dưới này cũng được các đồng chí tín nhiệm, phong cấp cho anh lên tới …thiếu tướng rồi đấy em ạ…”. Tôi phải cố nén cười, tiếp tục câu chuyện đầu Ngô mình Sở với “ông anh” tưởng tượng. Hồn tỏ ra khoái chuyện “chiến đấu” lắm, cứ kể con cà con kê mãi về các trận đánh mà hồn từng tham dự. Nhưng cuói cùng “hồn’ cũng phải “thăng’ vì “đồng chí đồng đội đang chờ”. Tạm biệt tôi, “hồn” còn bắt tay tôi đàng hoàng và hẹn gặp lại…
Đường đi của bài báo và những gian nan trắc trở
Thế là đã rõ “Cô Phương” gọi hồn ra sao. Sau đó tôi còn gặp thêm một số nhân chứng và mấy vị lãnh đạo chính quyền sở tại. Đã có đủ tư liệu, tôi bắt tay vào viết phóng sự “Sự thật về hiện tượng “Cô Phương”- Hàm Rồng - Thanh Hoá - Khả năng kỳ lạ hay trò lừa đảo?”. Bài viết xong, tôi hăng hái gửi tới mấy tờ báo địa phương. Nhưng tôi như bị dội gáo nước lạnh vào đầu: vì “lý do tế nhị” nào đó, bài báo không được đăng. Không nản chí, tôi bèn gửi đi một số tờ báo trung ương, nhưng vẫn không được đăng, trong đó tiếc nhất có tờ báo V, phóng viên của tờ báo cho biết bài phóng sự đã lên khuôn song lại phải bóc ra vì có ai đó gọi tới…
Thất vọng, lần cuối cùng tôi gửi bài đi, lần này gửi tới “Nhà báo và Công luận”. Sau nhiều ngày thấp thỏm chờ, tôi được chị Vân Anh, Tổng biên tập gọi điện hỏi thêm một số chi tiết trong bài, chị cho biết hiện nay “ngoại cảm” đang là một “vùng nhạy cảm”, và cô Phương Thanh Hoá đang nổi tiếng như cồn nên bài viết như vậy rất khó đăng, chị sẽ cố gắng… Sau đó ít ngày, Chuyên san cuối tuần số tháng 9/2000 đã đăng bài viết trên. Tôi chưa kịp mừng thì chỉ ngay ngày hôm sau, Hội nhà báo Thanh Hoá, nơi tôi công tác đã nhận được nhiều ý kiến phản đối bài báo. Tỉnh uỷ Thanh Hoá cũng nhận được nhiều phản hồi, trong đó có ý kiến đề nghị xem xét lại tư cách nhà báo và động cơ của người viết bài phóng sự “Hiện tượng Cô Phương…” Ngày hôm sau, chị Vân Anh cũng điện vào nói: “gay quá em ạ, ngoài đây có nhiều nhà khoa học phản đối, cho là bài báo sai sự thật, không trung thực. Có người cho em là có ý đồ xấu…em phải chuẩn bị tường trình đi nhé…” . Riêng bản thân tôi cũng nhận được một số phản hồi gay gắt, thậm chí có người đe doạ. Có một nhà nghiên cứu, giáo sư thiếu tướng V…cũng viết thư cho tôi đề nghị được đối chất… Những ngày sau đó, gia đình không dám cho tôi đi ra ngoài vì sợ bị hành hung. Tình hình rất căng thẳng. Nhiều người nhìn tôi với con mắt ái ngại, dè chừng…:fire[1]:
Tuy nhiên, tôi vẫn vững tin là mình viết đúng. Tôi đem vẫn đề trao đổi với Giáo sự Đặng Ngiêm vạn, Viện trưởng Viện Tôn giáo, Giáo sư Lê Quang Vịnh, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, Phó giáo sư Lê Trung Vũ, nhà nghiên cứu tôn giáo…các ông đều đồng tình với tôi. Giáo sư Tiến sỹ Đỗ Quang Hưng, Phó Viện trưởng Viện Tôn giáo cũng gặp gỡ, trao đổi với tôi để ông có thêm thông tin chuẩn bị thành lập đoàn nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng tại Thanh Hoá… Tôi cũng được Viện Văn hoá (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) mời trao đổi về hiện tượng “Cô Phương” . Tất cả những điều đó đã động viên tôi rất nhiều trong những ngày đầy khó khăn đó.
Trắng đen đã rõ
Sự căng thẳng vẫn kéo dài, một số anh em đồng nghiệp đã phải tính đến phương án bảo vệ tôi. Cho đến một hôm, chị Vân Anh lại gọi điện về báo tin: “Mừng quá em ạ, hôm nay trong một cuộc họp giao ban báo chí, đồng chí Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu đã đến tham dự. Đồng chí đã phát biểu trong đó có câu đại ý rằng: “gần đây, có nhiều cán bộ đảng viên tha hoá, mất lòng tin, xa rời thực tế, chạy theo mê tín dị đoan, bói toán nhảm nhí. Báo Nhà báo và Công luận đã có bài báo “Hiện tượng Cô Phương Thanh Hoá…”. Đây là một bài báo tốt, vạch trần thủ đoạn lừa đảo, có tác dụng cảnh tỉnh cho nhiều người như vậy”. Tổng Bí thư đã khẳng định bài báo của chúng ta là rất tốt. Chị chúc mừng em nhé…”.
Nghe xong, tôi như trút được gánh nặng ngàn cân lâu nay đè trĩu trong lòng. Tôi vội đi ngay ra phố, báo tin mừng cho bạn bè rồi đến cơ quan. Ai cũng cùng chia vui với tôi. Những ý kiến phản hồi đã chấm dứt. Mấy ngày sau, Báo Công an Thành Phố Hồ Chí Minh, Báo Công an nghệ An, Công An Thanh Hoá…lần lượt đăng lại bài báo “Hiện tượng Cô Phương…”. Rồi các báo khác như báo Công an Nhân dân, Báo Tiền Phong, Báo Pháp luật, Báo Người Bảo vệ công lý, báo Thời báo kinh tế…cũng lần lượt có bài viết vạch trần sự lừa đảo của “Cô Phương”. Trắng đen cuối cùng đã rõ ràng…:smile 26:
Qua nhiều năm tháng, tôi đã trưởng thành hơn. Và trong hành trang làm báo của mình, kỷ niệm sâu sắc về bài báo không thể nào quên đó đã động viên tôi rất nhiều, giúp tôi vượt qua những trở ngại trong việc hành nghề. Mỗi lần nhớ lại những tháng ngày khó khăn đó, tôi lại hằng nhủ thầm sẽ cố gắng hết mình để viết nên những bài báo trung thực phục vụ đông đảo nhân dân, không run tay, cùn bút trước bất kỳ sự đe doạ nào…
manutd
04-18-2007, 07:02 PM
Chính quyền tổ chức "gọi hồn" để giải phóng mặt bằng
Để thuyết phục dòng họ Nguyễn Công di dời ngôi mộ tổ khỏi khu đất thuộc dự án nằm trên địa bàn, chính quyền phường Yên Hoà đã mời một nhà ngoại cảm đến… “gọi hồn”, hỏi ý kiến người đã khuất. Chuyện vừa xảy ra ở làng Cót, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Khu mộ tổ nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng khu đất 5,2 ha phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội; thuộc dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật tạo quỹ đất, nhà phục vụ người có công với cách mạng.
Trong khu đất 5,2 ha nói trên có rất nhiều ngôi mộ được di dời. Bản thân dòng họ Nguyễn Công cũng đã tự nguyện cho di dời 18 ngôi mộ của các đời sau. Riêng ngôi mộ tổ thì họ không đồng ý. Bởi làng Cót (trước đây là làng Thượng - Hạ Yên Quyết) có tới 19 vị đỗ tiến sĩ, đứng thứ nhì, chỉ sau làng Vẽ (Đông Ngạc, Từ Liêm) với 21 vị. Và trong số dòng họ cư trú lâu đời tại làng Cót thì Nguyễn Công là một dòng họ có truyền thống hiếu học và đỗ đạt.
Khi gặp phải sự phản đối của dòng họ Nguyễn Công, ngày 6/2, UBND phường Yên Hoà đã cùng Ban quản lý dự án vốn ngân sách mời một nhà ngoại cảm đến “gọi hồn” người nằm dưới ngôi mộ tổ, mà không thông qua dòng họ Nguyễn Công.
Buổi “gọi hồn” có sự chứng kiến của các lãnh đạo ban ngành, từ Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch UBND, Mặt trận tổ quốc, công an, Ban quản lý dự án cho đến các đoàn thể và nhân dân phường Yên Hoà. Buổi “gặp mặt” đặc biệt này còn được quay phim, in sao ra thành nhiều đĩa VCD và công bố rộng rãi.
Trong cuốn ghi hình kéo dài hơn 40 phút, người ta thấy nhà ngoại cảm "trò chuyện” với ngôi mộ, sau đó truyền đạt lại cho những người xung quanh. Nội dung truyền đạt lại chủ yếu liên quan đến việc di dời mộ để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng.
Theo ông Nguyễn Đăng Định, Bí thư đảng uỷ phường Yên Hoà, chỉ riêng ở UBND phường đã có tới 3 đĩa VCD. Một đĩa trong số đó được ông Định đích thân mang đến tận nhà ông Nguyễn Công Thìn, tộc trưởng dòng họ Nguyễn Công, với lời đề tặng: "UBND phường YH tặng”. Phó chủ tịch HĐND phường là bà Dung còn chiếu đĩa rộng rãi cho bà con hàng xóm xem. Hỏi vì sao bà Dung có đĩa đó, ông Định cho biết là bà Dung mượn của UBND phường.
Trước những việc làm trên, những người trong dòng họ Nguyễn Công đã rất bức xúc. Với họ, việc động chạm đến mồ mả của dòng họ là không thể coi thường.
Chiều 2/4, ông Nguyễn Đăng Định lý giải rằng việc mời nhà ngoại cảm đến “gọi hồn” là do Ban quản lý dự án đứng ra tổ chức và mời đại diện chính quyền, đảng ủy phường đến dự.
Dự kiến hôm nay, UBND quận Cầu Giấy sẽ có buổi làm việc, với sự có mặt nhiều đại diện như Sở Tài nguyên Môi trường, Xây dựng... và đại diện dòng tộc để thảo luận cách giải quyết đối với ngôi mộ tổ.
manutd
04-18-2007, 07:03 PM
'Việc gọi hồn được cả chính quyền và đảng ủy thống nhất'
Chủ tịch UBND phường Yên Hòa (Cầu Giấy, Hà Nội) Nguyễn Minh Hiếu cho rằng, việc gọi hồn nhằm phục vụ việc giải phóng mặt bằng là do chủ đầu tư đề xuất, lãnh đạo phường đã họp bàn. Việc này lãnh đạo quận cũng biết, tất cả ban ngành của phường từ bí thư trở xuống đều tham dự.
- Thưa ông, vì sao lãnh đạo phường lại tham gia buổi gọi hồn?
- Trước hết tôi xin "thanh minh" rằng, buổi mời nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng về chỉ là để "xác định vị trí cụ tổ nằm ở đâu". Đây hoàn toàn không phải là buổi gọi hồn như mọi người nghĩ. Chúng tôi chỉ muốn nhờ khả năng ngoại cảm để xác định vị trí chính xác nơi chôn cất di thể của cụ tổ dòng họ Nguyễn Công, nhằm phục vụ cho việc di dời sau này được suôn sẻ.
- Vấn đề ngoại cảm cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Ông nghĩ gì khi dư luận cho rằng chính quyền phường Yên Hòa cổ súy cho mê tín dị đoan?
- Đấy là cách nghĩ của mọi người, chúng tôi không thể bắt mọi người phải nghĩ như thế nào. Riêng về phần lãnh đạo phường xác định, đây thuần túy là khoa học vì bà Hằng là người của Trung tâm nghiên cứu khả năng ngoại cảm của con người. Tôi xin khẳng định chính quyền phường không cổ vũ cho mê tín dị đoan, chúng tôi chỉ dự xem kết quả có như mong muốn.
Hơn nữa, việc mời bà Hằng là do chủ đầu tư đề xuất, lãnh đạo phường đã họp bàn và thống nhất, không có gì là mê tín cả. Việc này lãnh đạo quận cũng biết, tất cả các ban ngành của phường từ bí thư trở xuống đều dự và chứng kiến. Nơi ngôi mộ được xây chưa chắc đã là nơi cụ tổ dòng họ Nguyễn Công nằm. Như tôi đã trình bày, chúng tôi muốn nhờ khả năng ngoại cảm của bà Hằng để xác định vị trí chính xác nơi cụ “tọa lạc” để sau này khi di dời tránh phải mất công đào bới nhiều, sợ "động" đến cụ.
- Ông nói lãnh đạo phường chỉ dự để xem kết quả có như mong muốn, vậy chính quyền trông đợi kết quả gì?
- Từ khi được giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng để xây dựng dự án, chúng tôi đã thực hiện đủ mọi biện pháp tuyên truyền thuyết phục dòng họ Nguyễn Công cho di dời ngôi mộ tổ. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thực hiện được, vì các cụ trong dòng họ vẫn bảo lưu ý kiến không muốn di dời ngôi mộ.
Vì lẽ đó, chúng tôi nghĩ, cũng không nên cứng nhắc theo quan điểm duy vật mà phải uyển chuyển tìm mọi giải pháp có thể để hoàn thành nhiệm vụ.
- Ông lý giải thế nào về việc in đĩa VCD tặng dòng họ Nguyễn Công và phát tán rộng rãi?
- Chúng tôi không có ý định phát tán rộng rãi đĩa VCD quay cảnh ngày hôm đó. Việc quay phim và in đĩa VCD hoàn toàn là do chủ đầu tư thuê người làm, đến khi chủ đầu tư mang biếu đĩa thì chúng tôi mới biết. Sau đó, đồng chí Nguyễn Đắc Định, Bí thư đảng ủy phường mang đĩa VCD này đến biếu cụ Nguyễn Công Thìn, Trưởng tộc dòng họ Nguyễn Công chỉ để "thông báo" cho gia đình biết.
- Nếu muốn gia đình biết, vì sao ngày hôm đó chủ đầu tư và chính quyền phường không mời trong buổi gọi hồn?
- Đích thân đồng chí Bí thư đảng ủy phường Nguyễn Đắc Định đã 2 lần đến nhà cụ Thìn mời dự. Tuy nhiên không hiểu sao hôm đó không có ai đại diện dòng họ đến dự. Chúng tôi thấy việc này cũng không ảnh hưởng gì nên không can thiệp, chỉ chứng kiến xem chủ đầu tư có làm gì không đúng không thôi.
- Giờ, sau những phản ứng của dư luận và gia đình dòng họ Nguyễn Công về việc gọi hồn ông nghĩ gì?
- Phải thú thực là đến bây giờ thì chúng tôi lực bất tòng tâm. Mới đây, trong cuộc họp gồm có các ban ngành của thành phố, đại diện dòng họ Nguyễn Công và phường Yên Hòa, ông Nguyễn Lễ, Phó chủ tịch UBND quận nói rằng đợi xin ý kiến của thành phố.
Nói thật, nếu cương quyết giải tỏa thì thành phố và quận phải cho chúng tôi "chiếc gậy", tức là tạo cơ sở pháp lý bằng các quyết định chính thức thì chúng tôi mới thực thi được.
Theo Phó chủ tịch UBND quận Cầu Giấy (Hà Nội) Nguyễn Lễ, hiện chính quyền chưa nhận được sự đồng thuận của dòng họ Nguyễn Công di dời ngôi mộ tổ. Quận sẽ báo cáo thành phố Hà Nội ra quyết định giải tỏa. "UBND quận Cầu Giấy thấy đây là công việc rất khó khăn vì chưa bao giờ phải thực hiện cưỡng chế di chuyển mộ", ông Lễ nói.
Dòng họ Nguyễn Công hiện đã chấp thuận di chuyển 18 ngôi mộ khác nằm xung quanh mộ tổ vào khu tưởng niệm trên địa bàn, chỉ riêng ngôi mộ tổ đã được dòng họ xây tường bao quanh, chưa cho phép di chuyển.
Để phục vụ chỗ an cư cho người đã khuất, quận Cầu Giấy đã xây dựng khu tưởng niệm rộng 400m2 dành di chuyển các ngôi mộ trong diện phải giải tỏa.
manutd
04-18-2007, 07:04 PM
Ba hồn bảy vía - Ba hồn chín vía
Ai đã đọc “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, hẳn không quên hình ảnh chị Dậu chạy ra ngõ hú gọi ba hồn bảy vía anh Dậu “về với vợ con” trong khi anh bị bọn cường hào đánh trói nằm bất tỉnh nhân sự trong nhà. Còn trong dân gian, theo mê tín, khi xem bói bài tây hoặc chữa bệnh bằng mẹo, người ta thường bắt buộc phải tráo quân bài hoặc làm một động tác quy ước nào đó bảy lần (với nam) và chín lần (với nữ). Ấy là do “đàn ông có bảy vía, đàn bà có chín vía”, theo sự mê tín của dân gian.
Xưa nay, người bình dân chỉ quan niệm giản đơn rằng, người ta sống là do có tinh thần tức là “hồn vía” nhập vào thể xác. Khi hồn vía lìa khỏi xác thể thì cũng là lúc con người từ bỏ thế giới này mà về nơi “chín suối” với tổ tiên. Tất cả cái tinh anh khí phách của người đàn ông hợp thành ba hồn bảy vía, còn tất cả cái khôn ngoan tháo vát ở người đàn bà hợp thành ba hồn chín vía. Chính vì thế, ở dân tộc Kinh, mỗi khi có người ốm “thập tử nhất sinh” hoặc bị tai nạn “bất tỉnh nhân sự”, tính mạng bị đe dọa thì người ta thường trèo lên mái nhà hoặc chạy ra ngã bảy, ngã ba mà vừa đi về và vừa gọi hồn vía người bị nạn để mong cho họ đừng “bỏ đi” xuống “suối vàng”. Hoặc giả, nếu họ có chết thì hồn khỏi bị lạc đường, bơ vơ dễ sa vào bàn tay bọn ma quỷ “vô lại”, làm công cụ để hại người lương thiện. Sự gọi hồn ấy, tuỳ theo người bị nạn là nam hay nữ mà gọi ba hồn bảy vía hay ba hồn chín vía.
Đồng bào dân tộc thiểu số cũng có quan niệm về hồn vía như trên, có điều hồn vía được phân biệt thêm là có vía lành, vía dữ. Khi chết, vía lìa khỏi xác và hồn đi sau cùng. Người Tày, Nùng không gọi hồn như người Kinh, người ta tổ chức hát then, cúng tế để gọi hồn người chết về.
Nhưng nguyên do của ba hồn bảy vía và ba hồn chín vía là ở đâu? Tại sao đàn ông lại chỉ có “bảy vía” mà đàn bà lại “chín vía”?
Đó là những câu hỏi không dễ giải thích ngọn ngành, chỉ biết rằng từ xưa người Việt đã có quan niệm và xử sự như vậy.
Tìm về với tôn giáo, chúng ta thấy sáng rõ được nguồn gốc của quan niệm trên. Thật ra, đó là xuất phát từ quan điểm duy tâm của Đạo Giáo. Theo kinh sách của Lão Tử, hồn là cái linh, thuộc vào phần khí của con người, phách (vía) là cái linh, phụ thuộc vào phần hình của con người. Hồn là phần khinh thanh (nhẹ) phách là phần trọng trọc (nặng). Vì vậy, khi nguời ta chết, hồn bay về trời, còn phách thì tiêu xuống đất theo thể xác. Hồn thì tồn tại mãi mãi, phách và xác thì sẽ tiêu tan. Đàn ông và đàn bà đều có ba hồn phụ vào tam tiêu (tam tiêu là ba miền thượng tiêu là phần trên dạ dày, trung tiêu là miền giữa dạ dày và hạ tiêu là miền trên bàng quan), song chỗ khác nhau giữa đàn ông và đàn bà là: Đàn ông có ba hồn và bảy phách phụ vào thất khiếu (thất khiếu là bảy lỗ trên mặt: hai mắt, hai tay, hai mũi và miệng), còn đàn bà có ba hồn và chín phách phụ vào cửa khiếu là thất khiếu + lỗ sinh dục và hậu môn). Quan niệm về hồn vía ở trên, không ai khác, chính là do các bậc nho học truyền bá và ảnh huởng sâu rộng trong dân gian đến mức người ta chỉ còn biết cái ngọn của nó và tin theo, làm theo.
Trở lại với thành ngữ trên, do có nguồn gốc tôn giáo như vậy, mỗi khi gặp một trường hợp “bất tỉnh nhân sự”, cần “cấp cứu” trong khi không có thầy thuốc, người Việt, theo thói quen mê tín, thường hú gọi hồn vía người ấy quay về, đừng bỏ phần xác mà ra đi theo ma quỷ!
manutd
04-18-2007, 07:06 PM
Chiều nay thi văn bản làm bài cũng tạm được. Chắc là qua thôi. Hihi. Trước khi đi thi, còn được thần linh phù hộ cho rồi mà... Công nhận cô Hoa gọi hồn chuẩn thật.
Mẹ kể bao nhiêu là chuyện. Làm sao người ta biết được nhỉ? Cô Hoa đó gọi bà ngoại, bác Phổ, bà cả(vợ ông nội), ông nội, bà Lê....Chỉ tiếc là mình không ở nhà để chứng kiến. Lúc nói chuyện với Thần Linh. Vừa buồn cười vừa sợ. Eo ôi, làm sao mà Ngài biết mình thi không phải chỉ ngồi trong lớp không mà là ngồi tập hợp nhiều người ngồi chung trong hội trường nhỉ? Sợ quá. Còn bảo là Mày có hay nói chuyện với anh trai không? Nó bảo là hè này nó về, có đúng không? Mình thấy kinh ngạc và cũng thấy buồn cười nữa. Chẳng ai mà ngờ được.
Lại còn nhìn mình, sau bảo chứ:" Đứa chị còn xinh hơn đứa này cơ". Đúng rồi mà. Chị gái cao hơn, trắng hơn, tính vui hơn, nên xinh hơn là đúng rồi. Lại còn bảo là Ngài không muốn cho mày đi nước ngoài. Ở trong nước thôi... Hic.
Buồn thế đấy. Còn bảo khi nào học xong công việc ổn định thì mới lấy chồng, chứ bây giờ thì mày vẫn chưa muốn lấy đâu.... Thần nói làm con bàng hoàng cả người Thần ơi/ Đến lúc tới trường. Làm bài thi mà có cảm giác như Thần đang làm hộ mình ấy. Thần bảo là Thần phù hộ cho mà... Lại còn bảo sẽ có người giúp đỡ nữa chứ. Ôi thôi, đó là riêng về Ngọc tôi thôi đấy. Còn chị gái, anh trai, bố mẹ nữa. Ở nhà trong căn phòng này bắt đầu thấy sợ rồi. Vì cái gì Thần cũng biết cả Mèng ơi! Chắc không dám làm gì mờ ám. Thần biết Thần méc mẹ thì chết tôi... Hihi. Ước gì Thần cho con một con số nhỉ... Thần Linh ơi!!!
manutd
04-18-2007, 07:09 PM
Mối tình âm dương
T.T. có một người dì (bà con xa) tên là Hạnh, khi dì làm ở một tiệm cafe gần đường rầy xe lửa tỉnh Phú Nhuận, dì có quen một người con trai làm lính Cộng Hòa và sau một thời gian chuyện trò thì tình yêu của hai người bắt đầu chớm nở ... Nhưng khi cuộc tình vừa mới bắt đầu, thì năm 1975 chiến tranh bùng nổ, dì trở về nhà mẹ.
Sau khi chiến tranh chấm dứt, dì về quán Cafe cũ tiếp tục làm, hy vọng rằng sẽ gặp lại người tình xưạ Nhưng đã ba bốn tháng trôi qua bóng dáng người xưa vẫn biệt tăm. Hỏi thăm những người quen biết thì ai cũng lắc đầu không biết. Rồi mỗi ngày niềm hy vọng gặp lại người tình xưa từ từ chết dần, để người con gái như hoa xuân mới nở mà giờ đây ủ rủ tàn phai theo tháng ngày ...
Nhưng vào một đêm, vì rất đông khách cho nên cả người mệt nhoài, nên khi lên giường là dì chìm ngay vào giấc ngủ và mơ thấy người yêu của mình trở về. Người đó còn mời dì đến nhà của mình chơi nữạ Dì rất là vui mừng vì đã lâu không gặp, với lại từ khi hai người quen nhau người đó chưa một lần ngỏ ý mời dì đến nhà, nên dì đồng ý ngaỵ Nắm tay nhau hai người đi vào một con đường sương khói dầy đặc để khi ra khỏi vùng sương khói đó thì chỉ thấy nào là mồ mả nằm san sát bên nhau mà thôi, chứ không thấy nhà cửa gì hết. Lúc đó, rất đỗi sợ hãi với một giọng run run dì hỏi:
-Anh à! Nhà của anh ở đâu vậỵ Nơi đây đâu có nhà cửa, sao anh lại dẫn em vào đâỷ Với giọng bình thản người yêu của dì trả lời:
- Nhà của anh ở trong kia kìa, gần sắp tới rồi, đi theo anh.
Nói xong người tình của dì kéo tay dì đi băng qua các ngôi mộ. Trong người cảm thấy ớn lạnh không dám nhìn cho nên dì nhắm mắt lại mặc cho người yêu của mình dẫn đi đâu thì đị Ðược một quảng đường, bỗng nhiên người yêu của dì kéo tay cho dì đứng lại, lúc đó dì mở mắt ra thì thấy trước mắt mình là một ngôi mộ màu trắng có trồng giàn hoa rất rất đẹp, xung quanh còn có hàng rào sắt. Trước cảnh tượng đó dì chỉ còn biết đứng chết trân không nói lên được một lời nàọ Nhưng người yêu của dì dường như không thấy được nỗi kinh ngạc của dì mà còn nắm tay của dì kéo đi và nói:
- Nhà của anh đây nè! Người yêu của dì vừa nói vừa kéo dì vào trong hàng rào của ngôi mộ.
Vì sợ quá không biết làm sao nên dì đã thét lên thật lớn và giựt mình thức dậỵ
Sáng hôm sau, trong lòng linh tính rằng có điềm không may đã xảy ra cho người yêu của mình nên dì tìm mẹ của người mình yêu (lúc trước dì không hỏi thẳng mẹ của người ấy vì biết bà ta không có thích mình có hỏi thì cũng vô dụng mà thôi). Cũng vì giấc mơ kỳ quái này cho nên dì mới đi tìm bà tạ Khi gặp, dì mới hỏi bà ấy rằng con của bà hiện giờ sống hay chết xin bà hãy nói rõ cho tôi biết.
Với một giọng cộc lốc, bà ta trả lời:
- Con tôi đã chết rồị Tôi không muốn báo cho cô biết, vì từ đầu tôi đã không thích con tôi quen với cô. Và cái chết của con tôi cũng không có liên hệ gì đến cô.
Nhưng dì đã nhã nhặn kể lại giấc mơ đêm hôm qua cho bà ấy nghẹ Sau khi nghe xong, có lẽ vì cảm động về tình cảm con của bà đã dành cho dì, nên bà ta dịu giọng xuống chỉ nơi chôn cất con trai của mình.
Sau khi bà ta chỉ chỗ, dì vội vã đi mua nhan đèn và một ít trái cây, rồi sau đó tìm đến ngôi mộ của người yêu mình. Ðến trước nghĩa trang nơi chôn cất người yêu của mình thì dì thấy cảnh vật chung quanh cũng giống y hệt như là trong giấc mơ vậỵ Lần mò đi vào trong theo con đường mòn được một quãng thì hỡi ơi, đây là ngôi mộ mình đã thấy trong mơ mà và trên bia đá còn có khắc hàng tên của anh ấy nữa ... Dì quỵ xuống bên mộ bia người yêu và sụt sùi khóc. Cũng từ đó dì không còn tha thiết thương ai nữa, cho dù người ta có đeo đuổi ...
Dì là đứa con út cho nên má của dì rất thương dì và muốn dì sớm có gia đình để khi chết bà được yên lòng. Vì theo đạo Phật nên má của dì tin rằng linh hồn của người yêu của dì vẫn còn theo dì, vì vậy đã 30 tuổi mà dì cũng chưa có được một tấm chồng. Cho nên, một hôm má của dì nhờ một người chuyên môn kêu gọi linh hồn người chết trở về cho mình nói chuyện (người VN mình gọi là lên đồng, lên bóng). Và ngày giờ được ấn định.
Hôm đó má của người yêu dì cũng được mời đến và đã mượn thể xác của bà ta để con của bà nhập vào nói chuyện. Một hồi làm lễ gọi hồn xong, bỗng dưng bà ấy (má của người chết) bắt đầu rùng mình và thay đổi sắc mặt, còn bắt đầu khóc lóc nữạ Nhưng khi hỏi thì (giọng nói biến thành tiếng đàn ông con trai) người ấy nói là nhớ người yêu quá cho nên khóc. Người gọi hồn mới hỏi là sao anh chết rồi mà không chịu đi đầu thai, người ấy trả lời:
- Tôi vẫn còn thương cô ấy nên đi không đành. Người gọi hồn mới giảng giải:
- Anh là người ở cõi âm làm sao có thể yêu thương một người ở cõi dương được. Nếu anh thật sự thương cô ấy thì hãy để cho cô ấy có chồng và hãy để cho cô ấy lập gia đình.
Sau một hồi nói chuyện và năn nỉ thì người ấy bằng lòng không đi theo dì nữa; và trước khi đi người ấy còn nói rằng:
- Nếu có lấy chồng thì nói cô ấy nhớ nói với tôi một tiếng! ...
Mấy năm sau, khoảng năm 35 tuổi dì mới lấy được một người chồng và có được một đứa con trai mập mạp dễ thương, nhưng không có ai biết đứa con trai của dì có phải là người tình cũ đầu thai trở lại không?
manutd
04-18-2007, 07:15 PM
Lễ hội lên đồng
Sân khấu sáng rực ánh đèn, hệ thống âm thanh hiện đại với đôi loa thùng công suất lớn đặt hai bên..., chưa bao giờ người dân bên đền Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, Chí Linh, Hải Dương) lại được thưởng thức một “bữa tiệc” hầu bóng hoành tráng như vậy...
Đó là lần đầu tiên những ông đồng, bà cốt trình diễn những màn nhập hồn đầy màu sắc tâm linh trên… sân khấu lấp lánh ánh đèn, chứ không phải là điện thờ nghi ngút khói hương.
Theo lịch sắp xếp của ban tổ chức, đoàn “cậu” Tâm (ông đồng người Kim Thành, Hải Dương) đảm nhiệm màn “lên đồng” đầu tiên của liên hoan hầu thánh. “Cậu” Tâm vận chiếc áo phông đỏ chót, quần bò bạc màu, lăng xăng chạy đi chạy lại chỉ đạo các “đệ tử” bài trí ban thờ… Bên hông sân khấu, con nhang, đệ tử của “cậu” tất bật sắp sửa lễ vật, bày biện mâm quả... Giữa sân đền, ngay trước nhà tiền lễ, sân khấu nơi những ông đồng bà cốt sắp trình diễn nổi bật lên với ánh đèn sáng rực, long đình (ban thờ) nghi ngút khói hương, bập bùng ánh nến. Hai bên treo bốn bức tranh cách điệu hình bốn vị quan võ nom uy nghi lộng lẫy. Tôi lại gần các con nhang, đệ tử của “cậu” Tâm bắt chuyện. Chị T., một “đệ tử ruột” cùng quê với “cậu” Tâm, hồ hởi khoe: “Đêm nay tôi phụ đồng cho “cậu”. “Cậu” mở điện ở nhà đông đệ tử lắm, nhưng đến tham gia hội diễn này chỉ thân cận của “cậu” mới được đi cùng thôi, bây giờ có mặt tại đây cũng phải gần 100 người…”.
Gần tới giờ khai mạc, bà con kéo về nườm nượp. Ngoài những cụ già, mệnh phụ phu nhân, còn có rất nhiều bạn trẻ cỡ U-20. Tất cả ngồi chen chúc trên tấm thảm đỏ trải rộng trước long đình. Ban tổ chức giục oang oang trong loa thúc nhân viên đền huy động tất cả chiếu của nhà đền trải chỗ cho bà con ngồi xem.
Đúng 20g, sau bài phát biểu khai mạc của giám đốc Sở VH-TT tỉnh Hải Dương Đặng Việt Cường, “cậu” Tâm bước ra chiếu đồng trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt. “Cậu” mặc bộ quần áo lụa trắng, tóc vuốt keo bọt, mặt tô son điểm phấn, mai tóc để dài như con gái. “Cậu” cúi đầu chào khán giả thành thục như một ca sĩ. “Cậu” từ từ ngồi xuống chiếu đồng trước cặp mắt hồi hộp dõi theo của hàng ngàn khán giả và con nhang, đệ tử. Theo chân “cậu”, bốn phụ đồng (hai nam, hai nữ) nhanh chóng chuẩn bị trang phục, lễ lạt… Cánh cung văn nổi nhạc, tiếng đàn khoan thai, trống phách dồn dập, giọng hát văn vụt bổng bao trùm lên không gian sân đền.
Những giá đồng vùn vụt trôi qua, khi thì “cậu” hóa thân thành một vị tướng trấn giữ miền biên ải tiến lui múa đại long đao vun vút, khi thì là một mệnh quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái miền cao đang tung tăng nhảy múa giữa bạt ngàn núi rừng. Giọng hát văn lúc dìu dặt, lúc vui nhộn tưng bừng, tâm trạng buồn vui của khán giả cũng biến đổi theo từng giá đồng. Có lúc cả đám đông say mê vỗ tay hòa cùng nhịp trống phách, có lúc vẻ mặt ai cũng buồn não nề theo tiếng đàn, giọng hát ai oán kể về nỗi niềm oan khuất của người anh hùng. Mỗi lẫn “cậu” Tâm trình diễn đến cao trào, hai đệ tử thân cận của cậu ngồi sẵn bên cánh gà chiếu đồng lại nổ pháo giấy trong tiếng vỗ tay cổ vũ nồng nhiệt của khán giả.
3 giờ sáng, màn diễn thứ tư của đêm hội “lên đồng” do ông đồng Vũ Khắc Long, Hải Phòng thể hiện. Trong khi cánh khán giả U-20 có vẻ thấm mệt, một số rời chiếu đồng ra về, thì nhiều cụ già cỡ 70-80 tuổi vẫn trắng đêm cùng “hầu bóng”. Bà cụ Yên, hơn 80 tuổi, nhà ngay sau đền Kiếp Bạc, cho biết: “Tôi cùng mấy cụ trong làng rủ nhau đến xem. Cánh cung văn hát hay thật. Chưa bao giờ tôi được xem một giá hầu như thế này”.
manutd
04-18-2007, 07:16 PM
- Lên đồng (hay còn gọi là hầu bóng) là nghi lễ phổ biến nhất của đạo Mẫu. Trong nghi lễ này, người ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng để nghe lời cầu khấn của người đi lễ.
Đạo Mẫu là một tín ngưỡng dân gian VN thờ các nữ thần (thường gọi là các Thánh Mẫu). Đạo Mẫu là một phần quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian và bản sắc dân tộc của VN, được thờ tại các đền, phủ. Ở miền Bắc VN, các chùa cũng có bàn thờ Mẫu (tiền Phật, hậu Mẫu). Đạo Mẫu không chú trọng vào cuộc sống sau khi chết mà quan tâm đến cuộc sống hiện tại, và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc và đầy đủ trên trần gian.
Đạo Mẫu có hai dịp lễ hội quan trọng: “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, kỷ niệm ngày mất của Đức Thánh Trần (cha) và Liễu Hạnh công chúa (mẹ).
Thực chất “hầu bóng” là một sinh hoạt văn hóa tâm linh thuộc về dân gian có từ lâu đời, có ý nghĩa tôn vinh các nhân vật lịch sử cùng với công trạng của họ dưới hình thức nhập hồn và hát văn.
Về nghệ thuật diễn xướng dân gian, đây là một tổng hợp nhiều diễn xướng khác. Có toàn bộ dàn nhạc dân tộc; có hát chèo, hát văn; có kịch múa, nhảy, hóa trang, lễ nghi. Một người diễn những 36 giá đồng, hóa thân vào 36 nhân vật với những tâm trạng diễn xuất khác nhau. Đây là hội của dân, chúng tôi chỉ đứng ra chủ trì để người dân tự làm.
manutd
04-18-2007, 07:17 PM
Lên đồng rồi sai con nhang đệ tử đánh chết người
Công an huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) cho biết : Tại gia đình Vũ Đặng Tiên, 43 tuổi, ở đội 7, thôn Chử Khê, xã Hùng Thắng thuộc huyện Tiên Lãng vừa xảy ra một vụ án mạng do hoạt động mê tín. Nạn nhân là anh Phạm Văn Trung, 42 tuổi người cùng xã.
Từ khoảng chục ngày nay, Bùi Thị Cuộc, 41 tuổi, vợ của Vũ Đặng Tiên bỗng dưng nói lảm nhảm "người âm" tự xưng là "thánh giáng trần" để "cứu nhân độ thế", có khả năng chữa "bách bệnh" và tìm mộ của người đã chết. Biết đó là chuyên nhảm nhí, song, đáng ngạc nhiên là vẫn có nhiều người hàng ngày mang lễ vật đến nhà Cuộc cung tiến và nhờ vả.
Loá mắt trước món lộc "trời cho", vợ chồng Tiên, Cuộc đã xây một gian thờ cúng ngay trong ngôi nhà đang trưng biển "Cửa hàng Tiền Phong, dịch vụ đám cuới, nhạc karaoke, vi tính" và sửa sang, lập thành nhiều phòng để đón khách đến "chữa bệnh".
Trước việc làm không bình thường đó, cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể ở xã Hùng Thắng đã đến khuyên bảo, nhắc nhở vợ chồng Tiên, Cuộc, yêu cầu chấm dứt việc buôn thần, bán thánh. Song, họ vẫn không nghe và "bỏ ngoài tai"...
Khoảng 7 giờ ngày 5/4, anh Phạm Văn Trung đi bộ đến nhà Tiên chơi giữa lúc phía sau nhà Tiên có nhiều người đang xúm đông xem Cuộc đứng trên lan can tầng hai của nhà "lên đồng" phán quyết.
Chợt nhìn thấy anh Trung, thị Cuộc bỗng hô lớn:" Con ma đã đến, phải tiêu diệt nó". Chẳng hay biết gì, anh Trung vẫn lặng lẽ chen vào đám đông ngồi xem. Từ trên cao, thị Cuộc vừa tiếp tục lảm nhảm lăng mạ, vừa ra lệnh cho một số "đệ tử" dùng nước hoa dội lên đầu anh Trung.
Tiếp đó, thị ra lệnh cho Vũ Văn Thê, 43 tuổi, ở đội 7, thôn Chử Khê đạp ngã anh Trung xuống sân và hô con trai là Vũ Tiền Phong và Vũ Hồng Dị dùng tre, róc đánh anh Trung tới tấp. Cùng lúc, thị lại "lệnh" cho Vũ Văn Tẩn, 52 tuổi, người hàng xóm cạnh nhà Cuộc dùng gậy tre "tiêu diệt con ma...".
Như bị bùa mê, Tẩn răm rắp tuân lệnh, cầm cây gậy múa may vài vòng rồi cứ nhằm đầu anh Trung giáng mạnh. Khoảng gần 1 giờ sau, thấy anh Trung nằm bất động, thị Cuộc mới hô các "đệ tử" dừng tay. Song, anh Trung đã chết...
Tại trụ sở công an, các đối tượng liên quan đến vụ án mạng bị bắt giữ ngay sau đó đều khai nhận về các hành vi phạm tội của mình.
Tuy nhiên, điều đáng phê phán là việc gây án mạng từ sự mê muội, cuồng tín đó lại diễn ra trước đông người, đặc biệt ngay tại gia đình của Vũ Đặng Tiên là Trưởng Ban văn hoá xã Hùng Thắng. Dư luận ở Hải Phòng đang lên án mạnh mẽ việc làm mê tín, gây án mạng đáng tiếc trên, đòi hỏi phải được pháp luật xử lý nghiêm.
manutd
04-18-2007, 07:19 PM
Lên đồng (hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng) là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng dân gian (dòng Saman giáo) của nhiều dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua các tín đồ Saman giáo (ông đồng, bà đồng). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các ông đồng, bà đồng nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ.
Ở Việt Nam, lên đồng là nghi thức không thể thiếu trong các tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần (thanh đồng), thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (đồng cốt)... Về hình thức, nghi thức lên đồng của dòng thanh đồng mang tính saman nặng hơn lên đồng của dòng đồng cốt bởi nó mang nhiều yếu tố ma thuật và các hành động làm đau đớn đến thể xác như đi trên than hồng, xiên lình, phun lửa...
Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có nghi thức giao tiếp với thần linh như tín ngưỡng Mỡi của người Mường, tín ngưỡng Then của người Tày, Nùng. Tuy nhiên, khác với nghi thức lên đồng của người Việt, sự giao tiếp với thần linh ở Mỡi và Then chủ yếu thông qua hình thức xuất hồn, tức là các ông Mỡi, bà Then có khả năng thoát hồn khỏi xác bay đi gặp gỡ, cầu xin thần linh phù hộ cho dân chúng.
Ngày nay, lên đồng vẫn còn là nhu cầu tâm linh, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của một bộ phận người Việt. Các nghi lễ này thường được tổ chức nhiều lần trong một năm vào các dịp lễ tiết, thường là tại các lễ hội đền thánh, phủ mẫu... Ngoài việc lên đồng để giao tiếp với thần linh, truyền thống tín ngưỡng Việt Nam còn tin tưởng rằng sau khi chết, linh hồn người chết vẫn còn và theo dõi cuộc sống của người thân đang sống. Do đó, khi lên đồng, linh hồn của người chết có thể nhập vào đồng cô, đồng cậu (người gọi đồng) để trò chuyện với thân nhân đang sống. Thông qua cuộc trò chuyện âm-dương này, người sống sẽ biết được những yêu cầu của người thân quá cố về mỗ mả để điều chỉnh và cúng xin cho phù hợp. Đồng thời, thông qua cuộc đối thoại này, người sống cũng biết được vận mạng tương lai của mình.
Tại Việt Nam hiện nay, hoạt động lên đồng bị chính quyền xem là hoạt động mê tín dị đoan do nhiều trường hợp việc lên đồng đã bị nhiều người lợi dụng vào mục đích xấu. Tuy nhiên, nhiều hội thảo khoa học nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian Việt Nam, trong đó có lên đồng đã được tổ chức, nhiều ấn phẩm của các học giả đã được xuất bản.
Đạo Mẫu là một tín ngưỡng dân gian Việt Nam thờ các nữ thần (thường gọi là các Thánh Mẫu). Đạo Mẫu là một phần quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian và bản sắc dân tộc của Việt Nam. Đạo Mẫu được thờ tại các đền, phủ. Ở miền Bắc Việt Nam, hầu hết các chùa cũng có bàn thờ Mẫu (Tiền Phật, hậu Mẫu).
Nguồn gốc lịch sử của đạo Mẫu không được ghi lại rõ ràng trong sách vở. Có người cho rằng nó có nguồn gốc từ thời tiền sử, khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh này được kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu hay Nữ thần Mẹ. Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng để bao hàm cả các nữ anh hùng trong dân gian - những người phụ nữ có thật nổi lên trong lịch sử với vai trò người bảo hộ hoặc trị bệnh. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ, và cuối cùng được thần thánh hóa để thành một trong các hiện thân của Thánh Mẫu.
Ngô Đức Thịnh [1] phân chia sự phát triển của đạo Mẫu thành các giai đoạn:
Thờ các nữ thần thiên nhiên riêng biệt. Các nữ thần này là các tinh thần thiên nhiên và không có đặc điểm của con người, đặc biệt là đặc điểm của người mẹ.
Thờ các Thánh Mẫu. Các nữ thần này đã có đặc điểm của người mẹ. Ví dụ Mẹ Âu Cơ, mẹ của dân tộc Việt.
Thờ Thánh Mẫu tam phủ-tứ phủ. 3 hay 4 "Phủ" ở đây không phải là số đơn vị xây dựng như "đền", "phủ", mà là
3 hay 4 thành tố của vũ trụ: Trời (Thiên phủ), Đất (Địa phủ), Nước (Thủy phủ), Núi rừng (Nhạc phủ).
Các vị thần trong đạo Mẫu phản ánh các phẩm chất của một người Mẹ vừa thần thánh lại vừa con người. Đạo Mẫu không chú trọng vào cuộc sống sau khi chết, nó quan tâm đến cuộc sống hiện tại và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc và đầy đủ trên trần gian.
Điều đó thể hiện trong các cầu nguyện và kinh lễ. Các bài kinh lễ là các bài hát về nhiều điều mà người ta mong muốn trong cuộc sống hàng ngày: thời tiết tốt cho mùa màng, sức khỏe cho mọi người, hạnh phúc, tiền tài, v.v.. Nội dung của các bài kinh lễ đơn giản và dễ hiểu, điều này rất khác so với nội dung kinh lễ các tôn giáo khác như Phật giáo hay Kitô giáo.
Đạo Mẫu có các nghi lễ tổ chức theo Âm lịch với các tín đồ và nhiều người đi lễ tham gia. Các nghi thức hành lễ không được đào tạo chính thức mà chủ yếu được truyền khẩu từ đời này qua đời khác. Nghi lễ phổ biến nhất là lên đồng (hay còn gọi là hầu bóng). Trong nghi lễ này, người ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, linh hồn này được vời đến để nghe lời cầu nguyện của người đi lễ. Trong các nghi lễ, phụ nữ thường đóng vai trò chính, người lên đồng cũng thường là phụ nữ (bà đồng), đôi khi mới do nam giới đảm nhận (ông đồng).
Các giá đồng (các điệu múa linh thiêng) là một phần quan trọng của nghi lễ. Có 72 giá đồng, bao gồm giá các quan lớn, giá các cậu, giá chầu bà, giá các cô,... Trong buổi lễ, các giá đồng được biểu diễn cùng với hát văn (hay chầu văn). Hát văn là một thể loại hát nói (vừa hát vừa nói). Hát văn do người đồng biểu diễn cùng với dàn nhạc cung văn. Người ta nói rằng, chầu văn tạo nên một khung cảnh và âm nhạc tâm linh để giúp cho người đồng nhập vào vai mới và gắn kết với những con người và nơi chốn ở bên ngoài thế giới địa phương của họ.
Đạo Mẫu có hai dịp lễ hội quan trọng: "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ", kỷ niệm ngày mất của Đức thánh Trần (Cha) và Liễu Hạnh Công chúa (Mẹ). Ngoài ra, người đi lễ có thể đến các phủ đền vào các ngày mùng Một hoặc ngày Rằm (âm lịch) hàng tháng, dâng đồ cúng lễ để tạ ơn và cầu khấn.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh được cho là công chúa của Ngọc Hoàng Thượng đế, do lỡ tay làm vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần làm con gái nhà họ Lê (ở nơi ngày nay thuộc tỉnh Nam Định) vào năm 1557. Dưới trần, bà có cuộc sống ngắn ngủi, lấy chồng và sinh con năm 18 tuổi và chết năm 21 tuổi. Do bà yêu cuộc sống trần tục nên Ngọc Hoàng cho bà tái sinh lần nữa. Trong kiếp mới, bà du ngoạn khắp đất nước, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên, gặp gỡ nhiều người. Bà thực hiện nhiều phép mầu, giúp dân chống quân xâm lược. Bà trở thành một lãnh tụ của nhân dân và thậm chí bà còn tranh đấu với vua chúa. Do đức hạnh của bà, nhân dân đã lập đền thờ bà (Đền Sòng tỉnh Thanh Hóa). Bà đã được thánh hóa và trở thành một vị Thánh Mẫu quan trọng nhất và một hình ảnh mẫu mực cho phụ nữ Việt Nam.
Cho dù cuộc đời của bà được giải nghĩa theo cách nào, Liễu Hạnh đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh của phụ nữ. Bà tách mình ra khỏi Khổng giáo với quan niệm trọng nam khinh nữ. Bà nhấn mạnh vào hạnh phúc, quyền tự do đi lại và độc lập tư tưởng. Vừa được kính sợ vừa được yêu mến, các nguyên tắc của bà về trừng phạt kẻ xấu và ban thưởng người tốt cũng đã gửi một thông điệp về sự bảo vệ và hy vọng vào công bằng xã hội cho nhân dân trong thời loạn lạc của các thế kỷ 17-19. Vừa là thần tiên vừa là người (con gái, vợ, mẹ), Liễu Hạnh chia sẻ vui buồn với những người trần tục. Bà được coi là vị thần cảm thông và độ lượng nhất. Bà trở thành một trong các vị thần của Đạo Mẫu và nhanh chóng được nâng lên vị trí quan trọng nhất, cai trị các vị thần ở dưới và thế giới con người.
Trong các đền thờ của Đạo Mẫu có nhiều vị thần được sắp xếp theo các thứ bậc. Đầu tiên là Ngọc Hoàng. Đây là vị thần tối cao và được đặt ở vị trí danh dự, nhưng lại ít được thờ cúng. Vị thần cao nhất của Đạo Mẫu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Các vị khác được đặt tại các ban thờ tam phủ hoặc tứ phủ, Ngũ Vị Thánh Bà , Tứ Phủ Chầu Bà , Ngũ Vị Hoàng Tử Thượng Thiên , Lục Phủ Tôn Ông , Thập Vị Triều Hoàng hay Thập Vị Thủy Tế , Thập Nhị Triều Cô, Thập Nhị Triều Cậu, Quan Ngũ Hổ, và Ông Lốt .
Giải thích về sự có mặt của cả nam thần lẫn nữ thần trong các vị thần của Đạo Mẫu, các nhà nghiên cứu [2]đã đưa ra giả thuyết rằng: Do xã hội Việt Nam cổ xưa theo chế độ mẫu hệ, nên phụ nữ có vị thế quan trọng trong xã hội. Tuy nhiên, người phụ nữ chỉ có được quyền lực khi họ đã kết hôn. Do đó, nam giới cũng được xem là có vai trò quan trọng trong cuộc sống, và họ cũng được thờ cúng.
manutd
04-18-2007, 07:21 PM
Hát văn, còn gọi là chầu văn hay hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc trong nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Thời kỳ thịnh vượng nhất của hát văn là cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20. Vào thời gian này, thường có các cuộc thi hát để chọn người hát cung văn. Từ năm 1954, hát văn dần dần mai một vì hầu đồng bị cấm do bị coi là mê tín dị đoan. Đến đầu những năm 1990, hát văn lại có cơ hội phát triển. Các trung tâm của hát văn là Nam Định và một số vùng quanh Hà Nội.
Hát văn có hai loại là hát thờ và hát lên đồng:
Hát thờ: được hát trước ngày tiệc, đầu rằm, mồng một, ngày tất niên và hát trước khi vào các giá văn lên đồng.
Hát lên đồng, hay còn gọi là hát hầu bóng: người theo tín ngưỡng chỉ được hầu bóng từ hàng dưới các đức thánh mẫu quyền uy trong Tứ phủ công đồng, đó là hệ thống chầu các quan hoàng trở xuống.
Hầu đồng là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh Tứ Phủ vào thân xác ông Đồng bà Cốt. Trong nghi lễ đó, hát vǎn phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh. Sau khi đã múa các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác về gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc nầy cũng là lúc thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước v.v. Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cương (khai quang) cho thanh sạch.
Đàn nhạc hầu bóng gồm có một đàn nguyệt, một đàn nhị, một sáo, một trống lớn, một trống nhỏ, một cảnh đôi, một phách. Tùy từng địa phương, tùy hoàn cảnh hành lễ mà người ta có thể thêm bớt nhạc cụ này hoặc nhạc cụ khác. Nhưng đàn nguyệt, trống nhỏ, cảnh đôi là các nhạc cụ nòng cốt, nhạc cụ tính cách của dàn nhạc nên không thể thiếu được.
Về tiết tấu, hát văn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách). Loại nhịp này mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe, đưa người nghe vào trạng thái mông lung, huyền ảo.
Hát văn có 13 điệu, hay còn gọi là lối hát. Đó là: Bỉ, Miễu, Thổng, Phú Bình, Phú Chênh, Phú Nói, Phú Rầu, Đưa Thơ, Vãn, Dọc, Cờn, Hãm và Dồn.
Bỉ mang sắc thái trịnh trọng, được dùng để hát trước khi chính thức vào một bản văn thờ hoặc văn thi. Có 2 cách hát: Bỉ 4 câu và Bỉ 8 câu. Bỉ được lấy theo dây lệch, nhịp theo lối dồn phách.
Miễu là lối hát rất nghiêm trang, đĩnh đạc, chỉ được dùng trong hát thi và hát thờ, tuyệt nhiên không bao giờ được dùng trong Hầu Bóng. Miễu được lấy theo dây lệch, nhịp đôi.
Thổng chỉ giành riêng cho văn thờ và văn thi, được lấy theo dây bằng, nhịp ba.
Phú Bình dành riêng cho hát văn thờ, rất đĩnh đạc, và dùng để hát ca ngợi các nam thần. Phú Bình được lấy theo dây lệch, nhịp 3.
Phú Chênh là lối hát buồn, thường dùng để hát trong những cảnh chia ly. Được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
Phú nói thường dùng để mô tả cảnh hai người gặp gỡ, nói chuyện với nhau. Dùng trong hát văn thờ, văn thi và cả trong hầu bóng. Lấy theo dây bằng, nhịp ba hoặc không có nhịp mà chỉ dồn phách.
Phú rầu là lối hát rất buồn, được lấy theo dây bằng nhưng hát theo nhịp đôi.
Đưa thơ được lấy theo dây bằng, nhịp 3 và dồn phách, nhưng chủ yếu là dồn phách.
Vãn lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất lục bát, hát theo lối vay trả (vay của câu trước thì trả lại trong câu sau).
Dọc lấy theo dây bằng, nhịp đôi, hát theo lối song thất - lục bát và hát theo nguyên tắc vay trả. Nếu hát từng câu thì gọi là nhất cú. Nếu hát liền hai câu song thất - lục bát thì gọi là "Dọc gối hạc" hay "Dọc nhị cú".
Cờn dùng để ca ngợi sắc đẹp các vị nữ thần. Cờn được lấy theo dây lệch, nhịp đôi. Có thể hát theo dây bằng, nhưng hầu hết là hát kiểu dây lệch (biến hóa).
Hãm lấy theo dây bằng, nhịp đôi, đây là lối hát rất khó vì phải hát liền song thất lục bát. Trong lối hát này có một tuyệt chiêu là Hạ Tứ Tự, có nghĩa là mượn bốn chữ của trổ sau, khi sang một trổ mới thì lại trả lại bốn chữ ấy.
Dồn được lấy theo dây bằng, nhịp 3.
manutd
04-18-2007, 07:24 PM
Hầu đồng dưới góc nhìn văn hóa
Hầu bóng thực chất là một trong những tín ngưỡng văn hóa có từ lâu đời liên quan đến tục thờ Mẫu của người Việt cổ. Nhưng từ một hoạt động văn hóa tín ngưỡng các thầy đồng đã biến thành một thứ công cụ để trục lợi đám người nhẹ dạ cả tin...
Hành trình của những cung văn
Khó khăn lắm tôi mới liên lạc được với anh C.H, một cung văn có tiếng trong khu văn công Mai Dịch. Thời gian này anh chủ yếu đi “làm đám”. Hiện nay nhiều người đã không coi hầu đồng như một hình thức mê tín dị đoan nữa mà như một hoạt động văn hóa tín ngưỡng. Anh H bảo: “Trước kia có đi cung văn ở đâu cũng phải ngó trước ngó sau. Giờ thoải mái hơn, nghề này kiếm ra tiền đấy”.
Thực ra người đầu tiên cố tìm cách cho “giới đồng bóng” được phép hoạt động chính là ông Trang Công Thịnh, giờ là chủ đền Dâu phố Hàng Nón, nơi hầu bóng sang trọng nhất bây giờ. Những năm 80 - 90, ông Thịnh đã đi nhiều cơ quan có thẩm quyền cố chứng minh nghề của mình không phải mê tín dị đoan, chỉ là tín ngưỡng văn hóa dân gian mà thôi.
Một năm có hai khóa hầu- khóa mùa xuân bắt đầu từ tháng giêng, khóa mùa thu từ tháng 10, đám cung văn hầu như không ngày nào rỗi việc. Có ngày phải chạy sô như ca sĩ nhạc trẻ, hết điện nọ điện kia. Đấy mới chỉ là trong thành phố, rất nhiều đám có điều kiện kinh tế mời lên các đền nổi tiếng như đền Xích Đằng ở Ninh Giang – Hưng Yên thờ quan đệ ngũ Tuần Tranh; công đồng Bác Lệ thờ chầu Lục, đền Bảo Lạc thờ chầu đệ nhị, Cam Đường, Đồng Mỏ, phủ Giầy… nơi những con nhang đệ tử thường lui tới.
Hầu bóng và những điểm nhìn ngoài tín ngưỡng
Hầu bóng thực chất là một trong những tín ngưỡng văn hóa có từ lâu đời liên quan đến tục thờ Mẫu của người Việt cổ. Người Việt quan niệm có bốn thế giới tồn tại: trên trời (Thiên Phủ); dưới đất (Địa Phủ); dưới nước (Thoải Phủ); trên rừng (Nhạc Phủ). Mỗi thế giới đều do một người đàn bà cai quản gọi là các Mẫu, các mẫu đều không có tên, duy mẫu Liễu Hạnh là mẫu Thượng Thiên danh tính đầy đủ.
Dưới các Mẫu có các Chầu, các quan, các ông, các cô, cậu bé, cô bé, mỗi người chuyên trách một công việc. Vì vậy ai muốn xin chuyện gì thì chỉ việc dâng lộc lên các giá đó và xin lộc. Nếu có lộc ban chứng tỏ điều mình muốn đã được các thánh chứng. Thực chất hầu bóng là một hình thức diễn xướng tâm linh, một nghi thức nhập đồng làm cho con người rơi vào trạng thái thôi miên, thuật ngữ dân tộc học gọi là Sa man.
Giải thích chuyện có thế giới siêu nhiên, thế giới đồng cốt nào đó nhập vào người hay không thì khó nhưng theo anh H.: rõ ràng những người đi hầu hay tham dự một vấn hầu đều có cảm giác hưng phấn chung, dễ quên đi mọi thứ. Có những người nước ngoài không biết gì về tiếng Việt, văn hóa Việt, nhưng khi tham dự một vấn hầu đều có những cảm xúc chung với người Việt vốn kỳ cựu trong nghề hầu bóng. Phân tích kỹ, bản thân âm nhạc Hát Văn với tiết tấu nhịp 7, nhịp 3 sôi nổi, nhanh cũng dễ tạo hưng phấn, tương tự đi dự một nhạc hội về Rock chẳng hạn.
Các thầy đồng lúc khởi nghiệp chẳng có gì, đến khi vào nghề bao giờ cũng có một đám con nhang đệ tử theo hầu, kéo theo những nhu cầu về vật chất cho các thầy. Có thầy chỉ nhờ đám con nhang đệ tử thôi mà đủ tiền xây cả một điện thờ nguy nga.
Chính từ những điện thờ này đã nảy sinh vô vàn hành vi mê tín. Nhiều người bỏ nhà bỏ cửa, tiền mất tật mang từ những sự cả tin thái quá trên. Vậy là đang từ một hoạt động văn hóa tín ngưỡng các thầy đồng đã biến thành một thứ công cụ để trục lợi đám người nhẹ dạ cả tin. Cho nên đã xảy ra không thiếu câu chuyện nực cười từ những vấn hầu.
Những điều mắt thấy tai nghe ở một vấn hầu
Theo chân anh C.H, chúng tôi đến một điện thờ trên phố Tôn Đức Thắng, đồng hôm nay là một chủ khách sạn, tầng trên cùng làm luôn điện thờ. Có hôm mấy ông Tây mũi lõ cũng lên sì sụp khấn vái, chờ đến giá cô đôi cũng hò hét rung tít đùi lên. Anh H bảo tôi làm đúng lễ nói qua với gia chủ, tất nhiên anh nói hộ tôi chứ mình là người ngoại ngành chẳng biết nói thế nào.
Sau khi để tờ một trăm ngàn lên đĩa, anh H bảo: “Có đứa cháu thích xem cái này lắm, nên có “giọt giầu” xin gia chủ cho ngồi xem vấn hôm nay”. Cô đồng vui vẻ nhận lễ rồi bẹo má tôi bảo: “Em cứ ngồi gần đây rồi lát nữa xin lộc thánh”. Tiếng nhạc réo rắt, tiếng trống xập xình nổi lên, đám con nhang đệ tử hết lượt này lượt nọ dâng lộc, vàng mã đốt ngút khói.
Mấy bà bên cạnh rỉ tai nhau, riêng tiền vàng mã đã mất vài triệu rồi đấy. Đến giá quan đệ tam, quan ngồi bắt chân trên ghế giáng rồi phán: “Hôm nay ta chứng giám cho tấm lòng thành của tín chủ họ Nguyễn nhé, trên ta làm việc thánh, dưới gánh việc trần, ta mà giàu có ta cho các ngươi vui vẻ trẻ đẹp”. Chẳng lẽ làm quan rồi mà cũng nghèo ư?
Đám cung văn nhìn nhau tủm tỉm. Có lẽ câu phán của quan vừa rồi ngộ nghĩnh quá, thế mà đám con nhang đệ tử dưới kia vẫn cứ sụp xuống lạy. Ra về với túi lộc nặng chịch, tôi hỏi anh H. Đồng giáng thật hay giả? Anh bảo: “Làm gì có thật”. Rồi anh kể cho tôi những chuyện nực cười như chuyện: Thánh giáng phát lộc sợ kẹp díp tiền nhấm nước bọt mà đếm, hay là chuyện đồng hứng lên nhảy lên cả bàn thờ gia chủ hò hét.
Đó là những chuyện thường. Có cả những thứ đồng gọi là đồng “nặc nô”, khi hầu chỉ biết ném quả trêu nhau. Có lần anh H đi hầu mà bị “cô đôi thượng ngàn” ném cho cả một quả xoài vào đàn, long hết cả phím. Đi với đám đồng “nặc nô” hay hỗn nên anh H. không mấy đi.
Thay cho lời kết
Một thực tế không thể phủ nhận: càng ngày hầu bóng càng nhiều trong đời sống văn hóa xã hội. Đến nỗi ở nhiều làng quê, không có tiền mời cung văn người ta phải bật băng có thu 36 giá đồng lên để hầu. Còn trong các đoàn nghệ thuật cổ truyền gần đây thường đưa thêm tiết mục “3 giá đồng vào” cuối các chương trình biểu diễn.
Người xem luôn cảm thấy hứng thú, và đôi khi đó chính là một tiết mục để nhiều dư vị nhất, nếu không thuộc phạm vi thưởng thức chuyên môn. Có lẽ bên cạnh những ý nghĩa văn hóa cổ truyền của chuyện hầu bóng, mọi người cũng nên nhìn nhận thêm một khía cạnh giải tỏa stress của nó, trong cuộc sống hàng ngày vốn nhiều bức xúc.
manutd
04-18-2007, 07:25 PM
Hầu đồng ở Hà thành
Gã trai galăng và sành điệu có tên Vinh, là viên chức một ngành bảo vệ pháp luật. Đi xe phân khối lớn, tiêu tiền ngoại, uống rượu tây, biết sát phạt làm vui... hắn cũng đã tốt nghiệp đại học ở Australia, thường xem phim kinh điển, hát nhạc quốc tế và là một cán bộ trẻ có năng lực. Tóm lại, Vinh rất đời, thậm chí ''hơi bị'' văn minh thời thượng. Và sẽ không có gì đáng nói về Vinh nếu như...
Không có một ngày chứng kiến Vinh lên điện hầu đồng ở phố Hàng Quạt. Đây là điện thờ của ông Thạnh, một chủ nhang (người mở điện) có dinh cơ (điện) đồ sộ và thanh thế nhất Hà Nội và cũng có thể là nhất nước hiện nay.
Một ''dàn nhạc sống'' gọi là đoàn cung văn gồm ba người đàn ông và một người phụ nữ phục vụ cuồng nhiệt và bền bỉ cho buổi lễ. Con nhang (những người theo thế giới đồng cốt) ngồi vây quanh điện với đủ mọi bộ dạng, lứa tuổi. Những ông to béo, complê đĩnh đạc lẫn tay thanh niên tóc nhuộm đỏ và vài gương mặt cô hồn như bọn tội phạm, cùng thành kính, nghiêm cẩn bên những bà già nhai trầu và mấy cô mắt xanh, môi đỏ...
Vinh mặc bộ đồ lụa trắng toát, lóng lánh, tóc chải bóng mượt, mắt môi xanh đỏ, tay đeo găng, chân đi tất cũng trắng muốt.Vinh ngồi khoanh tròn trước điện, mặt hơi ngửa, hếch mũi nhìn rất khoan thai, tự mãn, ánh mắt lạc thần như nhìn vào khoảng không vô tận. Bốn người hầu dân quỳ bốn góc thảm làm nhiệm vụ chăm lo khăn áo mũ giày... cho Vinh.
Tiếng trống phách đổ dồn, giọng hát hầu ẽo uột dồn chặt gian phòng. Hương nhang nghi ngút cháy. Các con nhang thi nhau vái, lầm rầm khấn khứa.Vinh khoác lên người chiếc áo choàng đỏ tươi thêu hình rồng sau lưng. Bốn hầu dâng thoăn thoắt và nhịp nhàng mặc áo, đeo găng, cài trâm, phủ khăn cho Vinh (lúc này đã phải gọi là cô, vì căn (cái gốc ở cõi âm) của Vinh là do một công chúa đời Trần - một trong những người mà thế giới đồng cốt thờ - nắm giữ). Trong vòng 20 phút với sự giúp đỡ của những người xung quanh, Vinh đã thành một mệnh quan triều đình. Mũ áo cân đai oai vệ, trùm khăn đỏ kín mặt. Mõ, trống, chuông khua dồn dập.Cô đang ngồi lắc lư như say sóng, bất ngờ hất tung khăn trùm đầu. Hầu dâng vươn người đỡ rất điệu nghệ. Cô lại vỗ gối đánh bộp rồi đứng vụt dậy, đón vũ khí từ tay hầu dâng chống nạnh múa tiến lui, phải trái. Mặt cô hồng rực, mắt long lanh nhìn thẳng và không trọng tâm, mũi hếch, miệng hé cười, trông khác hẳn... người trần. Bỏ vũ khí, cô kẹp tám nén nhang rừng rực cháy vão kẽ ngón tay múa tiếp. Múa may chừng 10 phút trong tiếng ca riết róng của cung văn ù đặc màng nhĩ thì cô ngồi. Vậy là hết một giá hầu trong 12 giá của một vấn hầu.
Đám hầu dâng thỉnh thoảng đưa nước, rượu, thuốc cho cô thưởng thức. Sau mỗi vấn hầu, cô lại rút tiền từ ngăn kéo trước mặt từng tờ 50.000, 20.000 đồng kẹp vào kẽ ngón tay ném ra ngoài. Hầu dâng nhặt lấy thả vào cái chuông làm bằng đuôi quả bom cho cung văn. Cũng sau mỗi giá hầu, lại có người đem những mâm đầy lễ vật chia đều cho tất cả mọi con nhang có mặt gọi là tán lộc. Liên tục những con nhang lê đầu gối đến gần bỏ tiền (từ 100.000 đồng trở lên) vào một chiếc đĩa, cúi đầu dâng lên cô và ghé tai cô xin những ham vọng cụ thể nào đó dưới trần. Cô nhận lời, lục tiền lẻ trả con nhang đó một ít rồi quay sang người khác.
Vấn hầu kéo dài năm giờ. Cung văn không ngừng hát, Vinh uống hết hai chai rượu, hút hết hai bao thuốc và liên tục nhảy múa. Các bà già 70, 80 tuổi ngồi phục vụ cả buổi đều khỏe mạnh và hoạt bát như thường... Đó là một buổi hầu thành công vì không xảy ra rơi khăn, vỡ chén, tắt nhang hương; cung văn hát trôi chảy và hồn cô Bơ (một công chúa đời Trần) đã nhập vào người hầu... Các con nhang nói, hầu bóng là làm lễ tế vị thần mà mình mang căn của họ, để xin họ xá tội, giải tai ương, ban phúc lộc.
Ra khỏi điện, Vinh lại vít ga xe lên bảy tám mươi, bó vỉa ba toa, lao đến phòng bia máy lạnh, trán nhăn theo cao độ một giai điệu của Madonna bốc lửa... Có nghĩa là hắn lại phàm tục hết mình. Vinh bảo: Thế giới này ai cũng có thể là con nhang.
Loang lổ âm dương
Nếu xét đơn thuần là một hình thức văn hoá thì hầu bóng ở Hà Nội khá hổ lốn và pha tạp. Từ con nhang, chủ điện đến người hầu đều tâm niệm và sùng tín những cô, cậu cách đây hàng mấy trăm năm nhưng trong lễ hầu họ lại mời cô, cậu hút thuốc 555, xì gà; uống bia lon, ăn ô mai... những sản phẩm của thời nay. Trong vấn hầu, người quan trọng thứ hai là hầu dâng, tất cả mọi cử chỉ đều cúi đầu dâng, đỡ rất thành kính nhưng anh ta vẫn đeo điện thoại di động bên người và thỉnh thoảng cúi xuống gầm điện vừa nói, vừa cười rất tự nhiên.
Đặc biệt, lời hát của đám cung văn thì pha thêm những kiểu nhạc, khúc đoạn lời lẽ khác nhau theo ý thích. Trang trí trong điện cũng vậy.
Các con nhang khẳng định 90% những gã đàn ông làm chủ điện, cung văn hay hầu dâng đều hoá thành đồng cô (người có đồng nhưng mang căn cô, chỉ người nam giới mang nữ tính). Đồng cô làm hầu dâng mỗi ngày chạy sô 3-4 vấn hầu thì đời sống thật sự sung túc. Bởi mỗi vấn hầu thường mang về 500.000 đến vài triệu đồng. Đồng cô thường tập trung thành từng nhóm, cặp nhau thành từng đôi sống như tình nhân. Họ chí choé, cấu véo nhau ngay trước điện mà không hề ngại. Sở thích là đeo trang sức và đánh bài ăn tiền, chấm hết.
Giới đồng cô còn có một nguồn thu khác là buôn nhẫn ngọc bán cho các con nhang là những bà quý tộc hâm mộ họ. Không ít các đồng cô cấu kết với các hiệu vàng, các đường dây buôn đá quý để làm ăn. Tất nhiên các con nhang là khách hàng thường rất nhiều tiền và không bao giờ dám thử xem nhẫn thật hay giả, đắt hay rẻ. Vì thế có con nhang đã phải bỏ ra 20 triệu mua nhẫn ngọc bằng... nhựa mà không dám báo công an.
Trong số những người làm cung văn cho đồng đền bây giờ có rất nhiều nghệ sỹ của các nhà hát chèo, tuồng trung ương. Tiên phong trong giới nghệ sỹ đi hát hầu là X.H. Bắt đầu từ cách đây hàng chục năm và anh cũng đổi đời, nhà cao cửa rộng. Giá một vấn hầu cao nhất của X.H nghe đồn đã từng lên đến 30 triệu đồng. Nay các nghệ sỹ khác theo chân anh rất nhiều.
Lời kết
Không bàn đến việc hầu bóng, lên đồng có nguồn gốc từ đâu, có mê tín, phạm pháp hay không và nó có vai trò gì trong đời sống văn hoá tâm linh. Nhưng thế giới nào cũng vậy, trần tục hay tâm linh đều phải có tôn chỉ, phép tắc, giới hạn... không thể âm dương, loang lổ, pha trộn như thế.
manutd
04-18-2007, 07:28 PM
Công ty đồng cốt
Gần đây, cả ở thành thị lẫn vùng nông thôn xuất hiện rất nhiều những ngôi nhà có kiến trúc kiểu đền phủ, điện thờ. Ở những nơi này người ta cầu cúng, hương khói nghi ngút, nến cháy đỏ ngày, đôi khi có cả hát chầu văn, hầu đồng bóng... Điều gì đang xảy ra bên trong đấy?
Dựng phủ đón lộc!
Nhà giàu thì xây hẳn phủ hai, ba tầng, còn người nghèo thì đơn giản chỉ là một mái tum hay một góc nào đó trong nhà. Chúng tôi có mặt trong phủ của gia đình bà Vũ Thị S. ở ngõ 16, phố Võ Thị Sáu (Hà Nội). Phủ của nhà bà khá nổi tiếng bởi sự bề thế của một ngôi nhà hai tầng kiểu cách trông ra mặt hồ. Trên tầng hai, phủ chính, gồm ba gian: gian giữa đặt bàn thờ mẫu, hai bên là ban thờ Phật và thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Nếu như có thêm bàn thờ ông Văn Xương nữa có lẽ nhiều người sẽ nhầm là mình đang ở đền Ngọc Sơn.
Anh Phạm Anh T., con trai bà S., cho biết gia đình dựng phủ vào năm 2000, tốn kém trên 200 triệu đồng. Tính riêng tiền mua tượng, đồ thờ đã chiếm phân nửa số đó. Gia đình đã xuống tận Sơn Đồng (Hoài Đức-Hà Tây) đặt 20 tượng lớn nhỏ, tượng lớn nhất giá 8 triệu đồng, nhỏ nhất 2 triệu. Chưa kể mỗi bức tượng trung bình còn phải dát hết khoảng hai chỉ vàng đánh thành quì.
“Xây được phủ to như thế này nên mấy năm nay gia đình tôi mới có thêm nhiều lộc” - anh Phạm Anh T. hồn nhiên nói. Có lẽ anh rất tin vào những điều như thế bởi gia đình buôn bán ở chợ H. Anh cũng cho biết thường thì những người buôn bán, kinh doanh đều có “đức tin” như thế và thường xuyên đi đền, đi phủ. Việc làm ăn quá bận rộn và do vậy để tiết kiệm thời gian, họ “rước” cả phủ về nhà mình thờ cúng.
Trong cả ngàn ngôi phủ, đền ở Hà Nội thì không phải ai cũng có mục đích như vậy. Một số người đã biến tín ngưỡng này thành mê tín dị đoan hay những trò nhảm nhí. Chúng tôi đã có mặt trong một buổi hầu đồng ở điện thờ của một người đàn ông tên là Thạch, có dinh cơ (phủ) đồ sộ và thanh thế nhất nhì Hà Nội.
Cô đồng là một chàng thanh niên khoảng 26, 27 tuổi khoác lên người chiếc áo đỏ thêu hình rồng sau lưng, mũ áo, cân đai oai vệ, trùm khăn đỏ kín mặt, ngồi lắc lư như say sóng. Bất ngờ cô hất tung khăn trùm đầu, đứng lên ngồi xuống liên tục, đón vũ khí từ tay hầu dâng múa tiến múa lui...
Các con nhang đã bắt đầu xì xào “Thánh nhập rồi đấy” và cùng nhau xá lấy xá để. Cô rút tiền từ trong ngăn kéo trước mặt rặt những tờ 20.000đ, 50.000đ kẹp vào kẽ ngón tay ném ra ngoài cho hầu nhặt bỏ vào một cái chuông cho cung văn. Liên tục những con nhang (hương) lê đầu gối đến gần bỏ thêm tiền vào một chiếc đĩa rặt những tờ 50.000đ, cúi đầu dâng lên cô và ghé tai xin cô những ham muốn cụ thể nào đó. Cô nhận lời, lục tiền lẻ trả lại một ít cho con nhang này rồi quay sang con nhang khác.
Các con nhang thuộc rất nhiều thành phần trong xã hội, từ anh nông dân suốt ngày cắm mặt xuống đất, cô hàng xén buôn bán ở chợ, cho đến vợ của những ông công chức ngồi phòng máy lạnh. Họ có chung niềm tin vào lộc của thánh, của mẫu... Không biết các thánh cho họ được những gì nhưng mỗi lần hầu bóng như vậy ngốn mất của họ khá nhiều tiền bạc. Lần hầu bóng trên đây mỗi giá hầu mà các con hương muốn xin với cô một ước muốn gì đó đều phải bỏ ra trên 50.000đ làm lễ (ở các vùng nông thôn thì 10.000đ, 20.000đ). Tuy nhiên, mỗi vấn lại gồm 12 giá, nếu như theo hầu hết tất cả các giá thì đây là số tiền không hề nhỏ chút nào.
“Công nghệ” mồi chài
Trong thế giới của thầy bói tồn tại một “công nghệ” môi giới dựng phủ mà nhiều người vẫn gọi là những “công ty đồng cốt”. Đối tượng khách hàng mà những “công ty” này nhắm đến đầu tiên là những người nhẹ dạ cả tin thường đến xem bói ở phủ của thầy, cô. Với đối tượng này, thầy, cô không tốn nhiều công sức, chỉ cần phán theo kiểu như gia đình sắp có đại họa, mất người hại của, nếu như thường xuyên mang lễ đến nhờ thầy hay nếu như gia đình có điều kiện thì thầy sẽ đến dựng phủ cho, ngày nào cũng nhang khói thì mọi tai ương đều qua khỏi...
Đương nhiên là hoạt động của những “công ty đồng cốt” này chưa dừng lại ở đây. Công ty có hẳn những đường dây do một vài người chuyên đi gạ gẫm, mồi chài, len lỏi đâu đó ở các chợ, làng, khu phố... Đối tượng ưu tiên của những “nhân viên tiếp thị” này là những người buôn bán nhỏ, những công chức, thậm chí là quan chức.
Với vùng nông thôn, hầu bóng chỉ xảy ra vào những ngày rằm và lễ trong tháng, còn ở thành thị thường diễn ra đều đặn vào ngày cuối tuần. Những người ở xa, không điêu kiện có đến phủ của các thầy, thì thầy dựng phủ cho để có chỗ nhang khói hằng ngày, thường là với mức giá chung khoảng trên dưới 2 triệu đồng.
Những phủ này vẫn phải lệ thuộc vào phủ của thầy, gọi là “phủ con”, ngày đại lễ phải mang đồ lễ đến “phủ lớn” để dâng tạ hay cũng có thể “nhờ” thầy đến làm lễ tại phủ. Nếu như xem phủ lớn là một “công ty” thì phủ con tựa như một chi nhánh, cũng có thể nhận “con hương” cho thầy bằng việc đặt bát hương ở phủ con...
Những ngày lễ lớn, đại rằm “phủ con” cùng con hương của mình vẫn phải đến hầu thầy ở “phủ lớn”. Chính vì thế mà các “công ty đồng cốt” có rất nhiều khách hàng nên họ làm ăn khá phát đạt. Thầy, cô nào sau vài năm hành nghề cũng xây được những ngôi nhà khang trang, bề thế với nhiều tiện nghi và phương tiện đắt tiền. Mà không giàu làm sao được khi mỗi vấn hầu mang vê vài trăm ngàn cho đến bạc triệu. Hơn nữa, mỗi ngày các cô có thể chạy sô từ 3 - 4 vấn hầu.
Hỏi chuyện cô đồng
Chúng tôi tìm về xã Nhân Thắng (Gia Bình, Bắc Ninh) để tìm hiểu dư luận ở địa phương lên án việc hai “cô” đồng Vũ Thị Sảnh và Vũ Thị Lan (Thuyên) lập phủ thờ mẫu, có hành nghề bói toán, chuyên đi gạ gẫm, mồi chài người địa phương làm con hương của phủ mình hoặc là dựng phủ.
Anh Nguyễn Văn T. bị chấn thương sọ não nên thần kinh có vấn đề, mỗi khi trái gió trở trời lại phát điên phát khùng, nhưng mẹ anh không cho đi bệnh viện vì “cô” Sảnh phán rằng bệnh này có bác trời chứ bác sĩ cũng không chữa được, chỉ có nước đến phủ “cô” nhang khói để “cô” tâu hộ với mẫu, mẫu tha thứ thì trăm phần trăm là khỏi. Thế là gia đình anh T. trở thành con hương. Một gia đình khác ở xã Phú Hòa (Lương Tài, Bắc Ninh) kiện “cô” Lan vì đã lợi dụng bà mẹ già của họ bỏ tiền ra để lập phủ.
Dư luận ở xã Nhân Thắng cho rằng “cô” Sảnh và “cô” Thuyên (Lan) có hẳn một đường dây đền phủ. Ông Nguyễn Trọng Niên, phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã, cho biết là các “cô” có cả một sạp hoa quả trên chợ Long Biên, đi buôn bán hoa quả đường dài vào tận trong miền Nam, có giúp nhiều người mở phủ, toàn là ở những địa phương khác. Chính “cô” Sảnh cũng mặc nhiên thừa nhận điều này khi chúng tôi hỏi cô việc mở phủ. “Cô” nói với chúng tôi là cô mệt vì mấy ngày nay luôn tất bật cùng các con hương, con phủ hầu bóng. Khi chúng tôi đến, trong phủ oang oang tiếng hát cô đồng đủ để từ đầu làng đến cuối làng nghe.
Nguyễn Thị Sảnh sinh năm 1967 tại thôn Cẩm Xá. Năm 1985 “cô” lấy chồng cùng xã, nhưng vì cô phát bệnh khớp nên bỏ chồng trở về nhà. Có một lần cô ra đường bị ngất, tưởng chết mang về nhà tỉnh lại, sau đó thì “cô” tự cho mình là “thánh cho lộc” rồi dựng phủ thờ cúng và xem bói cho người bằng cách nhìn khói của cây nhang. Công an xã Nhân Thắng cho biết “cô” có rất đông con hương, con phủ là người trong xã và ở các địa phương khác, nhiều nhất là khu vực cầu Hồ giáp ranh giữa ba huyện Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài (Bắc Ninh) và Gia Lâm (Hà Nội).
Còn “cô” Thuyên tên thật là Vũ Thị Lan, sinh năm 1955, hành nghề trước “cô” Sảnh, cũng tự xưng là “thánh cho lộc” rồi dựng đền lập phủ và xem bói. Cô xem bói bằng cách “xin” thánh cho quẻ, gieo đồng xu rồi nhằm mặt sắp, ngửa mà phán “lời vàng ý ngọc”. Có người không tin nhưng có người bảo đúng.
Không biết các “cô” đã “xin” được lộc cho những ai nhưng chỉ thấy các cô càng ngày càng phất lên. Như cô Sảnh, từ một gia đình làm nông nghiệp nghèo kiết xác bỗng chốc xây được nhà ba tầng khang trang đầy đủ tiện nghi, sắm được cả một chiếc ôtô du lịch, sống ở vùng thôn quê đã có điện thoại bàn nhưng “cô” còn xài cả điện thoại di động xịn. Nhiều người trong làng tỏ ra bất bình vì thủ đoạn kiếm tiền rôm rả, om sòm gây ảnh hưởng đến cuộc sống của họ. Họ đặt câu hỏi là tại sao “cô” Sảnh, “cô” Thuyên hành nghề như vậy, trong thời gian dài mà chính quyền lại để yên.
manutd
04-18-2007, 07:31 PM
3-6-2006 Tôi quyết định đi làm sau nhiều ngày suy nghĩ. Nếu ở nhà thêm thì tình trạng có khi cũng không cải thiện được mấy. Cứ thử đi làm xem có chịu được không. Mấy ngày đầu đi làm trở lại chưa quen nên mệt kinh khủng, mặc dù chẳng nặng nhọc mấy. Sáng thì một ông xe ôm ở gần nhà đưa đi. Chiều thì anh đến đón tôi về nhà chị Oanh tiêm, rồi đưa về nhà. Về nhà tôi chỉ có ăn và lăn ra ngủ đến sáng hôm sau luôn.
Chị Oanh và chị Hạnh bàn nhau làm một cãi lễ giải hạn cho tôi. Bố mẹ và tôi cũng không nghĩ đến vấn đề này. Nhưng có lẽ có bệnh thì vái tứ phưong. Thủ tục từ A đến Z chị Hạnh lo cho cả. Nhưng đúng là không biết có nên tin vào điều này không nữa. Một cái lễ cho tôi to vật vã, nào mũ áo, ngựa xe, đồ lễ. Một dàn âm thanh kèn trống và hát liên tục. Cô đồng cúng cho tôi từ sáng sớm đến tận chiều tối. Cả mẹ, già Thẩm, chị Hoà và anh đi cùng tôi. Cô đồng thay đến 60 bộ quẩn áo khác nhau, nhẩy múa tùm lum, hai bên là hai hầu đồng. Cái ông hát đồng cũng khoẻ, hát suốt từ sáng đến chiều mới nghỉ. Cô đồng giới thiệu là ở đoàn văn công Hà Nội. Hai hầu đồng đó bị ái, nó thích anh béo nhà tôi phát cuồng. Lúc nào thừa cơ là xấn đến, còn lợi dụng để sờ tay. Trông đến khiếp. Nó còn đưa số di động nhờ nếu có ai như nó thì giới thiệu hộ.
Cả ngày hôm đó tất cả được bữa đói meo và mệt rã rời. Và cũng không hiểu sao mình lại tham gia vào việc này nữa.
18-6 Đã làm việc được 2 tuần. Nhìn chung thì sức khoẻ cũng đỡ hơn mấy buổi đầu. Nhưng cảm giác chung vẫn là mệt, đau nhức toàn thân và khó chịu. Đấy là chưa phải làm công việc gì mang tính trách nhiệm, ai nhờ gì thì tôi giúp. Lớp bưu chính của tôi mọi người đang đi thực tế dưới cơ sở hết nên có mỗi mình tôi với các chị cũ.
Tôi đang kêu la đủ kiểu để xin được ngừng tiêm trước thời hạn, thỉnh thoảng lại khóc lóc thảm thiết để mọi người thương cảm. Chỉ có mẹ là ủng hộ, còn anh và chị Oanh thì kiên quyết không cho.
26-9 Anh bước sang một lĩnh vực kinh doanh khác. Mới làm nên phải đi nhiều hơn. Dạo này anh lại đóng đô ở trên Thái Nguyên. Tôi cũng đã xuống cơ sở được gần 3 tháng, hết 3 tháng thì sẽ quay trở lại Ban. Lúc đó mới phân công công việc cụ thể cho tôi được.
Cậu Sỹ mất thật đột ngột, vì phổi yếu nên không được đưa cậu về quê. Thật là buồn khi không thể gặp được cậu lần cuối. Cũng đã lâu lắm rồi, kể từ đợt tết tôi không đến thăm cậu được. Cậu vẫn còn một mong muốn là cho tôi xem đĩa hình cưới của cháu Cậu, nhưng tôi vẫn chưa xem được. Ban đầu là hỏng máy tính, cậu lại gọi điện nhờ một người quen để tôi mang máy đến chữa. Mấy lần cậu gọi điện lên hỏi đã sửa máy chưa. Cứ lần lứa mãi, đến hôm cậu đã ra đi….
3-10 Vừa nhận được tin Mai vừa mới sinh bé trai tối qua. Thế là nó cũng đã ổn định được phần nào. Không lông bông như lũ chúng tôi. H.Thảo đang lo cuống lên cho lễ cưới của nó vào cuối năm nay. Hà đã ra trường và đi làm cho một công ty xuất khẩu sâm. Liên vẫn làm ở công ty xây dựng. Mối quan hệ của tôi và Liên vẫn thế, bây giờ chỉ nhớ về nhau như những kỷ niệm đẹp. Châu vẫn làm ở VTV, tôi đang giục nó cưới.
9-10 Hì hục chuẩn bị cơm thì lại gọi điện bảo không đến được. Mặc dù là lý do rất chính đáng nhưng tại sao tôi vẫn cảm thấy hơi tức tức. Có rơi vào tình cảnh này mới thấy được ngày xưa tôi đã làm mẹ tức thế nào khi thỉnh thoảng lại gọi điện về nhà bảo mẹ là chán cơm, đi ăn ngoài. Lúc đó mẹ có mắng thì lại thấy người lớn thật khó hiểu. Lại tự hỏi tại sao người lớn phức tạp thế. Có mỗi truyện đó thôi mà cũng tức. Đúng là trẻ con chưa hiểu hết sự việc.
14-10: KFC, Hic, chỉ vì cái tính bất cẩn mà tôi đã thua trong cuộc cá cược với Châu chấu. Gà rán thì chưa chắc là thích đâu, nhưng chọn món này vì C đề xuất. Vả lại cũng muốn măm măm cho biết, món này mới ra ngoài Hà Nội được vài ba tháng. Nó cũng giống với Mc Donald và tất nhiên là sẽ béo. Một bữa KFC bao gồm một món chính, là gà rán hoặc cá rán, đồ uống có ga hoặc sữa, khoai tây rán, cộng với món salad. Hầu hết toàn tụi trẻ mê KFC nên trông đứa nào mập mạp biết ngay là đệ tử ruột của món này.
Lâu lắm rồi tôi và nó không tụ tập cùng nhau, đánh chén một món gì đó và tất nhiên không thể thiếu phần buôn bán. Ăn đã lâu mà ngồi chát chít lại còn lâu nữa. Chỉ có một điều buồn cười cho cả hai là lại rủ nhau đi chơi vào tối thứ 7. Gặp cô cái C ở trong quán. Cô nó chắc cũng phải buồn cười và phán cho một câu xanh rờn: Hai bọn mà một là “ê sắc”, hai là bị “BD”.
Hai đứa được tiếng là suốt ngày dính với nhau từ hồi học đại học. Đến nỗi chỉ cần tôi hoặc C đi đâu đó ở trường học, gặp người quen thể nào cũng được hỏi: Đứa kia đi sau hả? Hầu như chẳng ai đoán sai. Chỉ mấy giây sau là thấy một trong hai đứa kia lò dò đi đằng sau.
15-10: Vật lộn với đống quần áo của cả tuần đến mệt cả người. Hai ngày cuối tuần trôi đi nhanh vèo. Không làm được một việc gì cho ra hồn. Dậy muộn, rồi tập Yoga, đến khi ăn uống và đi chợ giúp mẹ xong thì cũng đã gần trưa.
Cứ năm lần bẩy lượt bảo đi học Yoga cho nó bài bản nhưng vẫn lười. Bảo Châu chấu dậy cho vài đường cơ bản thì hôm nó bận, hôm nó rảnh thì tôi lại không có hứng. Anh béo thì lại đang đi công tác nên chỉ bảo tôi được những động tác cơ bản. Tuần này vẫn đang đóng đô ở trên Thái Nguyên không về. Quái thật, con người ai cũng vậy. cái gì được nhiều thì cũng nhàm chán, chỉ khi nào xa ra thì mới thấy thiếu thiếu và nhớ. Nhưng những lúc như thế mới làm mình xác định được rõ ràng hơn và vững vàng hơn về tình cảm của mình.
20-10 Năm nay giống như bao năm khác, giống như các ngày dành cho phái nữ khác. Sáng sớm đi làm qua mấy con phố hay bán hoa thấy nhộn nhịp đông vui hơn mọi ngày. Đến cơ quan lại là nhậu nhẹt, rồi hát karaoke. Cũng chẳng có gì làm ấn tượng. Như bao năm khác.
Sáng sớm đã có tin nhắn. Biết ngay chủ nhân là ai. Thế cũng là tốt lắm rồi, vì cũng còn nhớ và cho điểm vì có ý tốt.
Tối về nhà tự thưởng cho mình một bữa tối thịnh soạn, rồi thưởng thức tiếp cho mình một bữa ngủ say đến tận sáng hôm sau.
27-10: Hôm nay công ty vắng tay vì Công đoàn thực hiện lời hứa cho chị em đi dã ngoại nhân ngày phụ nữ Việt Nam. Tôi vẫn là người từ trước đến nay chẳng đi đâu cả khi mà thiên hạ nô nức kéo nhau đi chơi đây đó. Biết làm sao được khi có lắm thứ rắc rối làm mình không thể thoải mái để từ bỏ Hà Nội trong một ngày. Chắc là sau này cũng thế thôi. Vì từ bé đến lớn đã luôn là như thế.
Đi làm được gần một tháng sau đợt thực tập nhưng vẫn ngồi chơi xơi nước chờ lãnh đạo phân công nhiệm vụ. Hôm nay lướt qua mấy tờ báo giấy thấy cũng thú vị. Lâu lắm rồi chỉ dán mắt vào mấy trang web mà quên hẳn luôn tờ thông tin truyền thống. Trong thời đại ngày nay, báo giấy chưa tỏ ra là lạc hậu nhưng đã phần nào bị lớp trẻ lãng quên. Đọc Góc của Joe trên báo Lao động thấy thú vị. Thằng cha này là người nước ngoài nhưng lối viết theo kiểu Việt khá hóm hỉnh và có nhiều cái mình cũng phải gật gù mặc dù ai cũng biết là đúng, nhưng người Việt Nam chẳng mấy khi nói ra điều đó. “Sống ở Việt Nam mình thấy rất nhiều điều khó hiểu. tại sao khi có hai người ăn comư đĩa thì ngưòi phục vụ cứ mang cơm ra từng đĩa một, không phải cả hai đĩa cùng một lúc? Tại sao người biết ít thường giả vờ biết nhiều, và người biết nhiều thường giả vờ biết ít?” Rồi cách hắn viết về một sự kiện mà một người vừa gây ra cũng vậy: “Ở Việt Nam, nếu mình cứ giả vờ không có chuyện gì thì dần dần sẽ không có truyện gì thật. Nhưng mà ở bên Tây, nếu mình cứ giả vờ không có chuyện thì dần dần nhiều truyện sẽ “mọc lên”, sẽ có một khu vườn đầy cỏ dại.”
29-9: Ở nhà ngồi đọc báo lại nhớ ra tháng trước có đi qua cái Trung tâm Hội nghị Quốc gia 4.000 tỷ mà chả thấy có ấn tượng chút nào. Trông giống như một nhà Thi đấu thể thao quốc gia hơn là một trung tâm hội nghị của đất nước. Chỉ còn nửa tháng nữa thôi, Hà Nội bắt đầu khai mạc APEC. Điều đó làm tôi nhớ lại hai năm về trước, khi còn đang là sinh viên. Được phục vụ cho các hội nghị lớn mang tầm cỡ thế giới và khu vực quả thật là hữu ích và thu lợi hết biết: học hỏi được rất nhiều, từ kỹ năng giao tiếp xã hội đến cách tổ chức công việc. Và lại còn vui hết biết. Vì quen được vô số là bạn bè, anh chị. Lại còn được ăn uống, đi chơi và tham gia nhiều hoạt động bên lề nữa chứ.
Hai ngày ở nhà thật là quý giá. Mà thực ra cũng chẳng làm được cái gì nên hồn thì đã hết vèo. Chủ yếu là ngủ và ngủ cho lại sức. Cũng chả biết làm thế nào để cải thiện tình hình nữa. Mấy đứa thì kêu đời sống của tôi thật nhạt nhẽo, có lẽ tạm thời phải chấp nhận, chứ tôi trước đây cũng là một đứa “cuồng cẳng” kinh khủng.
Con gà gô vừa đi chụp ảnh cưới xong và “phô” là rất tự nhiên. Nhưng tôi chào thua mấy cái vụ “quần áo xúng xình” ngoài trời để có được khoảng khắc đáng nhớ đó. Mệt chết.
5-11Hôm qua được bữa nhậu nhét, hát hò thật phê. Lâu lắm rồi tôi không có được cảm giác "giãn gân cốt" và không thèm nghĩ ngợi đến những truyện hàng ngày làm mình lo âu, mệt mỏi. Dường như ai nấy đều hết mình và tự thưởng cho mình cảm giác xa rời thực tế trong một vài tiếng đồng hồ. Đáng nhẽ hôm sau mới là ngày sinh nhật của anh Béo, nhưng rồi lại quyết định tổ chức sớm một ngày, do ý định muốn làm "nhà trung gian hoà giải" cho hai đôi vợ chồng khác. Đúng là cuộc sống gia đình thật phức tạp.
23-11: Mấy hôm trước trời mưa đá. Thấy cũng hay hay vì tôi không đụng mưa. Ở trong nhà và nhặt được mấy cục đá to lạnh ngắt. Những người đụng phải nó thì la ầm ĩ. Hôm sau ông xe ôm đi đón tôi vác theo cả quả mũ bảo hộ lao động to vật vã, vì sợ lại va mấy hòn vào đầu thì....
Dạo này cũng hay nhận được thiếp mời bạn bè cưới. Nó báo hiệu đã sang mùa rét rồi mà. Trời Hà Nội cũng se lạnh hơn, buổi trưa vẫn có nắng. Thời tiết nhức đầu ra phết. Tôi đang cố gắng tránh ốm. Gặp ai cũng hỏi thế bao giờ cưới, từ người già đến người trẻ. Cũng ậm ậm ừ ừ vì sợ tuyên bố ra lại lỡ kế hoạch. Sau từng ấy năm có mặt trên cõi đời, tôi nghiệm ra một điều là tôi không thể đặt ra các kế hoạch dài hơn. Vì kiểu gì rồi cũng sẽ bị cản, bởi một điều gì đó hay bởi ai đó. Nên cứ tà tà mà tính. Đến đoạn này thì cũng đã là thời điểm để tính đến cái kế hoạch ngắn hạn kia rồi. Nên cũng đã bắt đầu bắt tay triển khai.
manutd
04-18-2007, 07:33 PM
"Tự ngàn xưa” truyền lại đến ngày nay
“Với chương trình “Chầu Văn” chúng tôi đưa ba giá đồng lên sân khấu, phân tích các làn điệu đó, tạo ra cách nhìn nhận khác trong mắt công chúng. Trước đây, người ta chỉ nghĩ một chiều rằng hầu đồng là mê tín. Thực ra, mỗi giá đồng là một sử thi…”
- Chương trình “Tự ngàn xưa” vừa phát sóng số đầu tiên, mong muốn của những người làm chương trình là gì, thưa anh?
- Khi xây dựng chương trình này, cái đích mà chúng tôi hướng tới là bảo tồn vốn văn hóa dân gian, tôn vinh giá trị thực của âm nhạc truyền thống, tạo cho thế hệ trẻ thêm một phương tiện nghiên cứu, gìn giữ và phát huy vốn văn hóa cổ truyền. Đưa những giá trị cổ vào âm nhạc đương đại và giới thiệu những gương mặt âm nhạc đương đại có sử dụng chất liệu âm nhạc dân gian.
Đặc biệt, chương trình không chỉ đưa ra những khái niệm đơn giản về Tuồng, Chèo, Cải lương, quan họ Bắc Ninh… cùng những làn điệu quen thuộc mà còn chú ý sưu tầm và giới thiệu các làn điệu cổ, các tích ít phổ biến, chưa được nhiều người biết đến. Cùng với trình diễn trích đoạn, chúng tôi sẽ mời các nhà phê bình âm nhạc trao đổi trong chương trình để khán giả có thêm hệ quy chiếu đáng tin cậy từ những “con mắt xanh” của âm nhạc Việt.
- “Tự ngàn xưa” sẽ là một “Nhà hát truyền hình”?
- Cũng có thể gọi như vậy, nhưng chúng tôi không đưa ra “thực đơn” là những trích đoạn, vở diễn hay các tích mà tập trung giới thiệu các làn điệu và ảnh hưởng của nó với xã hội, rồi xã hội lại tác động lại nó như thế nào.
- Chương trình sẽ có những điểm nhấn gì để tạo sự khác biệt với các chương trình âm nhạc khác, thưa anh?
- Ngoài giới thiệu các bài bản, những gương mặt nghệ sĩ đã và đang đóng góp cho âm nhạc dân gian, trao đổi với các nhà nghiên cứu âm nhạc, nhà sử học, người làm công tác bảo tồn bảo tàng cho âm nhạc dân gian, chúng tôi còn có phần trao đổi với các đối tượng người nghe nhạc, để khán giả hiểu rõ hơn về sự ra đời của mỗi làn điệu dân gian, tham khảo ý kiến xem có nên bảo tồn nó hay không…
- Như vậy, “Tự ngàn xưa” sẽ thích hợp với khán giả trẻ hay là dành tặng cho những khán giả có tâm thế hoài cổ và muốn hướng về vốn văn hóa cổ truyền?
- Chúng tôi hướng về các khán giả muốn nghiên cứu tìm hiểu về âm nhạc dân tộc, đánh giá giá trị thực của âm nhạc dân tộc chứ không phân định lứa tuổi. Để thế hệ trẻ chấp nhận, yêu mến, và quay lại tìm hiểu âm nhạc dân tộc thì còn cần một chặng đường dài và rất nhiều động thái khác nhau. Nhưng, ngoài những chương trình giải trí, vui vẻ, hip hop… cũng nên có những chương trình để họ tiếp xúc và hướng về vốn văn hóa truyền thống.
Ví dụ chương trình “Chầu văn”, chúng tôi đưa ba giá đồng lên sân khấu, phân tích các làn điệu đó, tạo ra cách nhìn nhận khác trong mắt công chúng. Trước đây, người ta chỉ nghĩ một chiều rằng hầu đồng là mê tín. Thực ra, mỗi giá đồng là một sử thi. Điều này đã được các nhà nghiên cứu văn hóa và âm nhạc ghi nhận. “Xẩm Hà Nội” với các làn điệu xẩm cổ, do NSND Xuân Hoạch và NSƯT Thanh Ngoan, NSƯT Thúy Ngần thể hiện cũng rất độc đáo, thú vị…
manutd
04-18-2007, 09:01 PM
“Nướng” tiền cho đồng cô, đồng bóng
Hiền, chủ một công ty thời trang ở Phố Huế (Hà Nội), mới 27 tuổi nhưng mê đồng bóng. Cô kể, cứ 2-3 tháng lại phải làm một “đêm hầu”. Không chỉ riêng cô mà cả 3 chị em và bà mẹ già ở Thanh Oai (Hà Tây) cũng vậy. “Chúng em làm ăn buôn bán, ai cũng tin vào may rủi.
Em đã đi gặp nhiều thầy, ai cũng bảo, làm ăn muốn phát đạt thì phải mở vài giá đồng”, cô tâm sự. Bởi vậy, cứ thấy “nặng căn”, làm ăn không gặp là cả đại gia đình cô lại chung tiền, rủ nhau đi “mua” một đêm hầu để giải hạn. Hiền “chơi” giá hầu nhiều đến nỗi, đến nay cô đã thuộc làu từng địa chỉ chuyên hầu đồng ở Hà Nội.
300 triệu đồng để vui 36 giá đồng
Giữa tháng 2-2006, chúng tôi theo mẹ Hiền lọt vào một “sới” hầu đồng nằm sâu trong khu Thuốc Bắc (Hà Nội). Hiền kể, để thuê được giá hầu đồng đêm nay, cô phải xếp hàng đặt lịch với “cô” trước cả tuần lễ.
Bắt đầu từ 17 giờ, trong nhà “cô” đã não nuột nhạc, rực rỡ đèn, nến, lửa và mù mịt khói nhang, trầm. Giữa nhà, một ban thờ trưng bày hương án, hoành phi, câu đối cổ, cờ quạt, mũ áo, hoa quả, đồ tế lễ… Nền nhà trải kín chiếu cói.
“Cô” mà Hiền gọi lại là một anh mặt trắng đầy phấn, môi lòe loẹt son. 19 giờ, “cô” mặc áo tế xanh đỏ, đầu thắt khăn vàng, thêu rồng phượng, lửa và lua tua bắt đầu cầm 2 cán cờ, bước đi bước lại, sang phải lùi trái, “đảo” như chong chóng trước hương án. Cứ mỗi giá 25-30 phút, “cô” lại lui vào “hậu cung” đổi sắc phục, khí cụ rồi nhảy ra “diễn” tích mới.
Đội cung văn (nhạc công) khi não nuột, khi réo rắt, khi phầm phập như rock, rap. Mẹ con Hiền quỳ trên chiếu, bên chân “cô”, sì sụp lạy và vâng, dạ nghe “cô” phán những lời được nói ra từ... miệng người cõi âm. Tranh thủ giờ giải lao giữa các giá, cô lại tất tả ôm rổ lộc (kẹo, bánh, hoa quả, mì tôm, xôi, oản) và tiền đi phân phát cho các con nhang đệ tử, nhạc công ngồi hầu chung quanh.
Cứ như vậy, giá hầu của cô được kéo dài cho đến sáng.
Theo Hiền, “giá” được hiểu là một màn, tiết mục múa và hát. Tùy theo từng “tích”, “ghềnh” mà chọn nhạc điệu, ca từ khác nhau. Một cuộc hầu đồng trọn vẹn có 36 giá. Tuy nhiên, tùy lượng tiền của tín chủ mà thỏa thuận số lượng giá. Ít thì 9, 12 giá. Nhiều thì 21, 23 giá... Thời lượng mỗi giá cũng khác nhau, ngắn chỉ khoảng 20-30 phút, dài có thể tới 1 giờ đồng hồ. Nếu diễn đủ 36 giá lớn, cả cô đồng và tín chủ phải thức suốt 2-3 đêm liền.
Hiền bảo, có đi hầu đồng mới biết bây giờ người ta đang đua nhau “chơi” đồng bóng. “Mỗi cuộc mở đồng như vậy, chúng em ít tiền, chỉ dám chơi 15-16triệu đồng. Nhưng một giá đồng ra trò thực sự thì phải 20-30 triệu đồng”. Đắt, nhưng người ta vẫn đổ xô đi hầu đồng. Nhiều khi, vào những ngày lễ, rằm, tết, các sới hầu ở Hà Nội chật kín lịch, mẹ con cô phải dắt nhau hầu tận các điện, phủ lớn và được đồn là linh thiêng ở Thái Bình, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Tây…
Còn Nhung, một phụ nữ khoảng 45 tuổi, chủ cửa hiệu karaoke, mát-xa thư giãn ở Thụy Khuê (Hà Nội) thì bảo: “tôi đi hầu đồng nhiều đến nỗi bây giờ nghiện”.
Cứ hễ đâu mở giá đồng, Nhung lại bỏ nhà cửa đến xem giá, thức thâu đêm để xin lộc. “Không một tụ điểm đồng bóng nào ở Hà Nội tôi không thuộc. Tôi còn thuộc làu cả tên, tuổi, tiểu sử của các “cô”, “cậu” và đám cung văn đàn hát”, cô kể. Thậm chí, cô còn quen và thuộc tên của nhiều vị khách sộp là quan chức, nhà doanh nghiệp, dân chơi...
Theo cô, phần lớn các vị “con nhang đệ tử” chịu chơi, khách sộp ít khi muốn hầu ở nhà thầy, mà thường thuê hẳn “cô”, “cậu” về tư dinh, lập điện, mở phủ nguy nga, tráng lệ để múa. Họ thuê cả dàn cung văn nổi tiếng về đàn, hát suốt canh thâu. Mỗi cuộc như vậy, chi phí bỏ ra khoảng gần 100 triệu đồng.
Tuy nhiên, mức chơi trên vẫn chưa bằng một vị quan chức ở Hà Nội, mới đây đã chi tới 300 triệu đồng, thuê cả một chiếc du thuyền ở Hồ Tây để đưa “cậu” đồng và đám cung văn, con nhang, tín chủ… lên say sưa nhảy múa suốt 3 ngày đêm giữa mênh mông sóng nước, nhảy múa đủ 36 giá. Trong đó, “cô” đồng được thuê là một giáo sư tên T. rất nổi tiếng trong giới hầu đồng hiện nay. Còn cung văn được tuyển từ những nghệ sĩ hát chèo, quan họ, diễn viên sân khấu… đang nổi. Tiền “cát-xê” chi cho “cô” sau 3 ngày đêm khoảng 120 triệu đồng. Gần 70 triệu đồng trả cung văn và hàng chục triệu tiền “lộc” cho quan khách.
Bùng nổ cung văn, hầu bóng, điện thờ tư
“Ngồi hát ăn bát vàng” là câu mà các cung văn đồng bóng thường bảo nhau. Bởi vậy, hiện nhiều người đang đua nhau đi làm cung văn. Trong đó, 2 làng Tam Sơn và Phù Lưu Tế (thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh) nổi tiếng là đất quan họ với những giọng ca vang, rền, nền, nảy. Nhưng không mấy ai còn tha thiết hát quan họ nữa.
Cứ sau hội Lim, hơn 20 đàn ông ở đây lại xách sáo, nhị, đàn nguyệt theo phục vụ các giá hầu. “Nay ở Hà Nội, nhưng mai đã ngồi tận Thanh Hóa, Nghệ An rồi”, Nguyễn Đức Hải, 41 tuổi, một tay đàn nguyệt kiêm hát chầu văn mới nổi, quê ở Tam Sơn, tiết lộ.
Dẫu vậy, Hải vẫn chỉ là bậc đàn em của các tay chuyên hát đồng nức tiếng, chỉ nghe tên đã khiến dân nghiện đồng bóng mê mẩn, như X.H, Q.A, Q.Tr… “Cát-xê” của họ tiềm tiệm cũng 15-20 triệu đồng/tháng, cao có thể tới 40-50 triệu đồng/tháng. Món hời từ nghiệp hầu bóng cũng lôi kéo nhiều sinh viên khoa âm nhạc dân tộc Nhạc viện Hà Nội ra trường đi làm cung văn.
Cung văn nhiều, “cô” đồng cũng lắm. Ở các huyện Mỹ Đức, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín (Hà Tây) gần đây xuất hiện nhiều “làng cô đồng”. Trong đó, hoạt động sôi động hơn cả là làng Hòa Nam và khu chùa Hương, thuộc huyện Mỹ Đức.
Ban đầu, họ chỉ là những thầy cúng, thầy bói, nhưng thấy nghiệp “cô” đồng nhanh “lên đời” hơn, nên chuyển sang làm đồng cô, bóng cậu, với những “cô” Kha, “cô” Tiến, “cô” Vân, “cô” Luyến… nườm nượp khách. Nhiều đêm, con nhang, tín chủ tứ xứ kéo về. Gần thì Hà Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ. Xa tận Thừa Thiên-Huế, TPHCM. Ô tô đỗ kín đê làng.
Tuy nhiên, muốn tìm “sào huyệt” của giới cung văn, hầu bóng phải về Phủ Dầy (Nam Định), cách Hà Nội 90km. Khách muốn ngồi đồng ở đây thường phải đăng ký trước cả tuần… Ngày rằm, mùng một, có thời điểm cùng lúc 5-6 đám nhảy đồng cùng múa may, thu hút hàng trăm con nhang, đệ tử. Họ đến từ khắp các tỉnh thành: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh, Yên Bái, thậm chí từ TPHCM, Bình Dương, Nha Trang… Giá hầu mỗi “sô” ở đây đắt nhất khoảng 20-30 triệu đồng, rẻ cũng 3-4 triệu đồng.
Theo giáo sư Trần Lâm Biền, một người chuyên nghiên cứu về Phật giáo, lễ hội, tín ngưỡng dân gian, thì thời phong kiến, tệ nạn hầu đồng, hầu bóng đã bị cấm khá nghiêm ngặt. Tuy nhiên, khởi thủy của lễ hầu đồng lại mang ý nghĩa khá tốt đẹp, tôn vinh phong tục thờ Mẫu, nặng về yếu tố giải trí, chữa bệnh. Thông qua “cô đồng” để người hầu được tiếp cận với vũ trụ, cõi siêu nhiên.
Nhưng gần đây, cùng với đời sống tâm linh phồn thịnh trở lại thì những hệ lụy của trò hầu đồng cũng được khơi lại, thậm chí còn trở nên ngày càng tiêu cực và lệch lạc hơn. Phần lớn người đi hầu đồng đều vì mục tiêu cầu tài, cầu lộc, giải hạn, rửa tội... hơn là nhu cầu giải trí tinh thần.
Được thời, những kẻ bói toán, tử vi, tà thuật... chớp lấy cơ hội, thi nhau mở điện thờ tư, lập phủ riêng tại gia đình để kiếm lời từ “dịch vụ” hầu đồng. Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội, hiện đã có tới hàng trăm điện thờ tư như vậy. Trong đó, riêng phường Chương Dương (quận Hoàn Kiếm) có 6 điện thờ, phường Giảng Võ (quận Ba Đình) có 13 điện, phường Phúc Tân có 6 điện tư.
Chủ mỗi điện thờ tư trên là một thầy cúng kiêm “cô”, “cậu” đồng. Sở VH-TT Hà Nội đã từng yêu cầu các “thầy” ký cam kết không tổ chức lễ hầu đồng, bói toán… nhưng hoạt động này hiện vẫn vô cùng sôi động, nhất là vào các tháng đầu năm 2006.
Những tháng lễ hội mùa xuân cũng là thời điểm các giới kinh doanh, buôn bán, cán bộ, công chức, nhà doanh nghiệp đua nhau đi đến các đền, phủ, điện mở giá đồng, tiếp tục “nướng” tiền cho các đồng cô, bóng cậu...
Nhiều “sào huyệt” của đồng bóng ở Phủ Dầy (Nam Định), Ứng Hòa (Hà Tây), Giảng Võ (Hà Nội) là chốn để các con nhang, đệ tử tiêu xài, lãng phí và các đồng cô, bóng cậu thỏa sức nhập hồn, xuất ngôn bừa bãi, làm cho không ít gia chủ điêu đứng, tàn lụi vì trót để hầu đồng “mê hoặc”.
manutd
04-18-2007, 09:04 PM
Cơn gió mùa bất chợt của tháng Giêng làm cho bầu không khí trở nên se se lạnh. Gò má của người vợ tảo hiền trở nên ửng hồng như sắc đào ngậm rét, ánh mắt em lung linh hơn phản chiếu những con sóng tình xao động lòng ta và đây nữa đôi tay ngọc ngà như mời gọi ta bỏ khỏi những ưu tư trần thế mà về với bến yêu thương. Này đây mình ơi, mái tóc em xanh như một ao rau cần tháng Giêng, cứ mơn mởn như chưa bao giờ xanh thế. Lòng người lâng lâng, lòng trời đất say say như khiến ta đang sống trong cái Nguyên Xuân tinh túy nhất. Đi chùa Hương đi mình ơi, vợ chồng mình đi chùa Hương đi, để cho tình yêu càng đượm men rượu nếp dù cho những ngày sắp tới anh lại vui thú bia hơi, bỏ mặc em trong bữa cơm cô lẻ. Ừ mình ạ, tại sao lại không đi nhỉ, Hà Nội lung linh Hà Nội kiêu sa nhưng Hà Nội cũng đã quá nhàm. Thôi để cuối tuần này đi nhé. Này đã hẹn thì phải đi mình nhé, kẻo lỡ dịp đầu năm lại sái cả năm. Để em đi mua đồ chuẩn bị trước kẻo vào trong kia cái gì cũng đắt mình nhỉ, mà anh thích ăn gì nào để em mua. Ừ em thích ăn gì cũng được, nhưng nhớ mua cho anh mấy lon bia để anh có sức mà leo núi nghe em. Nào thôi bỏ đấy đi, mình sát lại đây với anh naò. Nỡm ạ, mình phải thanh tịnh khi đi lễ chứ. Ô hay, mình biết một mà chẳng biết hai, chúng ta trần gian tại thế đâu có phải gìn giữ bất kỳ giới Sa di hay Tỳ Kheo nào đâu em, có chăng là phải gìn giữ đạo vợ chồng cho vẹn, cho ân ái tràn đầy theo hạnh Phật mình ơi.
Sáng thứ bẩy, ngay từ tinh mơ khi những gánh rau cầu Mới còn chưa bán hết những dòng người đã lũ lượt đổ hướng Ba La Bông Đỏ. Rán vội cho nhau tấm bánh chưng còn xanh mầu lá, chải vội cho nhau mái tóc mới thấy thấm thía cái hạnh phúc Nguyên Xuân của đạo vợ chồng. Ta thấy lâng lâng khi nhớ đến câu:
Gì vui bằng những tháng ngày
Cầm tay mà kẻ lông mày cho nhau
Này ngồi cho chắc nhé, đường đông lại lắm ổ gà mình ơi. Hà Đông đang ngái ngủ, những cột đèn giao thông nhấp nháy con mắt vàng như muốn trêu đôi kẻ phong tình. Mùi hương trinh khiết của buổi tảo hành ướp lấy hồn ta trong thanh thanh, những sắc đào như càng mướt hơn dù rằng đang nằm đau đớn trên xe chở rác, Này đào ơi, đời hoa cũng như ta thôi, đều phải chịu chi phối của Thành - Trụ - Hoaị - Không mà thôi. Cứ vui vẻ nhé, đến mùa sau lại hồi bước thanh tao. Cái rét đặc quánh lại tưởng như có thể cầm dao mà cắt thành miếng như thịt đông vậy,ô nói đến thịt đông lại nhớ đến món thịt đông đặc biệt nhà Aramix, năm nay ta không được thưởng thức liệu sang năm có gặp nhau đưa cay bằng món thịt đông đó không. Cuộc đời như một một dòng chaỷ, nước năm nay đâu có thể ghé lại bến cũ ngày xưa. Quay sang bên, bỗng chạm phải gương mặt ấm nóng của người vợ tảo hiền. Một cảm giác ngọt lạ lùng bao chiếm lấy tâm trí ta, một vị ngọt ân tình trong gió lạnh cứ lừ đi. Này mình ơi, có mệt không? Không em thích lắm, năm nay anh gieo được quẻ Trạch Lôi Tùy cho nên bọn mình phải năng đi giang hồ nhé, em định cuối tuần sau mình đi Yên Tử cho tròn 3 năm, rồi thế nào mình cũng đẻ con trai anh ạ. Mủm mỉm cười, xe chạy qua Xốm, rồi đến phố Vác phố Bạt. Cái tỉnh Hà Tây này buồn cười thật, đặt tên cho địa danh cứ mộc mạc ngắn ngủn như thằng Tũn, con Tèo vậy. Đến Vân Đình thì trời đã chớm 8h, dòng xe bị dồn ứ lại vì lưu lượng đi chùa Hương quá lớn. Nhích từng tí một trong một màn mây khói tỏa ra từ những bếp nướng vịt đặt ngoaì đường. Khói tỏa mù mịt như khói nướng chả chó trên Nhật Tân vào độ cuối chạp. Mấy sợi tóc nguời vợ bay bay trước mũi đậm mùi hương, nhưng không phải là hương Double rich mà thay vào đó là mùi mỡ vịt. Lần lữa mãi cuối cùng cũng qua chỗ tắc. Những cơn gió đồng lại dùng hơi thở trinh khiết của mình tẩy đi mùi mỡ vịt ám trên cơ thể hành nhân. Đang say sưa ngắm cảnh thôn quê bình dị bỗng giật mình vì một tiếng hoỉ:
- Anh chị có đi đò không?
Ô hay đã đến suối Yến đâu mà đã có kẻ gạ đi đò. Quay sang bên thấy một bác già chừng 45 tuổi, đang phô hàm răng lấm tấm vàng chiếc còn chiếc mất để tạo ra một nụ cười mơi khách. Ra là thế, khi bóng núi Hương Sơn còn xanh mờ phía chân trời, đội ngũ tiếp thị chỉ trỏ đã voi phục ở đây để bắt khách. Đa phần họ không phải là dân Hương Tích mà hành nghề xe ôm dọc đường, nếu bắt được khách họ sẽ hứa đảm bảo chỗ ăn nghỉ, gửi xe, xếp đò như một Tour Planner thứ thiệt. Nhưng nếu bạn đồng ý là coi như đã bị biến thành một con vịt quay béo ngậy, được chở bán như chó mua gom. Mỉm cười nhũn nhặn:
- Mô phật, chúng cháu đi chùa Cao Quan Sơn chứ không phải chùa Hương.
Đuôi đứt, ta lại đi. Trước khi đến địa phận còn phải cắt mấy cái đuôi như thế nữa. Có lẽ sang năm phải đeo biển: No Cò Mồi sau lưng như mấy anh tây đi dạo quanh Bờ Hồ vậy.
Suối Yến Vĩ đây rồi, đang định hướng thì một anh thanh niên tuổi trạc 20 mặc áo bò chỉ vàng, đeo một tấm băng đỏ bên tay trái , lao ra nắm ngay lấy tay lái và lạnh lùng nói:
- Anh xuống xe, vé thắng cảnh 35 nghìn một người, vé xe 8 nghìn một lượt cộng với tiền gửi là 8 nghìn một ngaỳ.
Cùng theo anh là một số chị em lao ra, tay vung vẩy bó hương, huơ huơ mớ tiền mới giọng chen nhau:
- Đi đò anh ơi.
- Mua hương vàng nễ chùa anh chị ơi.
- Đổi tiền lẻ anh chị ơi.
Ô hay nạn chèo kéo này vẫn chưa bỏ được à, sao bảo hôm khai hội mùng 6 âm lịch BTC hứa trên đài là sẽ dẹp bỏ hoàn toàn. Hóa ra toàn những lời nói dối chân thật. Anh trai trẻ vẫn nắm tay lái xe khư khư như sợ ta chạy mất. Kể cũng lạ, một con người hèn hạ đến đâu, miễn đeo vào tay một tấm băng đỏ hay cầm một cái còi là tự dưng biến thành người chức sắc hết. Cái tư tưởng lý dịch hẳn đã ăn sâu vào tủy óc không thể nào tẩy được. Hôm nọ chứng kiến một mẹ già phải bò van xin lục lạy trên đường Lương Thế Vinh để anh dân phòng phường cũng đeo băng đỏ thôi lấy chân dẫm nát những cánh hoa hồng. Cái hình ảnh gót giầy anh dân phòng gí nát mấy cánh hoa thơ dại và bên cạnh đó mẹ già van lậy như tế sao khiến ta thấy căm thù mầu đỏ, cái mầu mà ta đam mê bấy nay. Sẽ không bao giờ ta mặc những chiếc áo chemise đỏ nữa. Ta mới hỏi:
- Năm nay sao mình lại đặt trạm ở đây ở anh, còn xa mới vào đến bến đò, nếu tôi gửi xe ở đây thì đi bộ chết người à?
- Không biết, năm nay BTC đặt trạm ở đây. Chúng tôi chỉ việc thi hành.
- Nếu tôi không gửi xe ở đây thì sao, tôi gửi trong kia.
- Không được, trong đó toàn nhà dân, gửi không an toàn.
À ra thế, người dân ở đây mất dạy quá khiến BTC phải lo lắng hộ cho hành nhân. Giá như hành nhân cứ gửi xe vào bãi xe tại bến thì không sao, nhưng ta lại cứ gửi tại nhà dân khiến cho họ thâm hụt một lượng tiền không nhỏ. Thôi quay xe ra mình ơi, ta vào quán nhỏ kia đã. Mấy bà mấy mẹ mấy chị cứ đứng xoay tròn chào mời, giơ những cánh tay níu lấy người ta và người mình. Bực quá ta mới quát lên:
- Mấy bà biến đi, tôi không mau gì đâu?
Ngay lập tức mấy mẹ mấy chị quay sang chửi bậy, chửi thì chửi ta không sợ, dám chửi nhau với một thằng có Thái Tuế và Cự Môn thủ mệnh à. Người vợ giật nhẹ caí:
- Này anh năm này có sao La Hầu đấy, thôi đừng tranh cãi nữa. Anh vào mua vé đi.
- Không mình ơi, sao ta lại phải sợ cái xấu, cái bạo quyền. Em cứ để anh lo.
Vợ chồng quay vào quán, gọi ấm nước chè mặc kệ cho mấy tặc kia đứng ngoaì tỉ đểu bằng cái mất dậy cố hữu mà ta vẫn gặp tại chùa Hương, Sầm Sơn, Chúa Kho... Cấi nếp tư duy đặc sệt bần cố nông, ngu si và tham lam bám mãi họ như cùng đúc từ một khuôn. Thôi Hỉ xả naò. Lấy điện thoaị gọi cho người quen, chỉ năm phút sau anh Baú- người chịu trách nhiệm tổ chức các khâu mỗi khi có khách nhà chùa đến chùa Hương. Anh hỏi giật:
- Sao không gọi điện trước để anh ra đón?
- Em cứ tưởng là đi xe vào đến tận nhà anh.
- Năm nay xã đặt trạm ở đây nhằm tránh tình trạng khách sơ tán vào nhà dân.
5' sau anh ra, mấy tay chính quyền dở hơi kia trông thấy thế bèn chào hỏi niềm nở. Anh gọi ta ra baỏ:
- Đây là đệ tử của cố Hòa Thượng Thích Viên Thành, chúng mày giở trò gì thế?
- Dạ bọn em không biết, mà anh ấy chẳng chịu noí.
Mấy mẹ mấy chị thấy thế quay ra cười cầu hòa và lảng đi rất nhanh. Ngay lập tức họ lại ồ ra vì có một đoàn khách vừa đến.
- Thôi em cùng đợi ở đây với anh, chút nữa sư ông chùa Thầy cũng đến, em đi cùng sư ông nhé. Mà em cưới vợ bao giờ thế?
Trao đổi mấy câu là đoàn xe của sư ông chùa Thầy đến, ta vào mà chẳng thấy ai hỏi mua vé thắng cảnh hay gửi xe gì cả. Chỉ một bao Zet. Thế là xong.
Để xe xong xuôi, mình và ta thong thả bước xuống bến đò cùng sư ông và 2 thị giả. 2 bờ suối Yến đã được xây kè trải nhựa trông khang trang và sạch sẽ. Cả khu Yến Vĩ đã thay đổi rất nhiều, nhưng vì thế nhiều nét pha tạp cũng đã làm biến đổi diện mạo cảnh xưa. Ôi đến bay giờ ta mới cảm thấy công đức của Thượng Tọa Thích Viên Thành là lớn lao thế naò. Một mình thượng tọa đã xây dựng lên cơ sở vật chất cho cả khu chùa Hương, kéo điện về đây quả là một kỳ công, những cây cột điện leo lên đỉnh nuí, nằm lẫn trong ngàn mai khiến cho cảnh u tịch không rời xa trần thế nữa. Ta cảm thấy nhớ thầy biết chừng naò, thế là Thượng Tọa đã đi xa được 3 mùa hoa mơ nở. Tiếng mái chèo rẽ nước roách roách đưa đò đi trong mộng tưởng. Mình ngồi bên ta, tay nắm lấy bàn tay chia nhau chút hơi ấm trong giá lạnh dù cho trời đã hửng nên một chút dương quang. Này mình ơi, mình cứ ngồi bên ta nhé, để cho tình yêu của chúng ta lên men say như hương hoa mơ vào kỳ đọng mật. Đây suối Yến vĩ đong đưa uốn lượn giữa hai bên mạ non và dâu ươm xanh mát. Mình có còn giận ta nữa không mình, thôi bỏ hết nhé, ta có nhiều lỗi lầm trong cuộc sống nhưng ta đã có mình phải chăng đấy là quả hạnh lớn nhất của đời ta. Này mình ơi, giá cứ được thế này thích nhỉ? Câu nói của Chí Phèo tự nhiên bật trong hồn ta. Tình yêu muôn đời tuyệt diệu, có thể biến một kẻ lưu manh thành thánh thiện. Hạnh phúc là gì hả mình ơi, phải chăng đó là những giây phút sống toàn tâm vì nhau. Bỏ hết nhé những hờn giận để sống với nhau đúng đạo vợ chồng. mình chẳng nói gì, nhưng qua những yên ba dào dạt trong mắt mình, qua đôi má ửng đào xuân tình của mình, ta hiểu hết. Ta đã ngộ điều ấy trong sự yên lặng của đất trời và của cả mình nữa.
Trong hồn đầy tiếng chim
Đừng nói gì lặng im
Có phải thế không mình? Những hạnh phúc lứa đôi đâu chỉ toàn ngọt ngào. Nó còn bao gồm cả đau khổ nhục nhằn khi ta hướng về nhau. Yêu nhau là tận hưởng nhau cũng như chịu đựng thông cảm cho nhau mình nhỉ?
Đến đền Trình Ngũ Nhạc rồi đấy, mình soạn lễ lên trình Trời Phật đi. Ta ngồi lại cùng sư ông nhẩm khe khẽ bài Bát Nhã Tâm Kinh. Quán tự tại Bồ Tát hành thâm ngũ uẩn giai không, sắc tức thị không, không tứ thị sắc... cuộc đời này có cái gì là thực đâu nhỉ, tất cả đều chỉ là mộng tưởng, thực tướng của nó là ảo giác mà chúng ta chấp vaò. Yết đế yết đế ba la tăng yết đế tát bà ha Shivra. Phải vượt thôi hỡi các bồ đề hành giả, vượt đi thôi, sang bến kia đậu tại bến kia. Rồi mai kia tấm thân ảo này cũng trả lại cho Tứ Đại ta lại về với ta.
Tiếng Xuân Hinh eo éo hát hầu đồng ông Hoàng Bơ vang ra từ chiếc loa khiến cho mấy khách du lịch Tây chú ý. Có gì đâu những người ngoaị nhân, mỗi dân tộc đều có một thú thuốc phiện riêng. Âm nhạc và sắc mầu của hầu đồng Viẹt nam cũng có khác gì những lễ Bí tích Thánh chứng của các vị. Hãy nghe đi và các vị sẽ thực chứng một Việt Nam lúa nước. Đây ông Hoàng Bơ phi ngựa, ông Hoàng Bơ múa kiếm, ông hoàng Bơ uống rượu. Tiếng sênh phách vang lừng chen trong tiếng trầm đục đàn nhị khiến cho con người ta dễ rơi vào ảo mị lắm mà quên đi thực tại nhọc nhằn. Thế mới là hội chứ, thế mới là gọi là vui như hầu đồng chứ.
Kìa mình đã ra rồi đấy à, đã trình xong rồi đấy à. Mình có hiểu thế nào là Trình không, có nghiã là khai báo hộ khẩu tạm trú tạm đến với trời đất đấy. Để các vị ấy bảo hộ cho ta được ung dung hành hương, hưởng một năm an hòa thái lạc. Ngẫm mà thương cho những người dân ở khu gang thép Thái Nguyên lên thời sự hôm qua. Mấy chục năm nay, những con người góp phần dựng lên một khu công nghiệp mà sống trong lãng quên của cuộc đời, sống không có hộ khẩu mấy chục năm qua. Họ sẽ trình với Trời đất cái gì nếu họ đến đền Trình?
Ta đi tiếp thôi bác đò ơi, bác hút với ta một điếu thuốc cho ấm nhé còn ta không cho thêm gì nữa đâu
- Dạ nhà đò đâu dám vòi khách của nhà chùa và chú Báu. Ma ăn từng mặt anh ạ.
Đò lại trôi trong tấp nập ngược xuôi đò vào đò ra. Ta đang vào hay đang ra, đang vào đâu hay ra đâu. Nơi kia có phải đích cuối không? Ta không biết, ta chỉ quán tưởng một âm AAAA huyền diệu. Mọi thứ đều hư aỏ, chỉ có âm A là triệt để. Đi thôi mình ơi:
Cùng trên một chuyến đò ngang
Người thì sang bến kẻ đang đường về
Lái đò tỉnh tỉnh mê mê
Băn khoăn nào biết mình về hay sang
Dòng Yến Vĩ vẫn trôi như tự thuở hồng hoang. Trên dòng nước này đã biết bao tao nhân mặc khách đã soi bóng xuống đây. Nào đâu là Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm với bút lực như thần đã khắc lên đây 4 chữ Sơn Thủy Hữu Tình; nào đâu là Chu Mạnh Trinh đã thoát tục nhập thiền để hát lên một Hương Sơn Phong Cảnh Ca giai tuyệt; nào đâu là nỗi đau khắc khoải của Tản Đà khi không được dạo gót tiên cảnh mà thưởng bát canh rau sắng.
Bầu trời cảnh bụt
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non nước nước mây mây
Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải
Vâng thưa tiền nhân, trên con đường ngài đã đi qua, ta cũng băn khoăn liệu đệ nhất trời Nam cảnh sắc đó liệu có chịu cái lẽ Vô thường của cuộc đời? Núi Đổi Chèo đột nhiên bị sụt, biến hình làm cho ta càng thấy cái mong manh của cõi ta bà là thực. Nhìn nước non phơi phơi xuân tình mà cảm thấy cái ngu dốt của dự án cáp treo định làm từ bến Yến đến bến Trò. Đi chùa Hương mà ngồi thỗn thện trên cao, lao vun vút thì còn gì là thú nữa. Nếu ngắm cảnh chùa trên phương tiện văn minh đó thì có khác nào ăn phở bò đóng hộp. Ta phải nhẩn nha thế này mình ạ, đủng đỉnh như đò đầy, ngắm nhìn muôn ngàn hồng tía thả cho tâm trí phiêu du trên sóng nước, theo cảnh sắc thần tiên mà thoát tục. Mà mình nhìn kià, hòn kia trông có giống đôi nhũ hoa của thiếu nữ không, còn cái hòn kia nữa, bao nhiêu là tưởng tượng mình nhỉ. Cứ phải là đò chèo tay, chứ thuyền máy đã làm cho hương vị phai lạt lắm rồi huống chi là cáp treo. Chưa kể đến độ dài của quãng đường lắp cáp càng lắm thì mức độ thất thoát tiền của càng cao, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái càng nghiêm trọng. Mình thấy đấy chỉ vì lợi nhuận kinh doanh mà họ đã phá tan rừng mơ trên đường lên Hương Tích, muốn ngắm hoa mơ thì mai ta phải sang Tuyết Sơn. Mình có đồng ý với ta không, đúng là phải đi đò chèo tay mình nhỉ. Ta quên chưa kể cho mình những cái tết Trung Thu những năm về trước, ta cùng hội bạn đi vào Hương Sơn vào đêm rằm. Ngồi trên đò thưởng trăng uống rượu hàn huyên trong một khung cảnh tịch mịch vắng vẻ, trăng ở trên đầu, trăng ở dưới chân, trăng trong chén rượu, trăng trong khóe mắt tri giao mới làm ta thâý thực nghĩa của câu Hàn Nguyệt Thu Thuỷ. Thôi mình ơi, ta tạm bỏ chuyện quá khứ và phiền não đi, tương lai không vọng tưởng, quá khứ không truy tìm, chỉ có pháp Hiện taị. Hiện tại đây là mình và ta đang âu yếm bên nhau cùng ngồi trên chuyến đò duyên. Ta có nhau rồi, đi chùa để chia hương lửa đâu phải như cô gái của Nguyễn Nhược Pháp đi chùa để kiếm khách văn nhân.
Đến núi Đổi Chèo là đã được một nửa chặng rồi đấy mình ạ. Mà việc sử dụng tiếng Anh ở nước mình buồn cười thật, Doi Cheo Mountain là cái quaí gì nhỉ? Sao không chua thêm The Rowwing- wing change Mt có phải để khách ngoaị quốc rõ nghĩa hơn không. Nói đến đây ta nhớ đến một cái tên công ty buôn bán đồ dùng của trẻ em được dịch sang TA như sau: Baby Trading Company. Nghe cứ tưởng công ty này chuyên buôn bán trẻ em. Mà cũng chả trách được, cái chuẩn giáo dục ở nước mình nó như con thò lò sáu mặt, biến hóa linh tinh.
Tới bến Trò rồi mình ạ. Xin thỉnh sư ông cùng mọi người lên bến. Nào bác đò, đúng 11h trưa ngày mai đến đón chúng tôi nhé. Náo nhiệt chưa mình, tiếng loa điều hành đò, tiếng loa quảng cáo bán hàng nào là Bánh mỳ kẹp xúc xích, nào là món mới Thịt chế biến bằng lò vi sóng, nào là đủ thứ bà rằn oang oang chen nhau nói. Thôi nào ta xốc ba lô lên bờ thôi. Cầm tay nhau leo lên Thiên Trù mới cảm hết cái nghiã: Nhẹ gánh ba lô nặng gánh tình là như thế naò? Dọc dường la liệt những hàng bán trứng luộc, sắn dây luộc, và hàng lưu niệm với 99% chủng loaị hàng có xuất xứ trung quốc và hàng giả. Nhưng năm nay có một đặc điểm đáng lưu ý là số lượng ăn mày mất hẳn, không biết do chưa phải chính hội nên chưa có ăn mày hay do BTC quản lý tốt. Thôi ta mặc kệ, mặc đám đông chen lấn, mặc những tiếng chào mời: Nghỉ chân uống nước, ăn quà các bác, anh chị ơi. Ta lên chùa cùng lễ phật đã. Ngày mai 12 âm là ngày giỗ Tổ nên người đi đông lắm, nhộn nhịp lắm. Chia tay sư ông sau một chặng đường, lưu số điện thoaị hẹn ngày lên chùa Thầy gặp gỡ, ta và mình lên sau Đài Quan Âm ăn trưa. Chốn này u tịch vốn là nơi nghỉ ngơi của cố Thượng Tọa đấy mình ạ, mùa hè nước trên núi đổ xuống tạo thành dòng suối trong lành. Còn kia là khu biệt lập nơi mà ta đã ở đó suốt cả tháng làm chấp tác. Nâng ly bia uống mà thấy tấm lòng khoan khoaí, đúng là mình chuẩn bị cẩn thận không thừa nhỉ. Giá cả trên này thì cứ cộng thêm 60 đến 80% vào giá gốc. Ta cứ nghỉ ngơi cho thanh thản đi, chia nhau miếng bánh mà mắt long lanh tình tứ. Rồi tí nữa ta vào thăm sư ông Minh Hiền trụ trì ở đây nhé. Sư ông cũng là người Nam Định ta, lên thay Thượng tọa quản lý ở đây. Ăn nữa đi mình, để đến khi leo núi thì hành lý nhẹ bớt đi mình ạ. Hồi trước ta đi thăm quan du lịch, chỉ nhận mang phần nặng nhất là balo đựng bia. Vừa đi vừa uống vừa khỏe khoắn lại vừa nhẹ nhàng.
Đây nhé, đây là phòng sư ông Minh Hiền, ta vào nhé. Mình đừng ngại gì cả, những bậc tu hành có gì đáng ngại đâu. Họ từ bi bác ái hơn xếp chỗ ta nhiều, họ không thớ lợ dùng thủ đoạn xảo trá để ứng phó với ta. Nếu mình ngại thì mình ngồi đây nghỉ để ta vào nhé. Mình cứ đi thắp hương các ban thờ Phật đi, rồi quay lại đợi ta ở vườn đào này nhé.
- Adi đà Phật, năm mới con lên chùa vãn cảnh và chúc tuổi sư ông.
Sư ông Minh Hiền ngẩng lên:
- À chúc con một năm mới an lạc. Thế đi một mình à?
- Dạ con đi với vợ con. Năm mới mà trông sư ông tất bật thế ạ?
- Ôi nhiều chuyện lắm, vừa mới khai hội hôm 6 Giêng đã phải lo lễ ngày mai rồi. Thầy mừng tuổi cho con chút lộc chuà. Mà tí nữa xuống trai phòng lấy chỗ nghỉ nhé, cầm cả tấm phiếu này xuống bếp báo cơm.
- Dạ sư ông cứ để con tự nhiên. Con và nhà con cứ lang thang thôi ạ. Việc nhà chùa ngày mai con xin trở lại chấp tác. Còn bây giờ con đi lễ Phật đây ạ.
- Ừ thôi, chẳng nên ép cảnh ép tình.
Lại thấy mình đang ngồi dưới một gốc bích đaò, mặt em hồng làm cả rặng đào hoa hồng lây hay sắc thắm hoa đào làm mặt em hồng vậy, ta chẳng biết mà chỉ lâng lâng một cảm xúc tuyệt vời, em đẹp quá người vợ của ta ơi. Nhân diện đào hoa tương ánh hồng phải chăng cũng chỉ đến mức naỳ em ạ. Nào em đã hồi lại sức chưa? Em khỏe lại rồi anh ạ, chẳng hiểu sao ngồi tai đây lại thấy khỏe khoắn hơn, dù cho em vốn không quen vận động. Sư ông bảo chúng mình tối nay nghỉ tại trai phòng, em có đồng ý không? Thôi mình ạ, em vốn ngại ngủ lại chùa, vợ chồng mình cứ nhàn du, mệt đâu thì nghỉ lại đó thôi. Ừ thế cũng được. Bây giờ ta lên động Đại Binh nhé. Vâng. Một tiếng vâng nhẹ nhàng của mình làm ta khoan khoaí, hạnh phúc là đây chứ hạnh ở đâu, vốn cái gì càng đơn sơ thì càng cao quý. Như các lối vào chốn thâm nghiêm, nhỏ nhoi, đơn giản sắc nâu sồng, không bôi sơn son thiếp vàng chi cả mà sao ta bỗng thấy dậy lòng thành kính khi bước qua đây. Bỗng nhớ đến các tấm cổng của chùa Đại Bi bên Nam Ninh - Nam Định, chùa thì to rộng hoành tráng, nhưng cổng thì rất bé thấp. Hỏi ra thì mới hay rằng, đã vào chốn này thì phải thủ lễ tôn nghiêm, ra luồn vào cúi tỏ lòng trọng Tam Baỏ. Nếu ai nghênh ngang hẳn sẽ bị u đầu mẻ trán chứ chẳng chơi. Ta dắt nhau qua sân Thiên Trù bỗng không gian bừng lên một mùi thôn dại của hoa ngâu hoa soí. Khói hương khói mã bốc mù trời, ồn ã những thanh âm trần thế. Thật là lạ mới chỉ cách nhau gang tấc mà không gian biến đổi trái ngược nhau hoàn toàn, ra thế ranh giới giữa đạo và đời cũng manh mong lắm, mong manh như lòng người ta vậy, chỉ cần lấn một chút đã thành ma thành quỷ, hối lại dăm bước đã thoát tục mình ơi. Thế nên ta phải vô cùng thận trọng khi sống với nhau mình nhé, buông tay thôi, sơ ý thôi là chén bát chẳng lành. Nào nắm lấy tay ta naò, đường lên động Đại Binh khúc khuyủ lắm đấy, lên 2 lần dốc xuống 2 lần dốc. Thôi ta cứ nắm lấy tay nhau mà đi mình ạ, miệng ta cứ niệm hồng danh Phật thì sẽ có đủ sức mà đi thôi. Chúng ta còn phải đi với nhau đến trọn cuộc đời nữa cơ mà, ma chướng còn nhiều lắm nhưng niềm vui hoan lạc cũng còn nhiều lắm. Đường lên cao cao đường xuống chênh chênh, 2 kẻ hành nhân mải miết đi khi sương núi đang lan toả, kẻ ngược kẻ xuôi đầy lối nhỏ nhưng nào ta có nhìn thấy ai đâu, chỉ có đôi ta hòa tan vào không gian tịch mịch. Những tiếng động trước cửa Thiên Trù đã biến mất sau con dốc, có chăng chỉ là tiếng hơi thở của mình phà nhẹ bên màng tai ta. Mình cố gắng thở nhẹ nhé, đừng thở mạnh mà mau mất sức lắm, thở thật nhẹ theo lối quy tức vậy mình ơi. Khi bước chân xuống thung lũng, ta thấy cả nơi đây như một đàn tràng Mandala cúng dường Phật, những trái núi xung quanh nhô lên như những cánh hoa sen xanh, khí núi lảng bảng tựa khói tâm hương bay quanh quẩn maĩ. Và đôi ta là 2 vật phẩm dâng lên trời Phật, mong cho trời Phật phù hộ cho đôi ta sắt son cầm sắt. Đi nữa đi mình, sau con dốc này là ta xuống động Đại Binh rồi, mình ơi em không hiểu sao lại gọi là động Đại Binh, tại sao chốn huyền không lại có một địa danh quân sự. À trước đây trong phong trào Cần Vương, có một ông Đề lĩnh đã khởi nghĩa theo hiệu triệu Hàm Nghi, ông sát nhập nghĩa quân của mình vào nghĩa quân Bãi Sậy nhưng sau khi Nguyễn Thiện Thuật mất ông lui binh về Hương Sơn cố thủ. Động Đại Binh là nơi ông đóng quân mình ạ. Tới Đại Binh thì trời đã dần tối, bây giờ vào khoảng cuối giờ Dậu, bóng tối đã nhá nhem liếm dần từng khoảng không gian. Ta vào lễ thì ít mà ngắm cảnh phần nhiều. Những pho tượng hay ban thờ Phật ở đây hầu hết là được đưa vào sau năm 75, nhưng có sao đâu mình, mười phương Phật pháp thì đâu chẳng là cõi Phật. Quán nhỏ trước tượng Phật chỉ còn một chú nhỏ bán hàng. Trong mùa lễ hội, các em nhỏ ở đây hầu hết bỏ học để ở nhà bán quán giúp bố mẹ, việc học hành ỏ đây gần như bị coi nhẹ. Hơn thế nữa cả năm chỉ có dịp này là kiếm tiền đáng kể cho cả năm. Vì vậy có các vàng cũng không em nào đi học. Hình như các quán hàng đều đuợc trang bị một VCD quảng cáo về chùa Hương mà ở đâu cũng chỉ mở một thể loaị rất buồn cười, cậu nhỏ dường như đã thuộc hết cả lời bình, nói theo không sai một từ.
Trong động đã vãn hẳn khách, điện đóm sáng trưng chỉ còn 2 thanh niên mặc áo nâu sống đang kiểm tra tiền công đức. Vẫn vậy thôi, không có gì thay đổi nhưng phải thừa nhận họ kiếm tiền bằng đủ kiểu thật. Bất kỳ một gốc đá hay thạch nhũ nào đều được đặt tên và bầy một bát hương. Thế là tiền thế gian đổ vào như mã. Trong mọi hình thức kinh doanh trục lợi thì trục lợi bằng tâm linh tín ngưỡng là siêu lợi nhuận nhất.
Sau nửa tiếng nghỉ ngơi, ta lại ra về, ừ tất cả chỉ là một cái hư vô, chẳng có phần thưởng nào cả. Nhưng ta cần gì mình nhỉ, một khoảng thời gian cho đôi ta bên nhau không bị xã hội làm phiền soi mói chẳng đã phải là một phần thưởng lớn lao rồi chăng?
Quay lại Thiên trù quãng tầm 7h30. Đi tìm quán trọ thì hôm nay cháy chỗ. Vừa ngày cuối tuần lại vừa ngày kỵ tổ. Chỗ nào còn trống thì hô giá 120 -150 k một chiếu. Không những thế họ còn ngúng nguẩy baỏ: Khách đang vào nhiều lắm, chậm tí nữa là chỉ có nước ngủ ngoaì sân. Bỏ hết, ta lần mò lên sau nuí, có một quán trọ nhỏ, chưa có ai, anh chủ nhà baỏ: ở đây khuất nẻo chỉ có 40 nghìn một chiếu thôi. Tốt rồi, việc gì cứ phải ở dưới kia vừa đắt lại ồn ào mất an ninh. Anh chủ trẻ, tên Nguyên có quán bán cạnh đường lên Đại Binh, mặt trông trẻ trung hơn cái tuổi 37. Sau khi để gọn hành lý, ta đi ăn cơm. Ăn uống ở đây phải thật cẩn trọng, chủ hàng và khách nhìn nhau như quân thù, hỏi giá trước không dễ bị chém đứt ví như chơi. Một đĩa đậu sốt 10 nghìn, một đĩa bò xào 20 nghìn- kèm theo tiếng nguýt rằng ai xào 20 và một bát canh sắng 30 nghìn. Gọi là canh rau sắng nhưng chỉ toàn thân là thân chứ chẳng có lá hay ngọn đâu, ăn xong thì thay làm tăm cũng được, dù sao cũng rất ngọt nhưng hình như là ngọt mì chính. Đây chưa phải là mùa rau sắng. Đang ăn thì có tiếng cãi nhau. Một ông khách Hà Nội sửng sồ: Một điã tôm hấp có 4 con mà tính 190 nghìn, một điã bò xào không hỏi giá được tính 100 nghìn, bia Hà Nôi tính 15 nghìn một lon. Thế là tổng cộng bữa cơm hết hơn 400 nghìn. Nếu ăn ở Lan Chín thì giỏi lắm hết gần 100 nghìn. Ta nhìn nhau lè lưỡi. May mà đã phòng bị trước không thì tí nữa lại cãi nhau. Mà ta thì tính nóng. Mô phật.
Sân tấp nập, người dưới bến mới vào lũ lươt. Một bà già khoảng 80 mắt nhắm tịt nhưng vẫn cứ đi bộ giữa 2 người con cháu mặc cho có một thiếu phụ khác lẽo đẽo theo sau xin cõng với giá rẻ. Ở đây cái gì cũng có thể kinh doanh. Bạn cần người mang lễ, có ngay. Bạn cần người bế trẻ có ngay. Bạn cần người cõng bố mẹ già, có ngay và thậm chí cả bạn nữa, nếu bạn có nhu cầu, có tiền và có khả năng chịu mùi hôi hôi thì xong ngay. Mùi cá mực nướng bay mù mịt làm ta cứ tưởng đang đi trên phố Hàng Bồ nhưng giá ở đây thì hàng Bồ gọi bằng bố. Cái gì cũng có, cái gì cũng kinh doanh. ở chỗ naỳ: Nhà Tắm Lan Hương xin hân hạnh phục vụ quý khách, nhà tắm chúng tôi có bồn nóng lạnh , có gương sen có xà phòng và dầu gội với hương thơm hảo hạng. Chúng tôi cũng xin giặt quần áo cho quý khách, chỉ sau vài tiếng là quý khách đã có bộ quần áo thơm tho hảo hạng. Nói chung cái gì cũng hảo hạng. Ở chỗ kia phát ra một âm nữ trầm nghe như chị Kim Tuyến, nhưng nghe đến câu : Hương Tích nà chốn tâm ninh thì biết rằng ta nhầm. Chen vào đó là tiếng loa của BTC làm dịch vụ tìm người nhà: Chúng tôi nhắn cho bố chúng tôi là ông... hiện ông đang ở đâu thì về ngay nhà trọ... chúng tôi đang chờ.
Thật kinh khủng ngay lối lên Thiên Trù là một bãi nôn, tác giả của nó chắc là một trong những người đang nhậu ở đây, họ đang làm một hành động muôn thuở là nâng cốc lên là hô 123 dzô. Không bao giờ ta tham gia vào trò này nữa vì đứng ngoaì cảm thấy rất phản cảm. Các sới bạc đang vào đà, chắc đêm nay khách hành hương lại ngồi sát phạt nhau trắng đêm để ngày mai lại gà gật trên đò ra.
Ta đi ngủ sớm đi mình ơi, sáng mai phải lên Hương Tích từ 3 giờ sáng đấy, nếu đi muộn là lúc xuống thể nào cũng tắc đường đoạn Giải Oan. 2 vợ chồng chìm vào giấc ngủ chập chờn, bỗng dưng mình giật tay ta:
- Hình như mưa anh ạ. em nghe thấy có tiếng nước chaỷ.
Ta lắng nghe và không baỏ:
- Không phải đâu mình ơi, có ai đang tiểu tiện vào tấm bạt bên giường đối đấy, chẳng khai mù lên bây giờ. Thôi kệ cõi tục, ta ngủ đi mình ơi.
Một ngày ngày đã qua.
manutd
04-18-2007, 09:05 PM
Hát Văn
Hát văn hay còn gọi là hát chầu văn. Chầu văn là loại hình ca nhạc chuyên sử dụng trong các nghi lễ thờ cúng ở các đền miếu xưa, đặc biệt là khi ngồi đồng. Nhạc cụ dùng trong hát văn gồm đàn Nguyệt, trống đế, thanh la và phách. Người ca sĩ được gọi là cung văn, thông thường là người vừa hát giỏi, vừa biết nhiều làn điệu, vừa biết chơi nhạc cụ.
Hát văn là một hình thức hát thờ, hát trong khi ngồi đồng nên các làn điệu và lối hát cũng phụ thuộc vào cuộc lên đồng. Khi mở đầu buổi lên đồng cung văn hát điệu sai quan tướng điệu này tiết tấu nhanh, gấp; sau đó khi đồng nhập thì hát chầu văn thờ để ca ngợi công tích hay sự tích các thánh, sau đó chuyển hát dọc để kích thích khả năng thăng thoát của người ngồi đồng, điệu này nhạc dồn dập, tưng bừng. Khi nhân vật đã nhập vai các thánh và “làm việc thánh” thì chuyển điệu cờn là điệu thức cao hơn dọc một cung bậc. Tuy nhiên khi người ngồi đồng vào vai thánh nào thì người hát phải chuyển giọng theo ngôi thánh đó cho phù hợp (nhận biết ngôi vị này qua cách phục trang trong giá chầu).
Hát văn và hầu bóng một (cách gọi khác của ngồi đồng) ngờ rằng có nguồn gốc từ văn hoá ca múa nhạc tôn giáo của người Chăm nên trong các điệu thức cuả hát văn cũng có điệu hát giàn (điệu hát của người Chăm). Mặt khác cung văn khi hát cũng phải hát sao cho thể hiện tâm lý tình cảm của các nhân vật nên giọng hát phải chuyển đổi luôn luôn. Vì thế mà chỉ trong một thể hát thì cũng có nhiều dạng khác nhau: thể phú thì có phú dựng, phú chênh để diến tả tâm trạng vui, phú rầu để diễn tả tâm trạng buồn. Những khi thay đổi như thế thì âm nhạc đều chuyển điệu thức 5 âm để phụ hoạ theo. Nói chung hát văn không chỉ khó mà còn đòi hỏi cung văn phải nhanh, linh hoạt để vừa có thể chuyển lời, giọng và nhạc cho ăn khớp mà vẫn hay vẫn sát vai của người ngồi đồng mà vẫn thể hiện được tài năng riêng của mỗi cung văn.
Nếu như không khí, nhịp điệu trong ca nhạc ca trù thính phòng là êm đềm, réo rắt, bổng trầm thì không khí, nhịp điệu trong hát văn ngược lại hẳn. Nó mang tính chất sôi nổi, kích động cộng với trống phách, thanh la rộn ràng làm cho buổi hầu đồng luôn trong không khí tưng bừng.
Lời văn trong hát văn cũng phổ từ thơ ca dân gian, đôi khi vay mượn cả trong các tác phẩm văn thơ bác học và thường là thể lục bát, lục bát biến thể , thất ngôn, bốn chữ. Nội dung thường là kể về công tích, kỳ tích cũng như sự tích các thánh thần, vì thế mà giai điệu của hát văn khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vui tươi. Với tính chất này hát văn ngày nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi dùng trong nghi lễ mà hát văn cũng được coi như một hình thức ca nhạc dân gian vui tươi lành mạnh và đưa ra công diễn trước đông đảo quần chúng, bước đầu đã có những thành công đáng kể.
manutd
04-18-2007, 09:07 PM
Tiền thày nhiều như nước
Thày Hồ tiếp phóng viên chúng tôi trong ngôi chùa Giác Nguyên, nằm lạc lõng trong ngõ 251 đường Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội. "Ngôi chùa" của thày Hồ, theo lời những người dân sống xung quanh, từng bị cơ quan văn hóa quận đến gỡ biển "Di tích văn hóa lịch sử" nhiều lần, cứ tháo xuống thì thầy lại treo lên.
Hoạt động tín ngưỡng duy nhất ở chùa của thày chỉ là những buổi hầu bóng, hầu đồng, không có người dân nào tới lễ Phật cả.
Chùa Giác Nguyên của thày Hồ chật ních những hòm xiểng, túi bị đựng trông khá nhếch nhác và bụi bặm. Vẻ "linh thiêng" duy nhất toát ra được từ những họa tiết rồng phượng và các chùm hoa quả bằng nhựa gắn đầy trên tường. Ngôi chùa rộng khoảng 100 mét vuông trông giống cái nhà kho hơn là nơi thờ cúng, mặc dù theo lời ông thì nơi này xưa kia chỉ những bậc vua chúa mới được đến lễ Phật.
Ba ngày sau khi báo công an bị mất trộm 2,5 tỷ USD và rất nhiều vàng bạc, ngọc bội, kim cương, tượng đồng đen..., thày Hồ trông vẫn rất phong độ và bình tĩnh trong bộ đồ tu màu vàng với vô số dây chuyền, lắc tay, nhẫn vàng... nặng trĩu trên người. Thày tâm sự: "Suốt mấy ngày nay, thầy vẫn chưa hết bàng hoàng và rất mệt vì liên tục phải giải trình với công an và báo chí. May mà 400.000 USD còn lại đã được cất giữ ở một nơi an toàn nên đêm qua thày mới chợp mắt được!". Thày rất tự tin: "Tiền thày nhiều như nước!". Có lẽ bởi tiền thày quá nhiều nên khi báo mất cắp lần đầu với công an, thày khai bị mất 25 tỷ USD. Ngày hôm sau, tĩnh trí hơn, thày khai lại: số tiền mặt chỉ là 2,5 tỷ USD, còn số châu báu gồm 500 viên kim cương, 5 viên ngọc tỷ truyền quốc mỗi viên to bằng quả trứng vịt và 4 pho tượng cổ bằng đồng đen cao 50 cm thì hoàn toàn chính xác.
Thày Hồ mang ra tờ khai hộ khẩu (bản photo) cho các phóng viên xem, trong đó có ghi thày tên thật là Lê Quốc Hồ, sinh ngày 15/9/1952, nguyên quán quận 1, TP HCM, hộ khẩu hiện nay ở 3/96 Lò Đúc, Hà Nội. Thày cho biết từng là hòa thượng (nhưng không nói rõ tu ở chùa nào), bác sĩ Đông y, giáo sư thần học, tiến sĩ tâm lý học, tu nghiệp ở Pháp, Nhật... Nhưng tất cả bằng cấp cũng đã bị mất trong vụ mất trộm vừa rồi.
Trở lại chuyện mất cắp số tài sản cực lớn khiến nhiều người hoài nghi, thày chứng minh số tài sản đó là có thực bằng cách đưa ra một tờ giấy biên nhận (bản photo) trong đó ghi nguyên văn: "Hòa thượng giữ của dòng họ 55 tỷ 202 do cụ Nguyễn Thị Vượng để lại của gia tộc cho thầy Hồ quản lý (Hòa thượng Thiện Đức Thích Giác Nguyên) trụ trì chùa Giác Nguyên (triều Vua Lý là Phật Linh tự) 251/4 Ngô Gia Tự, Long Biên, Hà Nội. Điện thoại cụ Vượng: 6520277 - Thày Lê Quốc Hồ kể từ 9h20' sáng 2-9-2000 toàn quyền thừa hưởng". Bản biên nhận chỉ có chữ ký của người giao là Lê Quốc Hưng và chữ ký người nhận là Lê Quốc Hồ, ngoài ra không có "dấu má", "ấn triện" gì.
Nói về nguồn gốc của số tài sản trên, thày Hồ cho biết: "Họ hàng nhà thày ở Pháp, Anh, Đức, Mỹ.... có hàng nghìn người. Hơn 30 năm nay đã gửi của cải về, tích cóp đến ngày nay mới được số tiền lớn thế. Ba năm trước (năm 2002), cha mẹ của thày đã trao lại số của cải này cho thày và dặn đến năm 2005 thày sẽ mang toàn bộ số tiền này xây dựng một bệnh viện Hoàng Gia hay bệnh viện Vì Dân để chữa bệnh miễn phí cho nhân dân. Kế hoạch đã được thày vạch ra cụ thể và thày đã cùng với người em họ là ông Nguyễn Hữu Khai, Tổng giám đốc Công ty Đông Nam dược Bảo Long, chuẩn bị thành lập Hội đồng quản trị".
Toàn bộ số tiền và cổ vật trước đây được cất giữ tại tư gia của ông Khai, một nơi mà theo thày Hồ là rất an toàn. Đến sáng ngày 12/10, trong cuộc bàn bạc về kế hoạch "giải ngân" và thành lập bệnh viện, ông Khai tuyên bố: không có tên thày Hồ trong danh sách Hội đồng quản trị. Bất đồng này đã khiến thày Hồ quyết định rút hết tiền và đồ cổ về. Ngay hôm đó, thày đã dùng một xe ô tô 7 chỗ chở hết số của cải đó về cất cất giữ tại chùa Giác Nguyên.
Gian phòng nơi thày Hồ cất tiền và châu báu rộng khoảng 10 mét vuông, chật ních, lộn xộn và tối tăm những thùng, hòm, vật gia dụng. Thứ duy nhất chứng tỏ thày là một bác sĩ là một tủ kính nhỏ chứa nhiều loại thuốc tây cũ kỹ và một vỏ chai truyền dịch còn cắm nguyên kim truyền. Áp sát tường là một chiếc hòm sắt nhiều ngăn giống loại thường dùng để đồ của khách hàng ở các siêu thị, mỗi ngăn tủ có một ổ khóa mỏng manh. Trong những ngăn tủ đó, thày Hồ nói đã để toàn bộ số tiền 2,5 tỷ dưới dạng những cọc đôla được buộc chặt và rất nhiều vàng bạc, dây chuyền, ngọc bội... Tầng xép của gian phòng làm bằng gỗ ọp ẹp là nơi thày Hồ nói để 4 pho tượng và một phần châu báu... Gian phòng có một cửa sổ nhỏ nhìn ra con mương nhỏ phía sau chùa, ngăn cách bằng một lần chấn song sắt kiểu hoa mỏng manh, tiếp đến là một lớp cửa làm bằng gỗ tạp cũng rất mỏng, cài bằng 3 cái chốt sắt sơ sài. Không một ai có mặt trong "kho báu" của thày dám tin rằng số tiền cực lớn đối với cả ngân khố quốc gia ấy lại từng được cất giữ tại đây.
Thày chỉ những chấn song cửa sắt bị cắt thành một ô vuông khoảng 40 x 70 cm, khẳng định: bọn trộm đã đột nhập và chuyển 18 va ly, 4 thùng tôn, 80 thùng tiền giấy cùng 4 pho tượng đồng đen qua lỗ này. Có thể chúng ném các thùng tiền qua tường để tẩu tán cho nhanh".
Khi phóng viên hỏi thày Hồ đã có tin gì từ phía cơ quan điều tra về tung tích tên trộm chưa thì bất ngờ được thày trả lời rất nhanh: "Đã bắt được rồi! Công an đã lấy dấu vân tay, kết hợp lời khai của thày và đã bắt giam Khánh, cháu rể của thày!".
Theo lời kể của thày Hồ, Khánh (khoảng 30 tuổi) là chồng của Hằng, con gái bà chị nuôi của thày. Đã 5 năm nay, hai vợ chồng Khánh không hề đến thăm thày. Khoảng 10h30 sáng 14/10, cả hai vợ chồng Khánh và Hằng đột nhiên ghé vào chùa, nói với thày cho lễ Phật rồi sau đó ngồi chơi với thày đến tận 5h30 chiều mới về. Trong suốt quãng thời gian đó, thày Hồ cùng vợ chồng Khánh - Hằng mang "cả thúng" dây chuyền, nhẫn quý và nhiều đồ trang sức khác trong kho ra ngoài bàn nước ngoài hiên thử đeo hết cái này đến cái khác. Bản thân thày Hồ cũng thường đeo nặng cổ đồ trang sức và thày nói rất hay cho người thân, họ hàng, những người "chị nuôi, cháu nuôi" vàng bạc. Đến xẩm tối, hai vợ chồng Khánh - Hằng xin phép ra về để đi Bắc Ninh. Đến 8h30 tối, hai người quay lại biếu thày 4 cái bánh. Thày Hồ cảm động lấy một cái nhẫn bạc mặt gắn đá ruby đỏ cho Hằng. Hằng kêu không vừa, đòi đổi. Thày liền mở tất cả các ngăn tủ cho Hằng lựa chọn.
Sau khi hai vợ chồng Khánh - Hằng về, thày Hồ phát hiện họ bỏ quên một chùm chìa khóa có gắn con gấu bông. Lát sau, hai người quay lại, xin vào buồng để tìm chìa khóa. Thày Hồ nhớ lúc đó, tất cả chìa khóa của các ngăn tủ thày vẫn cắm trong ổ khóa và không nghi ngờ gì hai người thân thích.
Đêm 14/10, thày Hồ cùng 10 học trò và người giúp việc ngủ ngay trên hiên nhà thờ. Sáng hôm sau, lúc thày tỉnh dậy thì tất cả mọi người vẫn đang say ngủ, bên cạnh chỗ thày nằm là những miếng khăn giấy trắng vương vãi. Thày khẳng định kẻ trộm đã dùng những khăn giấy này tẩm thuốc mê để đột nhập vào nhà. Thày còn cho biết, hai con chó thày nuôi thường ngày rất thính cũng bị đánh thuốc, ngủ mê mệt đến tận 9h sáng mới tỉnh lại. Ngay lập tức, thày Hồ gọi điện đi khắp nơi báo việc mất trộm.
Trong buổi tiếp chuyện sáng nay, phóng viên Ngôi Sao hết sức bất ngờ khi thấy thày đang nói chuyện rất hăng hái, khi thấy máy quay phim chĩa vào thì chỉ sau một phút cúi mặt im lặng như đang suy nghĩ, thày đột nhiên ngẩng lên và khóc nghẹn ngào, nước mắt rơi đầy trên mặt: "Tôi rất đau lòng vì sự việc này... Đây là công sức bao nhiêu năm của gia tộc...".
Thày Hồ cho hay kẻ trộm chỉ lấy đi những cọc tiền lớn và những hộp các-tông đựng đồ trang sức đã đóng gói cẩn thận. Tiền và vàng "rơi vãi" lại gồm 400.000 USD tiền mặt và những kỷ vật quý như chiếc đồng hồ Rado, chiếc bút máy của tổng thống Bush tặng khi ông sang Mỹ chữa bệnh cho phu nhân và chuỗi Thiên Hắc Thạch gồm 108 viên đá đen quý hiếm do nữ thủ tướng Ấn Độ Gandi tặng... Tất cả đã được ông gửi tại "cơ quan bảo mật" vào chiều hôm qua (cơ quan bảo mật là công an hay ngân hàng thì ông nhất quyết không chịu tiết lộ).
Trong khi dư luận xôn xao bàn cãi về số tiền 2,5 tỷ USD, ông Lê Đắc Sơn, Tổng giám đốc Ngân hàng VP Bank, cho rằng, đây chỉ là câu chuyện hoang tưởng do thày Hồ nghĩ ra. Theo ông Sơn, có thể việc mất trộm là có thật nhưng nếu là số tiền 2,5 tỷ USD thì không thể tin được. 2,5 tỷ USD là số tiền quá lớn đến ngân khố quốc gia còn "giật mình". Làm ở ngân hàng đã lâu chưa bao giờ ông nghe nói đến một cá nhân lại có trong tay số tiền quá lớn như vậy.
Theo ông Sơn, với số tiền quá lớn như thế không ai dại gì mà cất trong nhà, lại càng không gửi ở Công ty Dược Bảo Long nào đó. Hơn nữa, căn nhà gần 10 m2 thì không thể đựng hết số tiền trên chưa kể đến vàng bạc kim cương và châu báu... Muốn bảo quản, chủ nhà phải có hệ thống hầm ngầm kiên cố chứ không thể để vương vãi trong những thùng các-tông được.
Ở ngân hàng, để bảo quản tiền để không bị rách nát, mối mọt phải sử dụng đến két sắt và chất bảo quản. Vậy ông Hồ làm cách nào để giữ số tiền khổng lồ trên trong suốt những năm qua. "Theo tôi, chắc chắn có sự mờ ám đằng sau số tiền này", ông Sơn nói.
Những người dân sống xung quanh chùa Giác Nguyên thì tỏ ra rất buồn cười và chẳng ai tin vào "cái ông sư người đeo đầy vàng, thi thoảng có xe ôtô biển Sài Gòn đến đón rước và chẳng bao giờ quan hệ với phật tử trong vùng" này lại có số tiền nhiều như thế cả...
Trung tá Vũ Văn Hùng, Phó công an quận Long Biên cho biết: "Vụ việc mất 2,5 tỷ USD như lời khai của ông Hồ chưa đủ căn cứ để khởi tố vụ án, chưa bắt giữ bất cứ một nghi phạm nào. Cơ quan công an đang tiếp tục làm rõ, đến thời điểm này, chưa thể kết luận gì về vụ việc này. Tuy nhiên, thử làm một phép tính nhẩm, nếu một cọc USD dày khoảng 10 cm thì để chồng 1 tỷ USD thôi cùng dài trên 1km rồi, chứ đừng nói là 2,5 tỷ USD. Với diện tịch nhỏ bé như nhà ông Hồ thì lấy chỗ đâu đựng cho xuể".
manutd
04-18-2007, 09:12 PM
Thời trang...bóng cô
Lẵng hoa cô quảy trên vai nhịp nhàng
Thắt đai ngang, xuyến vàng xà tích
Ống vôi trầu vỏ quạch thơm cay
Yếm đào dải lụa tung bay
Áo đổi vai cô vận chen giày quai ngang
(văn Cô Cam Đường)
Những câu thơ hay, những ca từ xinh xinh như trên không phải là nhiều trong lời ca của các cung văn vẫn hát xướng trong mỗi giá đồng. Những câu thơ, lời hát mô tả về thời trang của các Thánh nữ từ hàng Chầu tới hàng Cô thường không dài nhưng đọc hoặc hát lên là thấy ngay sắc diện, vai trò của từng nhân vật. Đó cũng là những "văn bản" hiếm hoi mà những người nghiên cứu về thời trang hầu đồng có thể tìm kiếm, khai thác như những tư liệu có giá trị khoa học.
Trong văn Cô Bơ Thoải, chân dung vị Thánh miền Thuỷ phủ hiện ra giàu sang, đài các:
Áo mớ ba chân hài mỏ phượng
Lược đồi mồi nhẫn ngọc luồn tay
Gương soi phấn điểm nào tày
Cổ đeo tràng mạng, đôi tai hoán vàng
Trong văn chầu Đệ Tứ Khâm Sai, vị Thánh này được mô tả như một tuyệt sắc giai nhân:
Mặt hoa mày liễu má hồng
Da ngà mắt phượng môi son
Lưng con má phấn xem càng tốt tươi
Miệng chầu cười trăm hoa đua nở
Bên cạnh những câu văn chung chung rất khó phân biệt hình tướng các Thánh nữ, các Cô như trên còn có câu văn chỉ thị rất chính xác màu sắc trang phục của từng vị. Với chầu Đệ nhị Thượng ngàn thì "khăn xanh áo lục nhởn nhơ". Với cô Bé thì “áo chàm khăn trắng dải xanh mỹ miều”. Còn với chầu Mười Đồng Mỏ là:
Áo vàng phấp phới khăn hoa dịu dàng
Lưng đeo kiếm bạc cung vàng
Cưỡi trên mình ngựa hiên ngang oai hùng
Trong hàng chầu, hàng cô nhiều vị có nguồn gốc từ các dân tộc thiểu số nên Thánh chầu Thác Bờ luôn là trang phục của người Mường. Trang phục của chầu Lục là Thổ, Tày và Nùng. Trang phục của chầu Đệ nhị là Mán, Dao. Trang phục của bà chúa Ba là Chăm ...
Căn cứ vào từng thánh tích trên, những người lên đồng phải sắm sửa rất công phu, nào là khăn phủ diện đỏ, khăn xếp đỏ, khăn vấn xanh, hai khăn choàng lớn xanh-đỏ, khăn vấn, áo dài, áo cánh, dải buộc đầu hay dây lưng cùng chuỗi hạt, hoa tai, xuyến, lược, thẻ bài, khánh, quạt ngà...
Trong mỗi lần lên đồng, trang phục của ông Hoàng, cậu Bơ, quan Tuần Tranh rất oai phong, nhưng thích thú hơn cả là giá chầu, giá các cô. Mười hai cô từ cô Cả, cô Đôi đến cô Bé Bắc Lệ, cô Bé Đông Cuông, mỗi lần các cô giáng nhập thì từ ông đồng già chân mỏi tới bà đồng móm mém đều bỗng chốc tươi trẻ, duyên dáng lạ thường. Ấy là khi họ đã lạc vào múa điệu chèo đò trong giá cô Bơ, múa thêu hoa trong giá hầu cô Chín, múa gánh hoa trong giá cô Đệ Nhị... Đến đoạn này trong điện bao giờ cũng nhộn lên vì tiếng vỗ tay, tiếng con nhang đồng thanh hát theo cung văn rồi ồn ào tiếng "Lạy cô, cô múa đẹp quá, cô mưa đi".
Thế là cô vui vẻ tung lộc, tiền về phía các con nhang. Mọi người xô nhau tranh cướp như trước mắt họ chẳng có điện thờ với ngai tượng, bát hương, lọng, kiệu, chân nến... Lúc này dường như tất cả những đồ vật tĩnh lặng ấy chỉ làm cho sự chuyển dịch của khói nhang, sự lay động của đèn nến, sự lan toả, réo rắt của các điệu hát văn thêm phần huyễn ảo. Trên cái phông nền ấy, thời trang trình đồng lặng lẽ góp phần tạo ra một không gian tâm linh, đẩy người lên đồng và cả người hầu và xem đồng vào trạng thái tinh thần hưng phấn đến độ quên mình, thăng thoát một hiệu quả mà không một trò diễn xướng nào trong dân gian có thể sánh được.
Những lúc như thế chỉ muốn hát lên:
Dâng cô quả nón đôi hài
Dâng gương, dâng lược vòng tay quạt ngà
manutd
04-18-2007, 09:16 PM
Không nhầm lẫn hành đạo và tín ngưỡng
Trên thế giới người ta không còn bàn cãi là phải đối xử như thế nào với các hình thức Shaman(*), những người có khả năng giao tiếp đặc biệt với thần thánh, âm hồn...
Nhân Liên hoan diễn xướng hầu Thánh lần thứ nhất, chúng tôi tập hợp những ý kiến xung quanh vấn đề này, từ một nhà khoa học Mỹ đến các giáo sư - tiến sĩ, nhà văn, người hầu đồng, người theo đạo Mẫu...
Nghi lễ chứa đựng một trạng thái ngây ngất
Chúng ta có thể coi lên đồng và các nghi lễ nhập thần qua người trung gian tương tự như nghệ thuật biểu diễn vì chúng có nhiều đặc tính của sân khấu truyền thống. Khi kết hợp âm nhạc, lời hát, nhảy múa, điệu bộ, lời nói, kịch câm, y phục và các vật dụng.
Thật sự, lên đồng là nghi lễ chứa đựng một trạng thái ngây ngất hay nhập hồn mà trong đó, cơ thể của người lên đồng bị chiếm lĩnh lần lượt bởi các vị thần trong điện. Tuy có một số ông bà đồng chỉ giả vờ hoặc bắt chước, nhưng cũng có nhiều ông bà đồng thật sự cảm nhận được sự linh thiêng của thần thánh và thể hiện qua bản thân mình sự hiện thân của thần thánh.
Đối với một nhà Folklore hoặc một nhà nhân học thì hình thức "biểu diễn văn hoá" của lên đồng chính là những nguồn tư liệu quý giá bộc lộ quan niệm của bản thân người Việt về lịch sử của họ, về di sản văn hoá, về vai trò giới và bản sắc tộc người.
Hơn bất kỳ quyển sách khô cứng, một bức tranh, một điêu khắc nào, lên đồng là bảo tàng sống động. Những người tham gia hầu đồng chính là những người quản lý bảo tàng, những nhà bảo vệ văn hoá Việt Nam.
Việc làm của họ bảo đảm cho các thế hệ tương lai vẫn tiếp tục có cơ hội được chiêm ngưỡng những khía cạnh khác nhau của văn hoá Việt Nam, mà chúng đang bị nhạt nhoà đi trong đời sống hàng ngày. Họ xứng đáng được đánh giá cao bởi những nỗ lực bảo tồn các giá trị truyền thống và họ cũng nên được khuyến khích để duy trì hình thức văn hoá này cho các thế hệ tương lai.
Frank Proschan
GS-TS Viện Smithsonian, Washington DC, Mỹ - Trích ý kiến trong hội thảo Đạo Mẫu và các hình thức Shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á tổ chức năm 2001 tại Hà Nội.
Một giải pháp giải toả những dồn nén, stress
Em dâu tôi ở Buôn Ma Thuột, có dạo ngày nào cũng cứ đem tiền rải ở đường và nói lảm nhảm rằng người âm đòi. Sau vài lần hầu đồng, cô đã thoát khỏi tình trạng trên và trở lại bình thường. Rõ ràng lên đồng có khả năng điều chỉnh những lệch chuẩn về tâm lý, những hành vi lệch lạc giúp những người có cấu trúc khác biệt hoà nhập trở lại đời sống cộng đồng.
Hiện nay hiện tượng lên đồng, các vấn đề liên quan đến Shaman giáo càng hồi sinh mạnh mẽ trong xã hội hiện đại khi mà nhịp điệu sống luôn căng thẳng. Lên đồng đang là một giải pháp giải toả những dồn nén, stress. Chỉ trong 6 năm - từ 1997 đến 2003 - hội nghị khoa học thường niên tại Mỹ về nhân học đã tăng từ 1 lên 17 tiểu ban liên quan đến vấn đề Shaman, trong đó có một tiểu ban riêng về Lên đồng Việt Nam sau đổi mới. Ở Hàn Quốc, chính phủ có một nghị định bảo vệ các thầy Mansin (giống như Shaman, ông bà đồng Việt Nam, hay sư công của Trung Hoa...) như là một báu vật. Người Hàn cho rằng sẽ không hiểu văn hoá Hàn nếu bỏ qua không nghiên cứu về Mansin.
GS-TS Ngô Đức Thịnh
Nguyên viện trưởng Viện Văn hoá dân gian
Vấn đề của nhân loại
Lên đồng là một hoạt động tín ngưỡng có tác dụng giải phóng con người. Khi lên đồng người ta được nghe hát, được hít ngửi hương thơm của hoa, được nhảy múa cùng những nhịp điệu tươi vui, được làm đẹp...
Với nhiều người, nhất là những ông bà đồng ở nông thôn, khi lên đồng, hầu đồng họ như được lột xác thành những nhân vật khác, tạm thoát bỏ cái thực tại còn nghèo đói, thấp kém, nhiều mặc cảm. Người lên đồng tin rằng có thần thánh, có hồn, âu cũng là vấn đề của nhân loại chứ không phải là sản phẩm riêng biệt của những người "mê tín" ở Việt Nam.
Trong giới cô đồng, nhiều người trong số họ có khả năng giao tiếp với thế giới thần thánh, với cõi âm (cũng có những người chỉ lợi dụng để biểu diễn đồng). Điều này khoa học chưa đủ sức chứng minh đúng sai, thực hư.
Không nên vì những người lợi dụng lên đồng mà cấm một hoạt động văn hoá rất đặc thù của người Việt. Không thể nhầm lẫn giữa hành đạo và tín ngưỡng. Hành đạo có thể sai, còn tín ngưỡng thì không thể ngăn cấm, xoá bỏ. Khi hầu Thánh, người lên đồng rất sướng. Nhà nước hãy làm gì đó cho người dân sướng hơn.
GS-TS Đình Quang
Nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hoá thông tin
Lên đồng là tài sản hiếm hoi
Liên hoan diễn xướng hầu Thánh lần thứ nhất trong khuôn khổ lễ hội Kiếp Bạc 2006 là hoạt động có tính thể nghiệm. Chúng tôi đã cố gắng tạo ra không gian thiêng cho các cơ cánh có thể lên đồng ngay trên sân tiền tế, phía trước ban thờ Trung thiên.
Tuy có nhiều người tạm gọi là “lên đồng nghiệp dư” như ca sĩ, diễn viên danh tiếng đăng ký, nhưng ban tổ chức chỉ dừng lại việc cho phép 16 ông bà đồng "chuyên nghiệp" tham gia liên hoan. Dưới góc nhìn của nghiên cứu khoa học, chúng tôi đánh giá đây là những người bảo tồn các di sản văn hoá rất đặc trưng của dân tộc. Một số ông bà đồng thực sự có khả năng làm trung gian giữa Thánh và người, họ có uy quyền và kỹ năng để thực hiện khả năng ấy. Đó là những người có năng lực đặc biệt, là tài sản hiếm hoi vô cùng. Những kỹ năng gần như ma thuật không thể đào tạo, chỉ có kỹ năng đặc biệt ở những người có cơ duyên và được truyền dạy theo kiểu thụ môn.
Nếu tất cả các ông bà đồng đều có khả năng ấy thì đó là điều may mắn cho nền văn hoá dân tộc. Nhiều nước trên thế giới, những người này đảm trách việc quảng bá văn hoá và du lịch rất hiệu quả. Chúng ta chưa tạo điều kiện cho những khả năng đặc biệt phát lộ, càng chưa có cơ chế khai thác nên xảy ra tình trạng thật giả, vàng thau lẫn lộn. Tại sao chúng ta phân loại, xếp hạng, cấp bằng di tích, di sản cho rất nhiều thứ nhìn thấy, còn những cái không nhìn thấy lại bỏ qua. Đó là một thái độ không công bằng. Nguy cơ thất truyền những khả năng đặc biệt là rất tiềm tàng.
Trong những năm tới, hoạt động này cần tiếp diễn với sự đầu tư tốt hơn. Để thực sự có một liên hoan đúng nghĩa, cần phải nâng cấp quy mô, số lượng các cơ cánh lên đồng. Việc hầu đồng có thể kéo dài từ bờ sông Lục Đầu dọc theo con đường thần đạo vào trong đền. Có như vậy dân chúng mới có dịp “tơi tả” vì hội.
TS Bùi Quang Thắng
Trưởng ban nghiên cứu truyền thông, Viện Văn hoá thông tin, tổng đạo diễn Lễ hội Kiếp Bạc 2006
Đẹp lòng trần mới cân lòng Thánh
Tôi hầu thánh đã hơn 20 năm, thấy khổ quá. Từ bé chẳng hiểu vì sao cứ thích đền đài, lễ hội. Lớn lên nhiều lúc như người ốm giả vờ. Đi khám không có bệnh. Theo người này người khác mách đi theo hầu Thánh, lên đồng vài giá là khoẻ, lại vui.
Cả nhà tôi có truyền thống theo cách mạng, có người làm quan to. Vợ con thấy tôi lên đồng thì đều chối bỏ, hắt hủi. Có những năm bỏ đi buôn bán biền biệt chẳng dám về nhà. Nhiều lúc tính bỏ đồng cho gia cảnh yên ấm. Nhưng cứ bỏ lại lăn ra oặt ẹo, chẳng ăn, không muốn làm. Phát lộc có khi là quả chuối xanh, cái kẹo dồi, vậy mà vui đáo để. Hầu Thánh xong về làm ăn lại thấy mát mẻ. Trước một năm lên đồng vài lần cho bản thân. Bây giờ lên hầu Thánh giúp mọi người từ đi lại, làm ăn, chữa bệnh đến mua vui...
Bởi thế phải hiểu việc Thánh. Giá Trần triều thì phải nghiêm nghị oai linh. Giá bà Chúa thì thong thả, đủng đỉnh. Giá các Cô lại phải tươi nhộn. Hầu đồng không được lợi dụng con nhang bởi có đẹp lòng trần mới cân lòng Thánh. Mình tự trọng thì được con nhang tin dùng. Có như vậy thì họ mới nhất nhất trên theo Thánh, dưới theo đồng. Chứ mới mở phủ được vài ngày đã lừa con nhang kiếm lợi thì chỉ được đôi lần là "hết phim".
Đồng Khánh
Tứ Kỳ, Hải Dương
Đồng sang, bóng lịch sự
Qua xem mấy giá đồng, tôi thấy người được, kẻ chưa. Chúng tôi cần trao gửi niềm tin của mình với những "đồng sang, bóng lịch sự", những người thực sự am hiểu việc Thánh. Chúng tôi rất cần có một tổ chức thống nhất của người thờ đạo Mẫu. Nhưng từ một hoạt động tín ngưỡng có tính dân gian để chuyển thành một tôn giáo là một chặng đường không ngắn, không dễ. Chúng tôi thấy những đồng thật, người có năng lực đặc biệt thì ít mà đồng giả nhiều quá. Thật rất khó tìm ra được một thủ lĩnh.
Trần Minh Chính
Người dân theo đạo Mẫu ở 82 Điện Biên Phủ, Q.1, TP.HCM
Nên nhìn từ góc nông dân
Tôi thấy trong nhà mình nhiều người có căn đồng. Khi nhỏ tôi hay theo mẹ đi đền phủ. Mẹ tôi thường đi hầu đồng mỗi năm hai lần. Đôi khi lén đi xem lên đồng một mình tôi thường chui lủi trong đền, điện. Tôi gọi kiểu xem đồng ấy là đồng... thầm.
Tôi rất nhớ cảnh hầu đồng của các bà nông dân ở quê, nó cảm động lắm. Bên gốc đa già cạnh suối Giải Oan ở Yên Tử, chỉ treo ba cái nón lên cây, một cụ già không cung văn, nguyệt, sáo, không lộc lá mà cũng thăng đồng như ai.
Trên đền Sòng, trước mấy bức phù điêu ông Hộ Pháp, mấy bà nông dân váy ngắn ngang gối, chân đất vẫn nhảy múa say sưa, quên cả trời đất. Dường như khi nhập vào ông Hoàng, bà Chúa những người nông dân đã tạm thoát khỏi cảnh nghèo nàn, tạm quên đi thế phận con sâu cái kiến và được giải toả bao nhiêu mặc cảm...
Lớn lên cơm nắm cơm đùm tôi theo bạn bè đi hết đền ông Bảy, cô Bơ, cô Chín... khổ sở vô cùng. Nhưng đấy cũng là cơ duyên để tôi có nguồn và sức viết Mẫu thượng ngàn.
Đó cũng là một công trình nghiên cứu văn hoá Việt Nam cuối thế kỷ 19 khi Pháp xâm lược, đạo Phật suy tàn, đạo Khổng bị gạt bỏ, đạo Thiên Chúa đang lan rộng, người dân trở về với đạo Mẫu - một tôn giáo có từ ngàn đời. Có nhiều người thích đoạn cuối tôi viết về lên đồng. Có lẽ mình đã rất yêu quý đạo Mẫu, một tín ngưỡng rất riêng của người Việt.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
Shaman: Những người do bẩm sinh hoặc có những biến đổi cơ bản về cơ thể hoặc tâm lý, tinh thần mà có khả năng giao tiếp với thần linh, vong hồn bằng cách hồn thoát khỏi xác hoặc quỷ thần nhập vào mình. Shaman phải tự đưa mình từ trạng thái bình thường chuyển sang cuồng loạn, hôn mê bằng tiếng đàn, hát, nhảy múa, hương khói... để cầu xin thánh thần. Các ông đồng, bà đồng, thầy tào, then, pựt, chí nềnh ở Việt Nam... chính là những dạng Shaman. Các hình thức Shaman như lên đồng, gọi hồn, thả thơ, đoán mộng...
manutd
04-18-2007, 09:23 PM
Bói toán và mê tín
"Tôi tin chiêm tinh học, nhưng không tin vào các chiêm tinh gia"
Ngay từ thuở sơ khai, con người đã bị quyến rữ bởi các tinh tú và lúc nào cũng cố gắng tìm một số liên hệ giữa những tinh tú này với định mệnh con người. Quan sát tinh tú và các vận hành của các vì sao đã phát xuất hai lãnh vực nghiên cứu quan trọng gọi là Khoa Chiêm Tinh và Thiên Văn Học. Thiên Văn Học được coi như một loại khoa học thuần túy chuyên vào đo đạc khoảng cách, sự tiến hóa và sự hoại diệt, vận hành của các vì sao vân vân...
Dĩ nhiên, tất cả những cách tính toán này đều đặt liên hệ với hành tinh trái đất và xem những vận hành giữa các hành tinh ảnh hưởng nhân loại trên bình diện vật chất ra sao. Thiên Văn Học hiện đại tìm tòi những câu trả lời cho những câu hỏi còn chưa được giải đáp liên quan đến nguồn gốc con người và sự chấm dứt chung cuộc có thể xẩy ra cho con người là thành phần của giống người. Đó là một lãnh vực nghiên cứu rất hấp dẫn, và kiến thức mới của chúng ta về vũ trụ và các giải ngân hà đã đem nhiều áp lực đến nhiều tôn giáo để đánh giá lại những cơ sở lập luận lâu đời liên quan đến đấng sáng tạo và sự sáng tạo đời sống.
Phật Giáo không phải đối đầu với việc khó xử nào, đơn giản vì Đức Phật không khuyến khích tín đồ của Ngài ức đoán những điều vượt khỏi tầm hiểu biết của mình. Tuy nhiên Ngài cũng có một số điều ám chỉ mà dưới ánh sáng kiến thức hiện đại đạt được qua khoa học, cho thấy Đức Phật ý thức rõ ràng rằng bản chất thực sự của vũ trụ vốn không phải được sáng tạo trong một phút huy hoàng nào đó, rằng trái đất chỉ là một hạt bụi nhỏ chẳng quan trọng gì trong tất cả không gian, rằng sự thành trụ và sự hoại diệt tiếp diễn liên tục và mọi sự vật lúc nào cũng chuyển động không ngừng nghỉ.
Tuy nhiên, nhìn chung, Chiêm tinh lại là một lãnh vực nghiên cứu hoàn toàn khác hẳn. Con người từ thuở sơ khai bắt đầu nghĩ ngợi xâu xa về sự tương quan của mình với vũ trụ. Khi xã hội loài người tiến vào các hoạt động nông nghiệp từ cách săn bắn để sinh nhai và bắt đầu nhận thấy sự liên hệ giữa sự vận hành của mặt trời qua nhiều năm và những sinh hoạt của mình về trồng trọt, gặt hái, và trong những dự án tương tự. Con người càng trở nên thông thạo có thể tiên đoán được sự chuyển động của mặt trời, và đã sáng chế ra cách đo lường thời gian, chia thành năm, tháng, ngày, giờ, phút và giây.
Con người liên kết kiến thức này với cuộc sống do đó cảm thấy có một sự tương quan giữa chu kỳ của cuộc sống của mình với cuộc vận hành của những hành tinh. Do đó nẩy sanh ra Hoàng Đạo - con đường biểu kiến của mặt trời. Nó gồm có mười hai chòm sao. Nghiên cứu sự vận chuyển của các chòm sao này trong tương quan với đời sống của con người gọi là giải đoán tử vi.
Sự nghiên cứu chiêm tinh liên hệ đến sự hiểu biết lớn lao về bản chất con người gồm khả năng ước định chính xác vận hành của các hành tinh, cùng với trí thấu hiểu bên trong vào hiện tượng hình như không thể giải thích được của vũ trụ. Có nhiều nhà chiêm tinh gia lỗi lạc trong quá khứ và đến ngày nay cũng có một số. Nhưng bất hạnh thay lại có một số lớn các kẻ bịp bợm đã làm chiêm tinh bị ô danh. Họ lừa bịp người ta bằng cách tiên đoán những biến chuyển tương lai giả dối. Họ kiếm được những món tiền lớn bằng cách khai thác sự ngu dốt và sợ hãi của người cả tin. Và kết quả là sau một thời gian dài, các khoa học gia phỉ báng chiêm tinh và không tin vào khoa này. Tuy nhiên thái độ thù nghịch của khoa học gia không hẳn là đúng. Mục đích chính của người đoán tử vi là phải thấu đáo bên trong đặc tính của một người, giống như bức hình quang tuyến X cho thấy tính chất thân thể của con người.
Thống kê cho thấy ảnh hưởng của mặt trời theo ký hiệu Hoàng Đạo trên sự ra đời của những người bất thường vào một số tháng nào đó. Nhiều các tội ác tương ứng với ký hiệu Hoàng Đạo mà mặt trời vận hành trong vài tháng nào đó của một năm. Cho nên sự hiểu biết về sự tương quan này sẽ giúp con người dự tính cho đời mình có ý nghĩa hơn, hòa hợp với khuynh hướng bẩm sinh của mình và sự va chạm sẽ ít đi qua dòng đời.
Một đứa nhỏ mới sanh ra giống như một hạt giống. Trong thân nó chứa đựng tất cả những chất liệu cho nó thành một cá nhân tuơng tự nhưng khác hẳn tất cả những người đồng chủng, giống như hạt giống tiềm năng của nó phát triển tùy thuộc vào cách nuôi dưỡng mà nó nhận được. Bản chất của một người được sanh khởi ngay bên trong của mình, nhưng sự tự do của chính mình quyết định có thực sự sử dụng được tài cán và khả năng của mình hay không. Con người có thể khắc phục được thói xấu và nhược điểm hay không là tùy ở lúc thiếu thời được rèn luyện ra sao. Nếu ta nhận rõ được bản chất của mình - khuynh hướng lười biếng, bứt rứt, lo âu, khủng hoảng, độc ác, gian xảo, ganh ghét - chúng ta có thể có những biện pháp tích cực để chế ngự chúng. Bước đầu tiên giải quyết vấn đề là nhận thức được chúng như thế nào.
Giải thích chiêm tinh cho biết sở thích và xu hướng của chúng ta. Một khi đã vạch rõ ra được, chúng ta phải có những biện pháp cần thiết để hoaïch định đời sống của mình trong cách xỐế thế để trở thành người công dân hữu dụng của thế giới. Ngay cả đến một người có khuynh hướng tội ác cũng có thể trở nên một thánh nhân, nếu người đó nhận thức được bản chất của mình và có những biện pháp để sống một cuộc đời lương thiện.
Tử vi là một biểu đồ cho thấy nghiệp lực của một người được tính từ lúc mới sanh. Nghiệp lực quyết định giờ sanh và do biết giờ sanh này, một chiêm tinh gia tài giỏi có thể lập một biểu đồ chính xác về vận mệnh, trong suốt thọ mạng của một người.
Mọi người đều biết trái đất phải mất khoảng một năm để quay chung quanh mặt trời. Sự vận hành này, nhìn từ trái đất, đặt mặt trời ở nhiều vị trí hoàng đạo trong một năm. Một người sanh ra (không phải là ngẫu nhiên mà do ảnh hưởng của nghiệp lực) khi mặt trời di chuyển trong một của mười hai ký hiệu Hoàng Đạo.
Qua tử vi, bạn có thể quyết định thời gian nào đó trong cuộc đời, bạn cần phải giảm hay tăng mức độ sáng tạo hoặc cần phải theo dõi các hoạt động và sức khỏe của mình.
Thái độ Phật giáo với chiêm tinh
Câu hỏi mà đa số người ta hay nêu lên là Phật Giáo chấp nhận hay bài bác khoa chiêm tinh. Nói cho chính xác, Đức Phật không tuyên bố trực tiếp gì đến vấn đề này vì cũng như trong nhiều trường hợp khác, Ngài dạy là bàn cãi về vấn đề này không liên quan gì đến việc phát triển tâm linh. Không như các tôn giáo khác, Phật Giáo không kết án khoa chiêm tinh và con người hoàn toàn tự do lĩnh hội được từ môn này cho cuộc sống mình có ý nghĩa hơn. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu kỹ lời dạy của Đức Phật, chúng ta có khả năng chấp nhận rằng một hiểu biết chính đáng và thông minh về chiêm tinh có thể là một dụng cụ hữu ích.
Có sự liên hệ trực tiếp giữa đời sống của một người và những vận hành rộng lớn của vũ trụ. Khoa học hiện đại phù hợp với Giáo Lý Đạo Phật. Thí dụ chúng ta biết có một sự liên kết chặt chẽ giữa sự di chuyển của mặt trăng và tính khí của chúng ta. Sự kiện này được thấy rõ ràng ở những người khủng hoảng tinh thần hay kẻ hung bạo bất bình thường. Cũng rất đúng với một vài chứng bệnh như suyễn và viêm cuống phổi hay bị nặng thêm vào những tuần trăng tròn dần. Cho nên có đủ căn cứ để tin là các hành tinh khác cũng ảnh hưởng đến đời sống của chúng ta.
Phật Giáo chấp nhận có một năng lượng vũ trụ rộng lớn rung động mọi sinh vật kể cả cây cối. Năng lượng này tác động tương hợp với năng lượng của nghiệp mà một cá nhân tạo ra và quyết định cho tiến trình của một kiếp sống . Sự ra đời của của một cá nhân không phải là bước sáng tạo đầu tiên cho một kiếp sống mà chỉ là sự tiếp diễn của một kiếp sống luôn luôn đã hiện hữu và sẽ tiếp tục hiện hữu trong bao lâu mà nghiệp lực chưa bị dập tắt bởi sự giải thoát cuối cùng trong tình trạng vô điều kiện. Bây giờ để một kiếp sống tự nó biểu hiện dưới một hiện hữu mới, một số yếu tố, như thời tiết, mầm giống, và thiên nhiên phải hội đủ. Những thứ này được hỗ trợ bởi năng lượng của tinh thần và của nghiệp và tất cả những thành phần này luôn luôn ở trong sự phản ứng liên tục, phụ thuộc lẫn nhau đưa đến kết quả là những thay đổi không ngừng của một kiếp sống con người.
Theo các nhà chiêm tinh học, thời gian ra đời của một con người được tiền định bởi năng lượng vũ trụ và nghiệp lực. Cho nên, có thể kết luận là việc sanh ra đời không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của các phản ứng giữa nghiệp lực của một cá nhân và lực của năng lượng vũ trụ. Tiến trình của đời sống con người được tiền định, nguyên do một phần của hành động chính của một chúng sanh trong quá khứ và những năng lượng vận chuyển vũ trụ. Ngay khi bắt đầu, sự sống kiểm soát bởi sự tương hợp giữa hai lực ấy ngay cả lúc chào đời. Do đó một nhà chiêm tinh tài giỏi, là người hiểu rõ vũ trụ cũng như thông suốt ảnh hưởng của nghiệp, có thể lập một biểu đồ cho cuộc sống của một người, căn cứ vào giờ sanh của người ấy.
Trong khi về một ý nghĩa nào đó chúng ta phải gánh chịu những lực ấy thì Đức Phật chỉ rõ cho chúng ta thấy một phương cách có thể thoát khỏi các ảnh hưởng của chúng. Tất cả những nghiệp lực đều tàng chứa trong tiềm thức thường được miêu tả là những yếu tố thanh tịnh hay bất tịnh của tâm. Vì nghiệp lực ảnh hưởng đến vận mệnh của một người nên ta có thể phát triển tâm trí để vô hiệu hóa ảnh huởng tội lỗi gây ra từ bất thiện nghiệp trước đây. Một người cũng có thể thanh lọc được tâm mình và có thể tự mình quét sạch được nghiệp lực, và ngăn không cho tái sanh tiếp diễn. Khi không có tái sanh, sự sống không có tiềm lực, và hậu quả là không có kiếp "tương lai" để có thể khẳng định hay thiết lập biểu đồ (tử vi). Ở giai đoạn phát triển tinh thần và tâm linh như thế, một người có thể vượt qua sự cần thiết muốn biết đời mình ra sao vì hầu hết tất cả những bất toàn và bất toại nguyện đã được dẹp sạch. Một người tinh thần phát triển cao độ không cần đến tử vi.
Vào đầu Thế Kỷ Thứ Hai Mươi, những nhà tâm lý và phân tâm học đã công nhận có rất nhiều điều về tâm ý con người hơn là các nhà duy vật cứng ngắc đã từng chấp nhận. Có nhiều điều hơn cho thế gian có thể nhìn thấy và xúc chạm được. Nhà Tâm Lý Học Thụy Sĩ nổi tiếng Carl Jung, thường lấy tử vi bệnh nhân của ông. Có một dịp khi ông nghiên cứu chiêm tinh về 500 cuộc hôn nhân, ông thấy những khám phá của Ptolemy mà các nhà chiêm tinh Tây Phương căn cứ vào, vẫn còn giá trị; những phương vị thuận lợi giữa mặt trời và mặt trăng của các cặp vợ chồng khác nhau đã đem hạnh phúc cho các cuộc hôn nhân .
Nhà tâm lý học Pháp nổi tiếng Michel Gauguelin khởi thủy có một quan niệm tiêu cực về chiêm tinh học, sau khi đã khảo sát khoảng chừng 20.000 bản nghiên cứu tử vi, ngạc nhiên thấy rằng những đặc tính của những người được nghiên cứu trùng hợp với cách mô tả đặc tính mà phương pháp tâm lý hiện đại áp dụng.
Việc trồng hoa, cây và rau vào thời điểm khác nhau trong một năm đã làm cho chúng mọc mạnh và nhanh khác nhau. Cho nên chắc chắn con người sanh vào thời điểm nào đó trong một năm sẽ có những đặc tính khác biệt hơn những người sanh ở thời điểm khác. Hiểu được nhược điểm, những thất bại và các thiếu sót của mình, một người có thể cố gắng hơn nữa để thắng lướt chúng và tự mình sẽ làm cho mình trở thành một người hữu dụng hơn cho xã hội. Việc hiểu biết này cũng sẽ giúp cho người ấy rất nhiều trong việc tránh những bất hạnh và thất bại. (Thí dụ ra đi khỏi nước mà mình đã sanh ra, đôi khi có thể giúp cho một người tránh khỏi ảnh hưởng của các vì sao).
Shakespeare nói rằng: "Lỗi lầm không phải nơi các vì sao mà chính nơi chúng ta". Một nhà chiêm tinh học nổi tiếng đã nói: "Các vì sao chỉ thúc đẩy mà không thúc ép". St Thomas Aquinas nói: "các hành tinh ảnh hưởng nhiều trên phần cơ bản của con người hơn trên những đam mê", nhưng nhờ con người tri thức có thể sắp xếp đời sống hài hòa với các hành tinh cùng trau dồi, sử dụng tài năng bẩm sinh của mình để cầu tiến.
Khoa chiêm tinh không thể tự động giải quyết tất cả những vấn đề. Bạn phải tự mình làm lấy. Giống như một bác sĩ có thể chẩn bệnh, đoán biết tính chất của bệnh, một chiêm tinh gia chỉ có thể cho thấy một số phương diện nào đó về cuộc đời và cá tính của bạn. Sau đó phần còn lại chính là bạn phải điều chỉnh lối sống của bạn. Đương nhiên, công việc sẽ dễ dàng hơn nếu hiểu biết điều gì phù hợp hay không phù hợp với bạn. Một số người lại quá lệ thuộc vào thuật chiêm tinh. Họ tìm đến chiêm tinh gia bất cứ lúc nào có một điều gì xẩy ra hay nếu họ thấy mộng. Cần nhớ rằng thời nay khoa chiêm tinh là một môn khoa học không toàn hảo và ngay cả đến những chiêm tinh gia giỏi nhất cũng có những lầm lẫn quan trọng. Sử dụng chiêm tinh học một cách thông minh giống như bạn sử dụng một dụng cụ nào đó làm cho đời bạn thoải mái và thú vị. Trên hết coi chừng những chiêm tinh gia giả mạo đánh lừa bạn bằng cách không nói sự thực mà chỉ nói những điều bạn thích nghe.
Đừng nên mong đợi hồng vận đến với mình hay dễ dàng đến tầm tay mà phần mình không mất chút công sức nào cả. Nếu bạn muốn có mùa gặt tốt, bạn phải gieo giống và giống phải là loại giống tốt. Nên nhớ: "Cơ hội chỉ gõ cửa, nhưng không bao giờ bẻ gẫy khóa để vào".
Bói toán và bùa ngải
Chuyên cần là vì sao đem may mắn nhất.
Mặc dù Phật Giáo không bài bác tín ngưỡng nơi các chư thiên, quỷ thần, thuật chiêm tinh, và bói toán nhưng lời khuyên của Đức Phật là không nên lệ thuộc vào các năng lực trên đây. Một Phật Tử tốt có thể thắng lướt tất cả những khó khăn của mình nếu người đó hiểu biết cách sử dụng trí thông minh và sức mạnh ý chí của mình. Những cách tin tưởng trên không có ý nghĩa tinh thần và giá trị gì cả. Con người phải vượt qua tất cả những vấn đề và khó khăn bằng nỗ lực của chính mình chứ không phải qua trung gian của chư thiên, quỷ thần, thuật chiêm tinh và bói toán. Một trong những truyện Phật Giáo Jataka (Túc Sanh Truyện), Ngài Bồ Tát nói: "
Kẻ ngu dại trông ngóng ngày may mắn,
Nhưng hồng vận chẳng bao giờ đến cả,
Hồng vận chính nó là hồng vận của vì sao,
Chỉ là vì sao thì làm nên được gì?
Bồ Tát tin rằng chuyên cần là vì sao hên nhất và ta không nên phí thì giờ bằng cách tham khảo các vì sao và ngày hồng vận để được thành công. Nỗ lực hết sức để tự giúp mình tốt hơn là chỉ trông vào các vì tinh tú hay những ngưồn lực bên ngoài.
Mặc dù một số Phật Tử thực hành bói toán, và phổ biến một số hình thức bùa ngải dưới chiêu bài tôn giáo, Đức Phật không bao giờ khuyến khích một ai làm những điều này. Giống như bói toán, bùa ngải là loại hình thức dị đoan, không có một giá trị đạo giáo nào cả. Tuy thế mà ngày nay vẫn có nhiều người, vì đau yếu và kém may mắn cho rằng nguyên nhân đau yếu và xui xẻo là do sức mạnh của bùa ngải. Khi nguyên nhân của đau yếu và bất hạnh không được biết chắc và không tìm ra dấu vết, nhiều người có khuynh hướng tin là các khó khăn đó do bùa ngải hoaëc do một số nguyên nhân bên ngoài. Họ quên rằng họ đang sống ở thế kỷ thứ hai mươi. Đó là thời đại tiên tiến của việc phát triển và đạt thành quả của khoa học. Những khoa học gia lãnh đạo của chúng ta đã dẹp qua một bên nhiều tín ngưỡng dị đoan, và họ đã đem được cả người lên cung trăng!
Tất cả các đau yếu đều do nguyên nhân tinh thần hay vật chất (tâm bệnh và thân bệnh). Trong Shakespeare, Macbeth hỏi bác sĩ có một loại thuốc nào có thể chữa được bệnh cho người vợ không, được bác sĩ trả lời rằng: "Bà cần nhiều sự siêu phàm hơn là các thầy thuốc". Cái mà vị bác sĩ muốn giải thích là một số bệnh chỉ có chữa khỏi nếu tâm ý được thanh tịnh trong sạch. Một số các bệnh xáo trộn tinh thần nghiêm trọng tự nó trở thành thân bệnh như lở loét dạ dầy, đau bao tử vân vân...
ĐỐơng nhiên thân bệnh có thể được chữa khỏi bởi một bác sĩ giỏi. Và sau cùng, một số xáo trộn không thể giải thích được có thể do nguyên nhân mà người Phật tử gọi là do nghiệp quả đã chín muồi. Đó có nghĩa là chúng ta phải trả một số hành vi bất thiện mà chúng ta gây ra trong kiếp trước. Nếu chúng ta có thể hiểu đó là trường hợp của một số bệnh nan y, chúng ta phải hết sức kiên tâm chịu đựng vì biết được nguyên nhân thực sự của chúng.
Ai thấy không hết bệnh nên tìm đến một thầy thuốc chuyên môn để được điều trị thận trọng hơn. Nếu sau khi đã được khám xét tổng quát chữa trị mà không hết bệnh và thấy vẫn cần đến sự điều trị, người đó có thể tìm đến một vị đạo sư tôn giáo thích hợp hơn để được hướng dẫn.
Người Phật Tử được khuyên bảo cẩn trọng đừng để rơi vào hố sâu mê tín dị đoan khiến tâm bị rối loạn bởi sự sợ hãi không cần thiết và vô căn cứ. Trau dồi một sức mạnh ý chí mạnh mẽ bằng cách không tin vào ảnh hưởng của bùa ngải.
Một khóa thiền ngắn giúp ích rất nhiều để thanh lọc tư tưởng bất thiện trong tâm. Thiền định dẫn đến sự thanh lọc tâm ý. Tâm được thanh lọc tự động dẫn đến một thân thể trong sạch và khoẻ mạnh. Pháp Phật là một tác dụng giảm đau và chữa khỏi các loại tâm bệnh này.
Tin coi đồng cốt
Tin coi đồng cốt không phải là cách hành đạo của Phật Giáo: Đó chỉ là một lối tin tưởng theo truyền thống và tâm lý.
Tại nhiều quốc gia, người dân tìm lời khuyên bảo và chỉ dẫn nơi các đồng cốt để tránh các khó khăn trong các tình huống mà họ cho là ngoài tầm hiểu biết của họ.
Người ta tìm đến đồng cốt trong nhiều cách và nhiều lý do. Khi đau yếu mà y khoa thì hình như vô hiệu, một số người trở nên thất vọng và quay về bất cứ nơi nào để tìm an ủi. Vào những lúc như vậy, người ta tìm đến đồng cốt. Một số người cũng quay về với đồng cốt, khi họ gặp phải vấn đề phức tạp và không tìm ra cách giải quyết khả dĩ chấp nhận được. Một số khác tin coi đồng cốt vì tham lam muốn làm giàu nhanh chóng.
Một số người tin rằng khi một con đồng trong trạng thái xuất thần, linh hồn của một thần linh hoặc của một chư thiên nào đó nhập vào và truyền thông qua con đồng để ban bảo các lời khuyên hoặc hướng dẫn những ai đang cần giúp đỡ. Những người khác tin rằng trong trạng thái lên đồng, tiềm thức nổi lên và thay thế tâm thức.
Tin coi đồng cốt rất phổ thông trong đại chúng. Phật Giáo có thái độ trung lập đối với việc tin coi đồng cốt. Rất khó có thể kiểm chứng những truyền đạt của con đồng là đúng hay sai. Tin coi đồng cốt không phải là một cách hành đạo của Phật Giáo; việc này chỉ là loại thực hành có tính cách truyền thống.
Tin coi đồng cốt chỉ là muốn được lợi lạc vật chất thế gian, Giáo lý của Đức Phật là để phát triển tinh thần. Tuy nhiên, nếu người ta tin tưởng điều mà đồng cốt truyền đạt là đúng, không có lý do gì người Phật Tử lại phản đối tập tục này.
Nếu một người thấu hiểu và hành trì Phật Pháp, người đó có thể nhận thức được thực chất của những vấn đề khó khăn của mình. Người đó có thể khắc phục được khó khăn của chính mình mà không cần phải tin coi đồng cốt.
Mộng và ý nghĩa về mộng
"Đời chẳng là gì cả mà chỉ là một giấc mộng".
Một trong những vấn đề lớn nhất không giải quyết được của con người là sự bí mật của các giấc mộng. Từ thuở sơ khai, con người đã cố gắng phân tích các giấc chiêm bao, và cố giải thích chúng bằng thuật ngữ tiên tri và tâm lý, nhưng dù có một vài biện pháp thành công mới đây, chúng ta có lẽ vẫn không tiến gần đến câu trả lời cho câu hỏi khó khăn trở ngại này: "Mộng là gì?"
Một nhà thơ lãng mạn Anh William Wordsworth có một quan niệm khá kỳ lạ : Cuộc đời mà chúng ta đang sống chỉ là một giấc mộng và chúng ta sẽ tỉnh daẾy với thực tại khi chúng ta chết, khi giấc "mộng" của chúng ta chấm dứt".
"Sự sanh ra đời của chúng ta chỉ là giấc ngủ, và lãng quên:
Linh hồn cùng sanh ra với chúng ta, vì sao của đời chúng ta
Đã lặn đi nơi nào đó,
và đến từ xa .
Một quan niệm tương tự được giải thích trong một câu chuyện vui cổ Phật Giáo kể một chư thiên đang vui chơi cùng với các chư thiên khác. Quá mệt, chư thiên này nằm xuống ngủ một giấc và tịch luôn. Chư Thiên này tái sanh thành một cô gái ở trần gian. Cô lấy chồng, có một vài đứa con và sống rất lâu. Sau khi chết cô lại sanh làm chư thiên giữa những chư thiên bạn hữu mới chỉ vừa chấm dứt cuộc chơi. (Câu chuyện này cũng làm sáng tỏ tính chất tương đối của thời gian, đó là ý niệm thời gian của người trần thế khác biệt ra sao với thời gian của kiếp sống ở một cõi khác).
Phật giáo đã nói gì về những giấc mộng? Cũng giống như tất cả văn hóa khác, Phật Giáo đã có phần đóng góp phải chăng của mình với những người tự cho là có tài đoán mộng. Những người này kiếm được rất nhiều tiền bằng cách khai thác cái ngu muội của những ai tin tưởng là mỗi giấc mộng đều có ý nghĩa tinh thần hoặc tiên tri.
Theo tâm lý Phật Giáo, giấc mộng là những tiến trình ý tưởng diễn ra như những hoạt động của tâm trí. Khi xét về diễn tiến của các giấc mộng, cần nhớ rằng tiến trình ngủ có thể được coi như rơi vào năm giai đoạn sau:
1. Buồn ngủ
2. Ngủ thiu thiu
3. Ngủ say
4. Ngủ chập chờn
5. Tỉnh ngủ
Ý nghĩa và nguyên nhân các giấc mộng đã là đề tài thảo luận trong cuốn sách nổi tiếng "Milinda Panha" hay "Những câu hỏi của Hoàng Đế Milinda", trong đó Tỳ kheo Na Tiên nói mộng có sáu nguyên nhân, ba thuộc hữu cơ, hơi (trong bao tử), mật và đờm dãi. Nguyên nhân thứ tư do sự xen vào của sức mạnh siêu nhiên, nguyên nhân thứ năm do phục hồi nhớ lại kinh nghiệm quá khứ, và thứ sáu ảnh hưởng của các biến cố tương lai. Nói rõ ràng là các giấc mộng chỉ xuất hiện trong lúc thiu thiu ngủ giống như giấc ngủ của con khỉ. Trong sáu nguyên nhân Tỳ Kheo Na Tiên khẳng định nguyên nhân cuối cùng gọi là các giấc mộng tiên tri mới là quan trọng, còn những giấc mộng khác tương đối vô nghĩa.
Mộng là hiện tượng do tâm tạo ra và chúng là các hoạt động của tâm. Tất cả mọi người đều nằm mộng, mặc dù có người không nhớ được. Phật Giáo dạy một số mộng có ý nghĩa tâm lý. Sáu nguyên nhân kể trên cũng có thể xếp loại theo cách thế sau đây:
I. Mỗi một tư tưởng tạo ra đều được tàng trữ trong tiềm thức và một số các tư tưởng này ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm ý tùy theo những lo âu của chúng ta. Khi chúng ta ngủ, một số những tư tưởng này được hoạt hóa và hiện ra đến chúng ta như những bức tranh chuyển động trước chúng ta. Việc này xẩy ra vì trong khi ngủ, năm giác quan của chúng ta tiếp xúc với trần cảnh tạm thời ngưng lại. Tiềm thức được tự do trở nên ưu thế và "tái diễn" những tư tưởng tàng trữ. Những giấc mộng này có thể có giá trị về phần tâm nhưng không thể xếp vào loại tiên đoán. Chúng chỉ là sự phản chiếu của tâm ý đang nghỉ ngơi.
II. Loại mộng thứ hai cũng vô nghĩa. Loại mộng này do nguyên nhân bởi sự kích thích trong và ngoài làm thành một chuỗi tư tưởng thuộc thị giác nhìn thấy bởi tâm ý lúc nghỉ ngơi. Những yếu tố bên trong nhiễu loạn cơ thể (như ăn quá no khiến ngủ không ngon hoặc mất thăng bằng và sự va chạm giữa các thành phần cấu tạo thành cơ thể). Kích khích bên ngoài là khi tâm ý bị xáo trộn (mặc dù người ngủ không ý thức gì cả) do hiện tượng thiên nhiên như thời tiết, gió, lạnh, mưa, tiếng xào xạc của lá cây, tiếng lộp độp trên cửa sổ vân vân...Tiềm thức phản ứng với những sự náo động ấy, tạo thành những bức ảnh để giải thích ngay chúng. Tâm ý điều tiết sự bực bội trong một cách có vẻ hữu lý nên người nằm mộng vẫn tiếp tục ngủ không bị quấy rầy. Những giấc mộng này không quan trọng nên không cần có sự giải thích.
III. Rồi đến các loại mộng có tính cách tiên đoán. Những loại này quan trọng. Loại mộng này ít có và chỉ khi có một sự kiện sắp xẩy đến rất đáng kể với người nằm mộng. Phật Giáo dạy rằng ngoài thế giới hữu hình mà ta có thể kinh nghiệm thấy, có các chư thiên hiện hữu ở một cõi khác hoặc một số quỷ thần hướng về trái đất và ta không nhìn thấy họ được. Họ cũng có thể là thân nhân hay bạn bè của chúng ta đã quá cố và đã tái sanh. Họ vẫn duy trì mối liên hệ tinh thần trước đây, và quyến luyến với chúng ta. Khi người Phật Tử hồi hướng công đức đến chư thiên và các người quá vãng, người Phật Tử tưởng nhớ chư thiên và các thân nhân đã khuất và mời họ chia sẻ niềm vui tích lữy công đức. Đối lại, chư thiên hoan hỉ và theo dõi chúng ta và chỉ cho ta điều gì đó trong mộng khi chúng ta phải đối đầu với các khó khăn lớn và các chư thiên che chở chúng ta khỏi bị tổn hại.
Cho nên, khi có một việc gì quan trọng sắp sẩy ra trong đời sống của chúng ta, các chư thiên hoạt hóa một số năng lượng tinh thần trong tâm ý, thể hiện cho ta thấy trong giấc mộng. Những giấc mộng này có thể báo trước sự nguy hiểm sắp sẩy tới hoặc cả đến sửa soạn cho chúng ta trước những tin quá vui bất thần. Những thông điệp này được đưa ra trong thuật ngữ tượng trưng (giống như âm bản của bức ảnh chụp) và phải được giải thích khéo léo và với trí thông minh. Bất hạnh có rất nhiều người lẫn lộn loại mộng này với hai loại đầu, cuối cùng đã uổng phí thì giờ và tiền bạc để tin coi các đồng cốt và những kẻ đoán mộng giả mạo. Đức phật nhận thức rằng việc này có thể bị khai thác để đạt lợi dưỡng riêng tư, nên Ngài đã khuyến cáo các thầy tu chống lại các bói toán, chiêm tinh và đoán mộng dưới danh nghĩa Phật Giáo.
IV. Cuối cùng, tâm của chúng ta là nơi dung chứa tất cả nghiệp lực tích lữy trong quá khứ. Đôi khi, lúc nghiệp chín muồi, (đó là, khi hành động mà chúng ta làm trong kiếp trước hay trong giai đoạn đầu của cuộc đời, sắp lãnh quả) tâm ý đang trong lúc nghỉ ngơi có thể gây ra hình ảnh điều sắp xẩy ra. Lại nữa, hành động sắp xẩy ra là một hành động hết sức quan trọng và phải nhồi thật mạnh đến nỗi tâm "toát" ra năng lực phụ trội dưới hình thức một giấc mơ như thật. Những giấc mộng này rất ít khi xẩy ra, chỉ riêng một số người với một loại tinh thần đặc biệt mới có được. Dấu hiệu của hiệu quả một số nghiệp cũng hiện ra trong tâm chúng ta vào những chập tư tưởng cuối cùng khi chúng ta sắp từ giã thế giới này.
Những giấc mộng có thể xẩy ra khi hai người còn sống gửi cho nhau thông điệp bằng thần giao cách cảm. Khi một người khao khát mạnh mẽ muốn truyền đạt với một người khác, người đó tập trung (tư tưởng) vào thông điệp và người mà mình muốn truyền đạt. Khi tâm ý ở trong trạng thái nghỉ ngơi, đó là lúc ở trong một trạng thái lý tưởng để nhận những thông điệp được nhìn thấy như giấc mộng. Thường thường những giấc mộng này chỉ xuất hiện trong lúc cường độ mạnh vì tâm con người không đủ mạnh để nhận được những thông điệp trong một thời gian dài.
Những người trần đều là những kẻ nằm mơ, và họ thấy là thường còn cái gì thực sự là vô thường. Họ không nhìn thấy trẻ rồi cũng cuối cùng đi đến già, đẹp rồi cũng xấu, khỏe rồi cũng bệnh, và chính đời sống cũng chấm dứt với cái chết. Trong cõi trần mộng ảo này, cái thật sự chẳng có thực chất lại được nhìn thấy như thực thể. Chỉ những ai tỉnh thức như các Đức Phật và A La Hán mới nhìn thấy được thực thể.
Các Đức Phật và A La Hán không bao giờ nằm mộng. Ba loại mộng đầu không bao giờ xuất hiện trong tâm các Ngài, vì tâm các Ngài bao giờ cũng "tĩnh lặng", và không thể bị các giấc mộng hoạt hóa. Loại mộng sau chót cũng không thể xuất hiện với các Ngài vì các Ngài đã nhổ hết năng lực tham dục, và không còn "mảy may" năng lực lo âu hay khát vọng bất toại nguyện để hoạt hóa tâm phát sanh mộng mị. Đức Phật cũng được gọi là Đấng Tỉnh Thức vì cách Ngài cho cơ thể nghỉ ngơi không phải là cách mà chúng ta ngủ để rồi mộng mị.
Những nghệ sĩ và và các nhà tư tưởng vĩ đại như Goethe, người Đức, thường được nói đến là có cảm hứng tốt nhất do các giấc mộng. Điều này có thể là đúng vì khi tâm ý họ tách hẳn năm giác quan lúc ngủ, những tư tưởng trong sáng phát xuất, những tư tưởng này sáng tạo đến mức độ cao nhất. Wordsworth cũng giải thích như vậy khi ông nói những vần thơ hay là do kết quả từ "những cảm xúc mạnh mẽ được nhớ ra trong tĩnh lặng'.
CHỮA BỆNH BẰNG ĐỨC TIN
Chữa bệnh bằng đức tin - một phương pháp tâm lý.
Cách trị bệnh bằng đức tin được phổ biến tại nhiều quốc gia. Nhiều người cố gắng gây ảnh hưởng trong công chúng bằng sự thu phục tình cảm gọi là chữa bệnh bằng đức tin. Để gây ấn tượng với bệnh nhân về hiệu quả của sự trị liệu bằng thần thông, một số lang y dùng danh nghĩa một vị thần hoặc một đối tượng tôn giáo để giới thiệu hương vị của tôn giáo vào phương pháp trị liệu bằng đức tin của họ. Sự dẫn nhập tôn giáo vào cách trị liệu này hiện nay là chiêu bài hay một cái bẫy để lừa dối bệnh nhân vào việc khai triển tâm thành tín và đề cao lòng tin tưởng của người bệnh hơn nữa vào lang y trị bệnh bằng đức tin. Thi hành cách chữa trị này trong quần chúng có dụng ý quy nạp họ vào một loại tôn giáo đặc biệt nào đó.
Cho đến bây giờ, sự kiện thực tế liên quan đến việc trị liệu bằng đức tin, yếu tố tôn giáo không quan trọng đến như thế. Có rất nhiều trường hợp các lang y thi triển cách điều trị bằng đức tin không dùng đến danh nghĩa tôn giáo. Một trường hợp đáng kể là khoa thôi miên, áp dụng thuật thôi miên không cần xen vào khía cạnh nào của tôn giáo cả. Những kẻ liên kết tôn giáo với thuật dùng đức tin để chữa bệnh muốn dùng một hình thức tinh vi tạo ảo tưởng hấp dẫn mong quy nạp người vào tôn giáo của họ bằng cách sử dụng cách trị liệu này, và mô tả các trường hợp được chữa lành như do phép lạ.
Người dùng đức tin để trị bệnh áp dụng các phương pháp về điều kiện hóa tâm ý bệnh nhân vào một thái độ tinh thần đem đến kết quả vài thay đổi tâm lý và sinh lý thuận lợi sẽ diễn ra. Việc này ảnh hưởng được điều kiện của tâm thần, tim mạch, lưu thông máu huyết và nhiều chức năng của cơ quan khác; do đó tạo ra được một cảm giác mạnh khỏe. Nếu ốm đau mà do điều kiện của tâm trí, thì chính tâm trí chắc chắn có thể tạo điều kiện thích hợp để trợ lực diệt trừ bất cứ bệnh não nào có thể xẩy ra.
Trong phạm vi này, điều cần ghi nhớ là sự tu tập thiền định kiên trì và đều đặn có thể giúp giảm thiểu nhiều hình thức của ốm đau nếu không trừ tiệt được chúng. Có nhiều bài pháp trong Giáo Lý của Đức Phật cho thấy nhiều loại bệnh được diệt trừ do điều kiện của tâm. Do đó đáng cho ta cố gắng tu tập thiền định để thân tâm được an lạc.
MÊ TÍN VÀ GIÁO ĐIỀU
Người ta hay "diễu cợt dị đoan của người khác trong khi lại yêu dấu mê tín của mình."
Ốm đau bệnh tật có thể chữa khỏi nhưng dị đoan không thể chữa khỏi. Và nếu vì lý do này hay lý do khác, bất cứ một dị đoan nào đã kết tinh vào một tôn giáo, thì dị đoan đó rất dễ dàng trở thành một căn bệnh hầu như bất trị. Trong khi thi hành chức năng tôn giáo, một số người, ngay cả đến những người có giáo dục hiện đại, đã quên mất nhân phẩm mà đi chấp nhận những hình thức mê tín lố bịch nhất.
Các loại tín ngưỡng và nghi lễ có tính dị đoan được áp dụng để trang trí một tôn giáo hầu lôi cuốn quần chúng. Nhưng đôi khi cây leo trồng lên để tô điểm điện thờ lại mọc quá lớn che khuất cả điện thờ đi đến kết quả là giáo lý của tôn giáo đã bị loại bỏ nhường chỗ cho tín ngưỡng và nghi lễ dị đoan trở thành ưu thế - cây leo làm lu mờ điện thờ.
Cũng giống như dị đoan, niềm tin giáo điều cũng làm tắc nghẽn sức phát triển của tôn giáo. Niềm tin giáo điều luôn luôn đi đôi với sự cố chấp. Ta cũng nhớ lại thời đại Trung Cổ với những tòa án dị giáo, những vụ tàn sát tàn bạo, bạo động, lăng nhục, cực hình và những vụ thiêu sống người vô tội hết sức tàn nhẫn. Ta cũng nhớ đoàn quân viễn chinh thập tự giá dã man tàn bạo.
Tất cả những biến cố ấy đều bị khích động bởi niềm tin giáo điều trong quyền năng tôn giáo và đi đến kết quả bất khoan dung.
Trước kia khi kiến thức khoa học chưa phát triển, người ngu muội có nhiều niềm tin dị đoan. Chẳng hạn rất nhiều người tin rằng nhật thực hay nguyệt thực mang điềm xấu và bệnh dịch. Ngày nay chúng ta biết những cách tin như vậy không đúng. Vài nhà tôn giáo thiếu lương tâm khuyến khích người dân tin vào dị đoan để họ có thể sử dụng các tín đồ cho lợi ích riêng của mình. Khi thực sự thanh lọc được hết tâm vô minh, ta sẽ nhìn thấy vũ trụ đúng bản chất của nó và sẽ không còn khổ đau bởi dị đoan và giáo điều. Đó là sự cứu độ mà người Phật Tử mong muốn.
Quả là hết sức khó khăn để loại trừ được cảm xúc gắn bó với mê tín hay giáo điều. Ngay cả đến ánh sáng của kiến thức khoa học cũng không đủ mạnh khiến cho chúng ta xa lìa được những quan niệm sai lầm. Chẳng hạn, chúng ta đã có kiến thức từ bao nhiêu thế hệ qua là trái đất chuyển động chung quanh mặt trời; nhưng trên kinh nghiệm chúng ta vẫn thấy mặt trời mọc, di chuyển qua bầu trời, và lặn vào buổi chiều. Chúng ta cần phải có có một bước nhẩy vọt của trí thức mới tưởng tượng được là thật ra chúng ta đang chuyển động mạnh với một tốc độ phi thường chung quanh mặt trời.
Chúng ta phải hiểu là những nguy hiểm của tín điều và dị đoan đi tay trong tay với tôn giáo. Đây là lúc những người trí nên tách rời tôn giáo khỏi tín điều và dị đoan. Nếu không, danh nghĩa đẹp đẽ của tôn giáo sẽ bị hoen ố, và làm gia tăng số người không đức tin như chúng ta đã từng thấy.
manutd
04-18-2007, 09:25 PM
Người đàn ông khoảng năm mươi tuổi kể chuyện trên truyền hình, kênh phát sóng chính thức của nhà nước, rằng: Hồi ấy, để bảo vệ an toàn cho các đồng chí, tôi đã phải giết chết đứa con của mình. Người dẫn chương trình xen vào: Anh có thể nói rõ hơn anh hy sinh con mình như thế nào không ạ? Năm 1972. Cuộc càn quét bất ngờ của địch tràn vào khu hậu cứ làm chúng tôi không kịp trở tay. Trong lán trại lúc ấy có hai vợ chồng tôi với đứa con bảy tháng và ba đồng chí cùng đơn vị. Tất cả chúng tôi chui xuống hầm bí mật. Vợ tôi bế theo đứa con. Thằng bé bị ngộp thở khóc ré lên. Vợ tôi vội vàng bịt miệng nó, nhưng không bịt được tiếng khóc của nó. Tôi giằng lấy đứa con. Nựng nịu. Thằng bé vẫn khóc. Tất cả chúng tôi đều nghe thấy tiếng giày và tiếng bọn lính hò hét nhau phía trên đang đến gần. Không suy tính gì cả, tôi bóp mũi thằng bé. Tiếng khóc của nó chỉ còn ừng ực trong cổ họng. Trên mặt đất, tiếng giày đinh dậm xuống làm lồng ngực tôi ép lại. Tôi nhìn thấy mặt thằng bé méo xệch, dù trong hầm rất tối. Khuôn mặt của nó lúc đầu đỏ au rồi từ từ chuyển sang màu xanh. Rồi chuyển sang tím tái. Người nó co giật. Tôi cũng co giật. Khi nó hoàn toàn im bặt, tôi cũng mơ hồ lịm đi. Đến lúc ấy, vợ tôi mới nhoài người đến…
Không biết ông ta đã kể câu chuyện này bao nhiêu lần, trên bao nhiêu sân khấu, trên bao nhiêu bàn nhậu, trên bao nhiêu bục giảng. Khuôn mặt ông ta không có một chút đau khổ hay hối tiếc, mà nó chỉ bừng lên cái khí thế can trường của một người cha giết con. Ông kể công. Quả thực, đó là một chiến công hiển hách nhất được ghi nhận trong lý lịch cách mạng của ông ta. Nó lót đường cho ông ta đến với quan trường và danh vọng của thời bình.
Đấy là chuyện thật của người sống. Còn chuyện của người chết kể thì bảo là thật cũng được, bảo không thật cũng được.
Người ta vẫn bảo những người chết oan khuất khó siêu thoát và thường biến thành ma. Ít ra, trong trường hợp của tôi thì đúng. Tôi đã biến thành ma ngay sau khi ba tôi bóp mũi tôi trong hầm bí mật. Con người không bao giờ biết hết được thế giới ma ngoài những trò quấy rối vớ vẩn của những con ma tinh nghịch. Chúng tôi cũng có một thế giới, và trong thế giới ấy tôi lớn lên cùng với lịch sử con người. Một ngày nào đó, con người sẽ biết cách sống chung với thế giới ma như một thực thể toàn diện của con người, tôi tin thế, mà không phải sợ hãi. Và để cho ngày ấy đến gần hơn, tôi chọn ông Nguyễn Viện để kể câu chuyện của mình.
Khởi thủy tôi là một cái rùng mình của thân xác. Tôi và cái xác của tôi rời nhau cũng giống như đứa con rời khỏi bụng mẹ. Có nỗi đau đớn của thân xác và sự luyến tiếc của linh hồn. Cái xác chết là một căn nhà kín đặc và tan rữa. Cha mẹ tôi chôn cái xác ấy gần một bụi tre. Tôi đi theo họ cho đến ngày mẹ cũ của tôi sinh một đứa con khác. Nó là một đứa con gái mang hình người nhưng không có linh hồn. Vì đấy thật ra chỉ là một hình nộm trong thế giới ma mà “người ta” dùng để mô phỏng một sự hiện hữu. Chiến tranh đã kết thúc. Tôi cũng đã trưởng thành bằng những gì tôi nhìn thấy.
Tất cả những người sống sót đều kể công để được ban phát bổng lộc. Những người chết được tôn vinh cũng chỉ vì người sống. Quan hệ mang tính huyết thống trong thế giới ma thật sự chấm dứt sau khi người được gọi là cha tôi đã đạt được những điều ông ta muốn, mà lẽ ra nó đã chấm dứt ngay khi linh hồn tôi rời khỏi xác. Tôi đi theo một trong ba người đàn ông trong hầm bí mật đã chứng kiến cái chết của tôi. Ngày giải phóng, ông ta nằm trong toán quân tiếp quản bộ ngoại giao của chính quyền cũ. Là một người khôn ngoan, tuy ít học, ông ta cảm nhận được đây chính là chỗ phải nắm lấy sau khi phục viên. Thủ trưởng của ông ta chắc chắn còn khôn ngoan hơn. Ông đại đội trưởng xin xuất ngũ ngay trong lúc cầm con dấu của sở ngoại vụ thuộc ủy ban quân quản thành phố. Và ông ta tiếp tục làm chủ con dấu ấy cho đến ngày ông ta không thể đóng dấu ngay ngắn được nữa mới thôi. Người lính của ông cũng xuất ngũ một đợt với thủ trưởng của mình. Ông ta trở thành một cán bộ ngoại vụ. Ý thức được chỗ đứng của mình, ông ta đi học bổ túc đại học. Khi đi học, ông ta luôn mặc đồ bộ đội. Có người hỏi: Sao không ăn mặc như những sinh viên bình thường? Ông ta bảo: Cho nó khí thế. Học cũng như xung trận. Tốt. Nhưng tay bí thư đoàn trường và các ông thày đều biết rằng đấy chỉ là một cách hăm dọa. Người ta hỏi thày: Nó có viết được chữ nào đâu mà cũng cho nó đậu? Ông thày bảo: Cho nó đậu hay đánh rớt nó thì cũng không thể làm nó mất chức, chi bằng cứ cho nó đậu, nó có đi học cũng còn hơn không, vả lại cũng còn có tí ơn nghĩa với nhau sau này. Có bằng đại học, ông ta chạy chọt một nhiệm sở ở nước ngoài. Người ta đòi năm trăm triệu cho chức vụ tùy viên. Một tỷ cho chức đại sứ ở Nga. Ông ta chỉ có hai trăm triệu nên làm tùy viên của sứ quán tại Indonesia. Ông ta bảo vợ: Em ra chợ xem cái gì có thể buôn được. Bà vợ nói: Không cần ra chợ thì em cũng biết chỉ buôn đồ lót là ngon ăn nhất. Có con đàn bà nào mà không thích đồ lót đẹp. Bà cũng bảo cho mà biết nhé, muốn tán tỉnh em nào thì cứ mua đồ lót cho nó là xong. Trên đời này luôn luôn có những người thông minh hơn ta, ông ta khám phá ra điều ấy khi đến nhận nhiệm sở mới. Ở đấy, người ta đã có sẵn một công nghệ đóng gói hàng hóa buôn lậu. Ông ta phát biểu ý kiến: Tôi có thể giúp các đồng chí đóng được ít nhất gấp rưỡi số hàng cũng trong cái thùng này. Thử coi. Ông ta gỡ bỏ cái quạt trần, dùng cái móc sắt treo quạt kéo cái khuôn dập lên xuống bằng một cái ròng rọc. Cứ xếp vài lớp hàng, ông ta lại dùng khuôn dập để nén hàng xuống. Vừa đỡ tốn sức vừa hiệu quả. Số hàng đóng gói tăng gấp đôi. Thành quả ấy xứng đáng để ông được cho chơi chung. Có tiền thì tất nhiên vui. Nhưng vui nhất là được sống chung với những cái quần lót. Mùi vải mới giống như mùi trinh nữ. Họ tung đám quần lót bay đầy phòng, rồi để những chiếc quần ấy phủ lên người. Lăn lộn và hít hà. Nhưng niềm vui ấy cũng không lâu, họ bị cạnh tranh bởi những con buôn xuyên quốc gia và khi vừa thu hồi đủ vốn thì cũng là lúc ông ta bị triệu hồi về nước. Ông ta nhận ra rằng, làm sứ đi buôn không bằng làm cò chạy chức. Không phải bỏ vốn mà vẫn có lời, lại được ả ân tình.
Trong lúc ấy, người được gọi là cha tôi đã leo lên tới chức phó giám đốc sở thương binh xã hội. Lương của ông ấy cũng như mọi cán bộ khác, chẳng bao giờ đủ sống, nhưng ông ấy sống và thụ hưởng như một thằng tư bản nhờ lĩnh tiền thương binh của những liệt sĩ. Trong danh sách nhận trợ cấp xã hội của các quĩ từ thiện trong nước cũng như nước ngoài, ông xếp thứ hai. Ông đáng được hưởng tất cả những gì người khác được hưởng, vì xét cho cùng, ông là người có công.
Người đàn ông thứ hai chứng kiến cái chết của tôi trở thành đại biểu nhân dân. Đôi khi, tôi tự hỏi đại biểu nhân dân là cái gì nhỉ, vì tôi chẳng thấy ông đại diện cho ai ngoài chính ông ấy. Ông ta có tiêu chuẩn ôtô, công cán bằng máy bay vé nhà nước. Hỏi, ông sao được vậy? Đáp, tao là người có công. Sau này, khi về già, ông viết hồi ký thú nhận: “Quả thật, tôi cũng không biết làm đại biểu nhân dân để làm gì. Đến chỗ họp chỉ ngủ gật. Nếu có thức thì cũng chỉ có mỗi việc là chuyền thư tay giúp từ người này sang người kia”.
Người đàn ông thứ ba chứng kiến cái chết của tôi đã là một quan tòa. Ông ta bảo: Làm quan tòa cũng giống như làm thượng đế, tuy đôi khi không được xét xử theo ý mình. Hỏi ông, không theo ý mình thì theo ý bị cáo à? Ông bảo cứ làm quan tòa đi rồi biết. Chuyện này phải chờ đến khi chính người được gọi là cha tôi ra tòa, tôi mới biết quan tòa phải xét theo ý ai. Giữa pháp đình vắng vẻ, tôi hỏi: Không công minh chính trực, vì sao ông được làm quan tòa? Ông ta đáp: Bởi tôi là người có công.
Người có công nhất trong số họ phải là tôi, đúng không các đồng chí? Chính tôi là kẻ hy sinh mạng sống mình, nhưng tôi đã được hưởng gì? Nho Mỹ, táo Trung Quốc, hoa Hà Lan trên bàn thờ nhà cha tôi? Ngửi mùi quần lót ở sứ quán Indo? Là ma thì chỉ có hương hoa à? Tôi cũng cần phải hưởng theo sự đóng góp của mình. Ừ thôi thì cũng là đạo lý, mày muốn gì? Dạ, thưa mấy chú mấy bác cháu muốn lấy vợ.
Cô gái con ông-tùy-viên-một-dạo tôi đã được nhìn thấy ngay từ lúc cô mới sinh ra. Cái khuôn mặt bé và nhăn nheo như quả táo khô rất giống khỉ ấy không ngờ càng lớn càng đẹp. Tôi nhìn thấy cô ta mọi lúc mọi nơi. Chính tôi đã chọn cho cô ta những cái quần đẹp nhất và mặc cho cô ấy. Tôi đã nhìn thấy cô bâng khuâng. Tôi đã nhìn thấy cô khao khát. Khi cô vừa trổ mã, đêm đêm, tôi chui vào giường nằm với cô để cho cô thủ dâm. Và mùi quần lót của cô ấy thì tôi không thể nào quên được. Tôi bảo: Em làm cho anh gần với thế giới con người. Cô ấy cũng bảo: Anh làm cho em gần với thế giới thần thánh.
Mẹ tôi đi xem bói bà đồng cốt ở gần nghĩa trang liệt sĩ, mục đích là muốn biết số phận cha tôi thế nào. Tôi nhập vào bà đồng cốt, nói: Muốn cha thoát khỏi lao tù thì lấy vợ cho con. Con là ai? Là con của mẹ. Khi con chết mới mấy tháng tuổi thì làm sao lấy vợ? Con lớn rồi, mẹ nghĩ xem, đã bao nhiêu năm. Thế con muốn lấy ai? Con gái bác tùy viên. Âm dương cách trở thì lấy nhau thế nào được? Lấy được, mẹ không tin cứ hỏi cô ấy xem.
Mẹ tôi đến nhà ông tùy viên kể chuyện đi xem bói. Ông tùy viên cười bảo: Chị về thuê người ta làm một cô gái bằng hàng mã rồi đốt cho cậu ấy là xong. Mẹ tôi cúng cô gái trước bàn thờ tôi rồi đốt. Nhưng lửa không cháy. Tẩm xăng đốt cũng không cháy. Mẹ tôi lại đến chỗ bà đồng cốt. Tôi nhập vào nói: Con muốn lấy cô con gái bác tùy viên chứ có phải cô gái hàng chợ đâu.
Mẹ tôi điều đình với ông tùy viên: Chuyện này xin anh giúp cho, cũng là chỗ sống chết có nhau, cứ cho con gái anh mặc đồ cưới nửa đêm ra nghĩa trang làm lễ với chúng tôi, xong, lại trả con gái về cho anh. Chuyện này không ai biết ngoài hai gia đình chúng ta. Lễ vật xin đón dâu của chúng tôi là tất cả mọi nguồn xuất khẩu lao động dành cho anh độc quyền.
Ông tùy viên bàn với vợ con. Đóng kịch vài tiếng đồng hồ mà được trả công như thế thì còn gì bằng.
Con người cần phải được khải thị và sống trong sự khải thị với thế giới khác. Tôi đâu có đùa. Đêm thành hôn tôi đã nổi gió tốc hết quần áo cô ấy để chứng thực rằng cô thuộc về tôi. Và rồi tất cả những người có mặt đều thấy cô ấy nằm ngửa trên mộ tôi. Hơn ai hết, cô gái biết mình thật sự có chồng. Tôi chẳng còn cách nào khác là về ở rể. Cô ấy có hạnh phúc không? Tôi tin là có vì chính tôi, không phải ai khác, mang tới cho cô ấy mỗi đêm một điều kỳ ảo. Vật chất cho cô ấy tôi cũng lo đầy đủ, nếu không muốn nói là dư thừa. Cũng chính nhờ tôi dẫn lối chỉ đường để ông bố vợ chạy chức chạy quyền chạy tội cho thiên hạ mà càng lúc càng trở nên giàu có. Còn những thằng đòi léng phéng với vợ tôi đều bị tôi tát cho vỡ mật. Vợ chồng ông tùy viên đều biết chuyện này nhưng không dám hé răng.
Trước vành móng ngựa, bị cáo được gọi là cha tôi nói to lời cuối cùng: Tôi có công. Và ông ấy được tha tội.
manutd
04-18-2007, 09:26 PM
Những biến thái của lễ hội thời nay
Nước ta vốn có nhiều lễ hội với quy mô và tầm ảnh hưởng khác nhau. Về mục đích, có những lễ hội gắn với các tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp và chu kỳ tự nhiên; có những lễ hội nhằm tôn vinh các danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, các bậc tiền hiền có công khai sơn phá thạch, chiêu dân lập ấp; cũng có những lễ hội gắn với các tôn giáo lớn như Phật giáo ở người Việt hay Bàlamôn giáo ở người Chăm…
Về quy mô, có Quốc lễ như lễ hội đền Hùng, được nhân dân cả nước tham gia với nhiều hình thức hoạt động khác nhau; có những lễ hội chỉ ảnh hưởng trong một phạm vi vùng - miền, địa phương nào đó. Thậm chí đến mỗi thôn bản, buôn sóc hàng năm cũng có những lễ hội riêng. Thông qua hoạt động lễ hội, đồng bào các dân tộc không chỉ thể hiện những nhận thức dân gian về vũ trụ, truyền thống uống nước nhớ nguồn mà quan trọng hơn, còn thể hiện những bản sắc riêng trong đời sống tâm linh. Đó là những chỉ báo văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi tiểu vùng văn hóa và mỗi địa phương.
Thông thường, mỗi lễ hội dân gian bao giờ cũng có 2 nội dung chính: "Lễ" và "Hội". Phần "lễ" được tiến hành trang trọng với những quy định nghiêm cẩn. Xét về bản chất, mục đích chính của hoạt động này không gì khác hơn là các cộng đồng cố tìm cách đối thoại, tìm sự cảm thông của những thế lực siêu nhiên (đang tồn tại trong niềm tin của cộng đồng) để mưu cầu sự bằng an. Phần "hội" diễn ra với các hoạt động văn nghệ, thể thao và nhiều trò chơi dân gian độc đáo.
Qua nội dung của lễ hội xưa, chúng ta thấy thực chất đó là những sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là hoạt động văn hóa dân gian tổng thể. Các lễ hội đều chứa đựng những ý nghĩa tích cực, đáp ứng nhu cầu sâu lắng của mỗi con người, đó là nhu cầu cộng cảm. Các lễ hội dân gian truyền thống thường diễn ra dưới hình thức nguyên hợp, không chia tách, không chuyên môn hoá và không có "kịch bản" được áp đặt từ trên xuống. Đó là sự sáng tạo của người dân, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng và do cộng đồng thực hiện với mục đích trong sáng.
Do điều kiện chiến tranh và sau đó là sự khủng hoảng trầm trọng của thời bao cấp, nhiều lễ hội dân gian truyền thống đã bị quên lãng hoặc không được tổ chức thường xuyên. Từ ngày đất nước đổi mới, cuộc sống của người dân đã được nâng cao, nhiều lễ hội đã được phục hồi. Về cơ bản, các lễ hội vẫn giữ được nhiều dáng nét cổ truyền. Tuy nhiên, bên cạnh đó, đã thấy xuất hiện ngày càng nhiều hiện tượng tiêu cực. Điều đó thể hiện ở mấy khía cạnh sau:
Sự biến thái trong văn hóa lễ hội: Lễ hội xưa vốn dựa trên nền tảng cộng đồng, nếu có sự mưu cầu nào đó cũng với danh nghĩa cộng đồng, gắn với lợi ích cộng đồng (cầu mưa thuận gió hoà, cầu sự che chở của các bậc thánh nhân đối với thôn bản…); các cá nhân tìm thấy sự bằng an của bản thân và gia đình trong bối cảnh chung của cộng đồng. Ngày nay, nhiều người đi lễ hay đến hội không phải để vui chơi, để cầu lấy sự thanh tâm trong tinh thần hay để thoả mãn những nhu cầu tình cảm (cho và nhận từ cộng đồng) mà với mục đích rất rõ ràng là để cầu tiền tài, quan tước và bổng lộc cho bản thân. Ý nghĩa nhân văn vốn có của lễ hội đã và đang bị mai một.
Sự phô trương và lãng phí: Trước đây, việc chuẩn bị lễ vật dâng cúng trong mỗi lễ hội đều do cộng đồng đóng góp. Các gia đình hay cá nhân nào muốn có lễ riêng, phải trình bày lý do (chủ yếu là để cầu tự, giải hạn…) và nếu cộng đồng thấy chính đáng mới được phép dâng lễ. Lễ vật cũng chỉ đơn giản với mâm xôi, con gà, chai rượu, cơi trầu và ít vàng mã. Việc cung tiến hay đóng góp công đức để trùng tu nơi thờ tự lại là lẽ khác. Ngày nay, vào đám hội, bên cạnh phần đóng góp theo quy định của cộng đồng, hầu hết các gia đình, cá nhân đều có lễ riêng thật lớn. Không chỉ là xôi mầu, lợn quay mà còn có cả nhà lầu, xe hơi, tủ lạnh, TV, vàng thoi, vàng nén, đô la Mỹ… Giá trị đồ vàng mã của những gia đình giầu có tiến cúng trong mỗi đợt lễ hội đôi khi bằng thu nhập cả năm của những người nghèo. Người ta quan niệm rằng, lễ càng lớn, lộc càng dày. Năm nay cầu, nếu làm ăn được, sang năm lễ tạ còn lớn gấp năm gấp mười lần.
Sự sống lại của hiện tượng đồng cốt, bói toán: Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của những người tham gia lễ hội, hiện tượng đồng cốt, bói toán - vốn đã được kiềm chế trong những năm chiến tranh và thời bao cấp - đã và đang có dịp trỗi dậy. Vin vào chính sách tự do tín ngưỡng và ăn theo các lễ hội, các ông đồng bà cốt đã và đang hoạt động khá tự do ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước, nhất là ở các trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng lớn. Không thể phủ nhận là quả thật cho đến nay vẫn có những hiện tượng tâm linh mà khoa học chưa giải thích được. Song cũng không ít kẻ buôn thần bán thánh, sống dựa vào niềm tin mù quáng của một số ít người. Họ sống nhung lụa dựa vào sự cung phụng của các "con nhang đệ tử" và điều quan trọng hơn là chính họ đã và đang làm cho bức tranh văn hóa tâm linh thêm phức tạp.
Sự vụ lợi vật chất trực tiếp: Đây cũng là một trong những hiện tượng nhức nhối nhất hiện nay ở nhiều địa phương, nhất là ở các lễ hội có quy mô lớn, tầm ảnh hưởng rộng như lễ hội đền Hùng, chùa Hương, đền Kiếp Bạc, đền Bà chúa Kho, Bà chúa Xứ… Người ta mặc nhiên coi mỗi dịp lễ hội là cơ hội hốt bạc với đủ mọi loại dịch vụ khác nhau từ lớn đến nhỏ. Một thời, báo chí đã ồn ào đưa tin về những vụ xây chùa "lậu" ở Hương Tích để thu tiền công đức của khách thập phương. Đến Đức Phật cũng bị đem ra làm công cụ kiếm tiền thì ý nghĩa nhân văn của lễ hội rõ ràng là đã bị chà đạp nghiêm trọng. Tại các lễ hội lớn, giá cả thường leo thang, từ giá xôi, thịt, vàng, mã đến giá trông xe đạp, xe máy. Các trò chơi mà trong lễ hội xưa thường được tổ chức với mục đích "vui là chính" thì hiện nay đã và đang trở thành trò cờ bạc công khai. Từ đá gà, chọi trâu đến cờ người, tổ tôm điếm, bất cứ trò chơi nào cũng có cá độ. Số tiền đặt đôi khi lên đến con số nhiều triệu đồng. Đó là chưa kể đến các xới bạc được tổ chức riêng rẽ bên lề đám hội hay các hiện tượng lừa đảo, trộm cắp.
Rõ ràng, sau hơn 20 năm chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế theo hướng mở cửa thị trường, bức tranh lễ hội dân gian đã có sự thay đổi rất lớn. Để cho lễ hội trở lại với ý nghĩa nhân văn ban đầu, thiết nghĩ cần có các biện pháp quản lý hiệu quả hơn nội dung hoạt động này ở tất cả các địa phương.
manutd
04-18-2007, 09:28 PM
Tết, lại nhớ anh Năm
Đỗ Doãn Hoàng
1. Cánh đồng lại sặc sỡ sắc màu áo quần mùa đông của rất nhiều người làng Bần đang cày ải gieo cấy. Tôi nhìn thấy hương vị Tết qua cái màu sậm sùi rét mướt ấy. Tết về cả trong những khoảnh ao làng cạn trơ đáy loi thoi người bắt cá, mua bán cá và cả lũ trẻ quần cộc chầu chực để hôi cua cá hến ốc trai trai trùng trục ấy. Tôi đã có ngót chục mùa xuân xách giỏ đi hôi cá như thế để rồi chuyển khẩu về Hà Nội. Mỗi năm về quê một đôi lần, thường kỹ càng hơn cả là vào dịp Tết.
Thằng bé ngày xưa mình bế nó mãi, giờ đã học lớp 10. “Thằng Ngọc Anh, mày lớp bốn chưa?”. “Cháu lớp 10 rồi, có gái theo rồi chú ạ - mẹ nó thở dài – nhanh quá, thoáng cái chị đã nhàu”. “Nhà anh Năm sao vắng ngắt, cỏ mọc bít cả cổng thế này?”. “Ơ, chú ấy chết rồi. Đâm vào ôtô, nửa tháng sau làng mới biết chuyện. Lúc đâm, công an người ta đến, không có giấy tờ gì, cũng không biết người ở đâu. Người ta chôn xanh cỏ rồi nhà ông Minh mới biết, đến nhận, nó đền cho 28 triệu”.
Tôi giật mình, anh Năm làm gì biết đi xe máy, làm gì có việc gì ra khỏi làng mà mà đâm được vào ôtô cơ chứ? Anh suốt một đời trẻ con, hình như thế. Bởi đầu óc anh, dù rất láu lỉnh nhưng nó có một cái gì đó không bình thường. Anh cao lêu đêu, chân đi vòng kiềng, đầu to. Lúc tôi học lớp một thì anh đã bỏ học từ lâu, anh thiết kế những phi vụ ăn trộm táo, ăn trộm hành ở vườn các cụ (vườn cây ăn quả do các cụ trồng, xưa, có cả phong trào làm vườn các cụ, như kiểu trẻ em có phong trào làm kế hoạch nhỏ ấy) về rồi cùng đám trẻ chúng tôi nấu nướng, sì sụp ăn… rất giỏi. Có lần anh đã vô tình để tôi bị các cụ già tóm được. Nhà tôi đông anh em, bố cứ vin cái câu “giày thừa dép thiếu” của dân gian để mua cho tôi những đôi giày rất rộng. Thật ra là ông tiết kiệm, ông sợ tôi lớn, chân to ra mà đôi giày vẫn tốt thì phí của giời. Hôm ấy, đi đôi giày rộng thuênh, chúng tôi chui khe cửa gỗ vào vườn vặt táo. Lúc các cụ đuổi, tôi chạy thục mạng. Dẫm vào một bãi bùn nhão. Bên chân với chiếc giày to rộng bị mắc luôn trong bùn. Tôi chạy một đoạn, sợ mất giày, mới quay lại lấy. Và bị cụ Bạ Bi (trước cụ làm chức Trưởng bạ trong xã, giống như cán bộ địa chính bây giờ ấy) tóm được. Hôm ấy, bố tôi được dịp đài xã bêu trên loa là có con trai đi ăn trộm táo trong vườn các cụ. Anh Năm lên xin lỗi bố tôi, bố mắng anh “mày to đầu mà dại. Các cụ bảo chớ có sai: to đầu thì dại, to… thì khôn”. Nói tục xong một câu, bố tôi có vẻ hả hê và quên béng chuyện dại dột của đám trẻ ăn trộm táo. Giống táo Thiện Phiến bấy giờ đang là mốt “cây đặc sản” ở quê tôi, bố rất khoái ăn. Và quan điểm của bố, trẻ con đứa nào chả ăn trộm quả xanh, uống nước lã! Nhưng bố thì dù thoáng vậy, song vẫn không quên quân phiệt, thương cho roi vọt. Anh Nam ra vẻ người lớn, nằn nì xin tha đánh đòn cho tô. Tôi dũng cảm bảo, “Anh kệ bố em, anh xin thì em chỉ được tha lúc có anh ở đấy thôi. Lúc anh về, bố em vẫn đánh. Chẳng thà để em nằm ra làm mấy con chạch luôn...”.
Xong, tôi đau quắn đít. Anh cười khì khì rủ tôi đi đánh đáo.
2. Tôi luôn nghĩ rằng, anh có thể muôn đời không cần đi học, mà vẫn giàu. Anh sống bằng cách đánh đáo. Anh cầm đồng tiền một đồng tròn xoe sáng loáng. Anh nghiêng đầu, hiếng mắt nhòm theo đồng tiền xu, “đánh”một phát là trúng một đồng tiền khác nằm lạnh ngắt trong đất bột trung du ở tít đằng xa. Anh đánh đáo, bao giờ cũng vét hết tiền của thanh thiếu niên cả xóm.
Lúc tôi đi đại học rồi, nghe nói anh đột nhiên tự cho rằng mình có căn số thế là mở điện thờ (lên đồng) nhảy múa rất xôm trò. Cũng kiếm được tiền nuôi vợ, con. Anh gặp tôi, vẫn rủ rỉ trò chuyện. Điều kỳ lạ là thờ thánh đỏ đèn suốt đêm ngày, nhưng anh vẫn rất trẻ con. Anh bảo, độ này học thêm cả võ nữa. Anh múa võ, chân tay dài ngoằng, khệnh khạng đi quyền trông rất hài hước. Cái đầu anh to, di chuyển rất chậm, trông giống như một con rùa bị ốm đang lổm ngổm bò. Đột nhiên anh hét lớn, nhảy phốc lên đá song phi ào ào. Vèo! Chiếc dép tông Lào tuột khỏi bàn chân giao chỉ của anh bay vút lên ngọn tre. Rồi mất luôn trong đó. Tôi cười hinh hích, anh nghiêm giọng: “Mày ăn trộm táo được, chứ đếch học võ được. Người nhà võ nó phải bình tĩnh, nghiêm túc”. Bố tôi đi qua bảo, “thằng ấy nó bị hâm đấy”. Anh Năm cười ruồi: “Ông này ăn nói linh tinh. Chuyện thật lại cứ đem ra đùa”. Anh nói như người bình thường.
3. Bây giờ thì anh đã chết, một cái chết thảm sầu. Cả làng cả nước, cả chị vợ nặng ba lăm cân của anh đều kể một câu chuyện giống nhau. Anh Năm đẻ được 3 đứa con, trong lúc làng xóm giàu lên trông thấy thì kinh tế nhà anh vẫn nghèo y như ba năm về trước. Con gái anh mắt tròn, nhanh như sóc, chỉ có điều bố hâm hâm, mẹ mi-ni một cách kỳ dị, nên nó rất mặc cảm. Cả ngày không ai cạy răng nó được một câu. Lần nào tôi về quê cũng thấy nó tha thẩn ở đống xỉ than mà bác ruột nó vẫn nghiền ra để đóng gạch kiếm ăn. Bác nó là một người câm bẩm sinh, ngoài năm mươi tuổi mà vẫn lơ ngơ như trẻ lên mười. Đẻ đến đứa thứ ba thì căn số trong con người anh Năm thông báo, cháu sẽ bị chết (?). Anh đi xem bói, bọn đồng cốt phán rằng, con anh sẽ ốm thập tử nhất sinh rồi sẽ chết, nếu như anh không lễ lạt xin xỏ tốt thì hoặc là nó chết, hoặc là đích thân anh phải chết thay cho cháu. Anh Năm rất lo lắng, anh phấn đấu mãi để có được một đứa con trai. Đến một hôm cháu ốm nặng phải đi viện. Bác sỹ bảo cháu phải uống thuốc và dùng nước âm ấm mới đảm bảo sức khoẻ. Vợ chồng anh không có tới cả cái phích đựng nước nóng đem xuống bệnh viện chăm con. Anh Năm bán lúa non, cắm đất lấy tiền chữa cho con, nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Đến một hôm anh ngồi sửa chữa chiếc xe đạp cọc cạch rồi áo quần chỉnh tề chào hàng xóm láng giềng, an ủi vợ con rồi lên đường. Vợ khóc ngăn lại, anh lạnh tanh bảo, đi lấy thuốc cho thằng cu, khóc lóc cái chó gì.
Anh đi và từ bấy không một ai ở làng Bần nhìn thấy anh nữa. Năm hôm, rồi nửa tháng, thằng bé vẫn được điều trị cầm chừng trong sự túng quẫn của chị vợ anh Năm. Trời thương người cùng khốn, rồi đến lúc tự nhiên thằng bé khỏi bệnh.
4. Đó cũng là lúc có bà bán bánh mỳ rong đi qua ngõ kể câu chuyện bà trông thấy, có một người đàn ông lòng khòng bà trông rất quen nằm chết ở ven đường quốc lộ. Công an, bác sỹ người ta mổ khám, người ta bắt giữ lái xe nhưng không tài nào biết được tý gì về người đàn ông xấu số. Lái xe bảo, anh ta đâm đầu vào ôtô một cách quyết liệt, hình như đó là sự lựa chọn của anh – nhưng chẳng ai tin lời chú tài xế cả.
Sau này, vợ anh Năm xem ảnh chụp thi thể người chết rồi nhận 28 triệu tiền “bồi thường” của nhà xe. Hơn ai hết chị vợ anh Năm, và cả xóm tôi đều biết chuyện anh Năm đi chết để thế mạng cho thằng con trai tội nghiệp của anh. Anh đã lo lắng quá nhiều, đã nghĩ quá nhiều trước lời phán: cần phải thế mạng ông bố vào thì Quỷ nó mới tha mạng cho đứa con bệnh tật.
Có người bàn tán rằng, anh Năm đã tính trước được cả khoản tiền “đền” giúp chị nuôi con - tôi không tin điều đó. Tôi tin, anh đã rất yêu con, một tình yêu tuyệt vời, pha chút ma tà đồng cốt nhưng cũng không vì thế mà không đẹp. Anh đã mù quáng, đã quên mình vì con, đã cất lên một khúc ca buồn bã về tình phụ – tử như thế; thì không có cớ gì anh lại còn nghĩ đến món tiền đền mạng kia nữa. Nếu biết tính như thế, anh đã chẳng tìm đến cái chết. Làng tôi cứ cãi nhau, tranh luận mà bất biết đến cái đói khổ vẫn tiếp tục hành hoành cùng cuộc sống vốn đã tận khổ nay nay lại thành vợ góa con côi của anh Năm. Nhưng rồi cũng chẳng ai nhắc đến cái chết ấy nữa. Ngay cả việc vợ anh Năm bị nhà chồng thu lại nhà cửa, đành bỏ xứ lên quê ngoại tá túc qua ngày cũng chẳng làm ai để ý. Nếu tôi không vô tình mắc phải thảm cỏ bời bời lấp lối vào sân vào cổng nhà người đàn ông to lớn suốt đời thơ ngây ấy thì cũng chẳng ai hỏi đến anh Năm. Mà tôi hỏi đến rồi tôi cũng chỉ xót lòng được một chốc rồi Đời lại cuốn tôi theo guồng quay của nó nơi phố thị. Phố lạnh và bạc.
Tít nơi xa xôi quê ngoại nào đó, chị vợ anh Năm vẫn mi-ni một cách kỳ dị như thế, bé Hằng - con gái anh Năm vẫn câm lặng, xinh xẻo, lẫn vào trong bùn đất như thế. Không, tính tuổi ra, năm nay cháu qua tuổi dậy thì đã được 3 năm rồi. Nghe đồn, mẹ nuôi cháu như nuôi cỏ, nhưng lớn lên bé Hằng đã được trời đúc thành hoa - nó đẹp một vẻ đẹp rờ rỡ, thách thức. Bao giờ tôi mới dứt ra một ngày để tìm đến thăm họ, những người hàng xóm mến thương và tội nghiệp của tôi?
manutd
04-18-2007, 09:32 PM
Trong lịch sử phong kiến Trung quốc, phần đông Đế vương của các triều đại đều kính tín Phật pháp. Nói đến sự thịnh trị của các triều đại, nhà Đường là một trong những triều đại tồn tại lâu nhất. Đế chế này có 21 Đế vương ở ngôi, trị vì tổng cộng 288 năm, chưa kể những Đế vương trong thời Hậu Đường. Ở vào thời này, có không biết bao Thiền sư, Đại sĩ, Cao tăng, Danh tăng nối nhau hoằng dương Phật pháp, làm Tông chủ một thời, đưa Phật giáo lên đến đỉnh cao của sự thịnh trị. Bên cạnh những Thiền sư xiển dương Phật pháp, truyền trì mạng mạch, các Ngài như: Nghĩa Tịnh, Huyền Trang, Pháp Tạng, Đạo Tuyên, Khuy Cơ, Trừng Quán v.v… đã góp phần không nhỏ cho nền lịch sử Phật giáo Trung quốc, bình sinh Đế vương kính trọng, xả thân sử sách lưu danh.
Trải suốt chiều dài lịch sử, triều đại nào cũng vậy, song song với những Quân vương, Đại thần hết mình hộ trì Phật pháp, có không ít Nhân chủ, quan lại bài xích Sa môn, tàn diệt Phật giáo. Riêng trong nhà Đường, Đế vương như: Cao tổ, Vũ tông; Đại thần như: Phó Dịch, Lý Huấn, Hàn Dũ v.v… đều là những người cật lực chủ trương dẹp bỏ Phật giáo. Những năm cuối đời, Cao tổ có lần hạ chiếu dẹp bỏ bớt Chùa viện, Tự quán; sa thải bớt Tăng ni, Đạo sĩ. Phó Dịch 7 lần dâng Biểu khuyên Cao tổ dẹp bỏ Phật giáo. Vũ tông chỉ ở ngôi 6 năm, nhưng phải nói đây là thời kỳ đen tối nhất của nền Phật giáo lúc bấy giờ. Trong hàng quan lại của triều đình, Hàn Dũ (768-824) là nhân vật tương đối đặc biệt. Ông vừa là mệnh quan có quyền cao chức trọng trong triều, vừa là nhà văn nổi tiếng trên văn đàn.
Đọc qua một số văn phẩm của ông trong Cổ Văn Quan Chỉ, chúng ta thấy rõ tài học vấn uyên bác, lý luận sắc bén, văn chương bàng bạc, tư tưởng vượt trội của ông, cũng như đỉnh cao của nền văn học, nghệ thuật đương thời. Ông tự Thoái Chi, quê ở Xương Lê, đỗ Tiến sĩ, giữ chức Hình Bộ Thị Lang dưới thời Đường Hiến Tông. Do dâng Biểu can ngăn Đế rước xá-lợi, nên bị đày đến làm Triều Châu Thứ Sử, sau đổi làm Viên Châu Thứ Sử, bái phong chức Quốc Tử Tế Tửu, chuyển làm Lại Bộ Thị Lang. Ông mất, Đế truy tặng chức Lễ Bộ Thượng Thư, truy Thụy là Văn Công. Đời Tống, trong năm Nguyên Phong, ông được truy phong tước Xương Lê Bá. Trong số này, SN xin trích đăng tờ Biểu bài xích Phật giáo của Hình Bộ Thị Lang Hàn Dũ và cơ duyên Thiền sư Đại Điên khai thị ông, để thấy những quan niệm sai lệch của Hàn Dũ đối với bản thân cũng như đối với Phật giáo.
Tháng giêng năm Nguyên Hòa thứ 14 (820), Đường Hiến Tông rước xá-lợi Phật từ chùa Pháp Môn ở Phụng Tường vào cung. Đế ngự ở An Phước môn nghinh bái, giữ lại trong cung cúng dường ba ngày rồi đưa đến các chùa. Vương công, quan dân đua nhau đến lễ bái. Tăng chúng uy nghi tề chỉnh, tấu nhạc của Thái Thường, Vạn Niên, Trường An, cờ xí rợp trời, trống chiêng tưng bừng, diễu khắp phố xá.
Hình Bộ Thị Lang Hàn Dũ dâng Biểu can rằng: “Phật là một trong những phép của Mọi Rợ, lưu nhập vào Trung quốc từ thời Hậu Hán chứ thời Thượng cổ chưa từng có. Xưa Hoàng Đế ở ngôi 100 năm, thọ 120 tuổi; Thiếu Hạo ở ngôi 80 năm, thọ 100 tuổi; Chuyên Húc ở ngôi 79 năm, thọ 98 tuổi; Đế Khốc ở ngôi 70 năm, thọ 105 tuổi; Đế Nghiêu ở ngôi 98 năm, thọ 118 tuổi; Đế Thuấn và ông Vũ cũng đều thọ cả trăm tuổi. Lúc này thiên hạ thái bình, trăm họ an vui, sống lâu trăm tuổi, nhưng Trung quốc chưa từng có Phật. Kế đó vua Thang cũng thọ trăm tuổi, cháu vua Thang là Thái Mậu ở ngôi 75 năm; Vũ Đinh ở ngôi 59 năm, sách sử không ghi họ thọ bao nhiêu, nhưng cứ theo năm ở ngôi mà tính chắc chắn họ sống không dưới trăm tuổi. Chu Văn Vương thọ đến 97 tuổi, Vũ Vương thọ 93 tuổi, Mục Vương ở ngôi cả trăm năm, nhưng lúc này Phật pháp cũng chưa truyền vào Trung quốc, rõ ràng không phải nhờ thờ Phật mà được như vậy. Thời Hán Minh Đế mới có Phật pháp. Minh Đế chỉ ở ngôi có 18 năm, sau đó thì liên tục loạn lạc, vận nước ngắn ngủi. Tống, Tề, Lương, Trần, Nguyên Ngụy về sau thờ Phật càng nghiêm cẩn, nhưng niên đại càng ngắn. Chỉ có Lương Vũ Đế ở ngôi 48 năm, cả thảy ba lần xả thân thờ Phật, tế tự tông miếu không giết sinh vật, ngày ông ăn một bữa, chỉ ăn rau dưa, sau bị Hầu Cảnh bức ngặt chết đói ở Đài thành, đất nước cũng diệt vong, thờ Phật cầu phước trái lại bị tai ương. Từ đó mà xét, đủ thấy Phật không đáng tin. Cao Tổ mới nhận ngôi nhà Tùy liền bàn dẹp trừ đi, lúc ấy quần thần thấy biết cạn cợt, không thấu hiểu đạo của Tiên vương. Thần hận rằng, những Đế vương thánh minh xuất thế cứu cái tệ cho đời từ xưa đến nay nhưng lại không được nhắc đến, cúi mong Duệ Thánh Văn Vũ Hoàng đế Bệ hạ minh giám! Trong mấy trăm ngàn năm lại đây chưa có ai sánh bằng họ.
Vừa mới lên ngôi, Cao tổ đã không cho độ dân làm Tăng ni, không cho đạo sĩ dựng Tự quán riêng. Lúc ấy Thần cứ nghĩ chí nguyện của Cao tổ sẽ được Bệ hạ thi hành, giả sử chưa thể thi hành thì cũng đâu thể để bọn họ lớn mạnh thêm lên? Nay Bệ hạ sai cả bầy Tăng rước xương Phật ở Phụng Tường, còn mình ngự trên lầu cao xem, cho bọn họ đưa vào đại nội, lại còn cho các chùa thi nhau cúng dường. Thần tuy ngu muội, nhưng biết chắc Bệ hạ không bị mê hoặc Phật mà sùng phụng như vậy, mà cốt là cầu vận nước lâu bền, muôn dân an lạc, thuận theo lòng người bày trò lạ mắt để quan dân ở Kinh đô xem. Đó chỉ là trò đùa, lẽ đâu Quân vương sáng suốt lại chịu tin và làm như vậy! Bá tánh ngu muội dễ bị mê hoặc đã xong, còn như Bệ hạ anh minh đến thế mà cũng tin theo, muôn dân tất sẽ nói: “Thiên tử là bậc Đại thánh mà còn một lòng tin theo, bá tánh so với Phật quá thấp hèn lẽ đâu lại tiếc thân mệnh”. Nhẫn đến lắm kẻ tụm năm tụm bảy đốt tay đốt đầu. Rồi đây sẽ có không biết bao kẻ cúng áo, vãi tiền suốt từ sáng đến tối. Cứ thế bắt chước làm mãi, sợ rằng về sau cả già lẫn trẻ cứ bôn ba, bỏ hết công ăn việc làm. Đã không cấm cản ngay lại còn cho đưa đến các chùa, ắt có kẻ chặt tay phanh xác để cúng dường, làm bại hoại phong tục, làm trò cười cho thiên hạ. Đó đâu phải việc nhỏ!
Phật vốn là người Mọi Rợ, không cùng ngôn ngữ với nước ta, ăn mặc quái dị, miệng không biết nói phép tắc của Tiên vương, thân không biết mặc pháp phục của Tiên vương, chẳng biết đạo nghĩa vua tôi, chẳng biết tình thân phụ tử. Giả sử Phật kia còn sống, tất sẽ làm theo quốc mệnh đến nước ta triều cống, Bệ hạ thương tình mà tiếp ông ấy, bất quá tuyên chiếu tiếp đãi như khách, ban cho một cái áo, cho một đoàn hộ vệ đuổi ra khỏi nước để khỏi mê hoặc mọi người. Huống gì, ông ấy đã chết lâu rồi, xương cốt tiêu tan, chút hôi hám còn lại này há đáng đem vào cung cấm ư! Khổng tử nói: “Với quỷ thần thì kính nhưng lánh xa họ”. Ngày xưa chư hầu viếng tang những nước ở Mọi Rợ, phải sai đồng cốt trù ém, trước dùng Đào để trấn quỷ, dùng chổi Lau quét hết những điềm chẳng lành, sau đó mới vào điếu tang. Nay Bệ hạ vô cớ đem vật xú uế vào cung, đích thân đi xem, trước chẳng dùng đồng cốt trù ém, sau chẳng lấy Đào, chổi Lau trừ khử điềm chẳng lành, quần thần chẳng vạch sai, Ngự sử chẳng chỉ trái, Thần thật xấu hổ! Dám xin Bệ hạ cho đem khúc xương ấy vất xuống nước, vùi vào lửa để đào sạch gốc rễ, đoạn mối nghi cho thiên hạ, chặt mê lầm cho đời sau, khiến bàn dân thiên hạ biết việc làm của bậc Đại thánh vượt hẳn thói tầm thường. Như Phật có thiêng hay ban phước giáng họa, thì hãy đổ tất cả tai ương lên đầu Thần. Mong trời cao chứng giám, Thần quyết không oán hận.”
Đế nổi giận, cầm tờ Biểu đưa cho Tể tướng bảo lôi Dũ ra chém. Bùi Độ, Thôi Quần can: “Dũ nói năng ngỗ ngược, tội thật đáng chết, nhưng nếu trong lòng không ôm chí trung thì đâu dám nói như vậy, mong Bệ hạ khoan dung để sau này còn có người đến can gián”.
Đế nói: “Dũ nói ta phụng Phật thái quá, tội ấy còn có thể dung tha; còn như bảo rằng Thiên tử từ Đông Hán về sau thờ Phật đều bị chết sớm, Dũ là bề tôi mà dám ngông cuồng đến như vậy, lẽ đâu tha được!”
Vương công, Cựu thần liều chết xin cho, Dũ mới được tha chết, bị đày đến làm Triều Châu Thứ Sử. Vừa mới đến Triều Châu, Dũ dâng Biểu ai tạ khuyên Đế, đông phong Thái sơn, nhưng lâu ngày chẳng có tin báo. Nhân đi tế Thần ở Hải Thượng, Dũ lên Linh sơn gặp Thiền sư Đại Điên. Đại Điên hỏi Dũ:
- Ông về Nam làm quan nghe đâu do nói năng thẳng thắn, nay trông ông u sầu như có điều không vừa lòng là tại sao vậy?
Dũ đáp:
- Dũ tôi được trọng dụng trong triều hưởng bổng lộc hậu hỹ, một sớm lời ngay không được dùng, mất chức Hình Bộ Thị Lang, bị đày đến Hải Thượng xa hơn 8000 dặm, vượt qua biển núi, vợ con chết cả. Lúc đến Triều Dương, gặp phải cá dữ sóng to, tai họa khôn lường, sương độc khí bệnh, ngày đêm phát tác, bệnh càng thêm nặng, tóc bạc răng rụng. Nay lại bị đày đến chỗ không người như vầy, mạng sống này há giữ được ư! Trên đường đến đây, tôi ghé miếu Quảng Lăng cầu khấn, may nhờ sức Thần chết quách cho khỏi lo, để Chúa thượng đem công trung hưng của tôi viết trên tấu chương, sai Định Lạc Chương tấu công với thần minh, về đông lên Thái sơn tấu công với Hoàng Thiên, nếu may ra toại ý thì ngõ hầu được Chúa thượng triệu Dũ này về, thuật làm thơ ca công đức mà tế ở Giao miếu vậy. Tôi ngày đêm trông ngóng nhưng vẫn bặt tin tức, sốt ruột mong về mau thì làm sao vui được!
Đại Điên nói:
- Lời thẳng thắn của ông trong triều là trung với vua không đếm xỉa đến thân mình, hay là vì bản thân mình nói càn để chạy theo danh? Trung với vua chẳng đếm xỉa đến thân, nếu lời ấy được dùng thì ông được vinh hoa, còn vua không nghe thì ông bị mất chức, đó là lẽ tất nhiên, cớ gì phải ôm ấp mãi trong lòng làm gì! Còn nếu vì bản thân rồi nói càn, lời ấy vua nghe thì ông được tiếng là ngay thẳng, hưởng cái lợi từ lời nói, nếu vua không nghe thì tất bị đuổi, đó cũng là lẽ dĩ nhiên. Nếu trung mà bị đuổi, thì sao ông đừng nói có hay hơn không! Tôi nghe, kẻ làm bề tôi không chọn nơi yên mà ở, không lượng thế mà đi, nay ông bị đuổi cho nên không vui, xu thời mà chạy theo danh, quả không phải là bề tôi trung chánh. Vả lại, sống chết họa phước của ông lẽ đâu không treo trên trời? Ông bên trong thật tâm tu sửa, bên ngoài hãy chịu mệnh đi! Ở Quảng Lăng ấy há tạo phước cho ông được chăng? Chúa thượng vì gian tà tranh nước, lo thảo phạt không rảnh tay, chỉ có thể dẹp yên nhưng mầm mống chưa dứt hẳn. Ngay lúc này đây, ông lại muốn phong Thiền cáo công để sách loạn thiên hạ, chủ ý là để mình được về triều, ông nhẫn tâm làm được ư! Còn nữa, do cùng quẫn, bấn loạn rồi cầu khấn Quỷ thần là ông không biết Mệnh; náo động thiên hạ nhưng chẳng đếm xỉa, cốt có lợi cho mình mà thôi là ông không biết Nhân; nói càn để chứng tỏ mình trung, gặp khốn thì uất ức bi lụy là ông không biết Nghĩa; lấy loạn làm trị để cáo với Hoàng thiên là ông không biết Lễ, ấy vậy mà ông vẫn làm. Ông bị đày là do nói việc gì?
Dũ đáp:
- Chúa thượng rước xương Phật vào đại nội, tôi cho Phật là phép tắc của Mọi Rợ, thời Tam đại không có Phật nhưng vận nước lâu bền; Tống, Lương, Ngụy thờ Phật nhưng không chết yểu thì cũng loạn lạc. Tôi sợ Chúa thượng bị mê hoặc cho nên không nghĩ đến bản thân ra sức bài xích.
Đại Điên nói:
- Nếu vậy thì ông nói sai rồi. Phật là Đại thánh che khắp trời người. Đạo Phật thấu tỏ vạn vật mà lập ngôn, lời Phật thấu cùng lý của tánh mệnh, giáo pháp thì bỏ ác hướng thiện, bỏ ngụy về chân. Phật đối với thiên hạ như cha đối với con, nhưng ông phỉ báng thì chẳng khác nào con lại đi giết cha. Tôi nghe, người khéo quán sát người khác là xem đạo của họ tồn tại thế nào, chứ không so đo nơi họ ở. Vua như Kiệt, Trụ; bề tôi như Chích, Kiểu đều là người Trung quốc nhưng đâu thể noi theo, vì họ là kẻ vô đạo. Thuấn sanh ở Đông Di, Văn Vương sanh ở Tây Di, Do Dư sanh ở rợ Nhung, Quý Trát sanh ở rợ Man, hai Thánh hai Hiền ấy lẽ nào ông cho là Mọi Rợ mà không bắt chước họ chăng? Nay ông chẳng suy xét đạo Phật cứ chê suông là Mọi Rợ, sao lại ăn nói hồ đồ đến thế! Ông cho rằng thời Thượng cổ không có Phật nên không noi theo ư? Vậy thì Khổng, Mạnh sanh trong thời suy Chu, nhưng Xi Vưu, Cổ Tẩu sanh ở thời Thượng cổ, lẽ đâu ông bỏ Thánh hiền của suy Chu mà bắt chước kẻ hung tàn của Thượng cổ? Ông cho rằng thời Ngũ đế, Tam vương chưa có Phật nhưng sống lâu, vậy Ngoại Bính ở ngôi 2 năm, Trọng Nhâm ở ngôi 4 năm, không phải chết yểu đó sao? Thư Vô Dật nói: “Từ đó về sau cũng không ai sống lâu, có người 10 năm, có người 20 năm”. Ông bảo thời Hán, Trần nhân chủ chết yểu và loạn, thì Hán Minh Đế là anh chủ một thời, Lương Vũ Đế thọ đến 86 tuổi, há cũng chết yểu và loạn ư!
Dũ nói:
- Phật mà Thầy nói đó, miệng không giảng dạy phép tắc của Tiên vương, lại rêu rao bừa bãi thuyết luân hồi sanh tử, thân chẳng làm được chút nhân nghĩa trung tín, nhưng dối lập ngọn nguồn báo ứng họa phước, không có cái nghĩa vua tôi, chẳng có tình thân phụ tử, dạy đồ chúng chẳng cày bừa nhưng có cái ăn, chẳng dệt nhuộm nhưng có cái mặc, làm bại hoại đạo của Tiên vương, Dũ này há im lặng mà không chỉ trích được sao!
Đại Điên nói:
- Quá lắm rồi! Ông chẳng thấu đạt gì cả! Có người ở đây cả ngày đếm đến 10, nhưng chẳng biết hai nhân với năm là mấy, người ấy tất bị cho là kẻ điên. Ông trọn ngày nói đến nhân nghĩa trung tín, nhưng chẳng biết Phật nói Thường Lạc Ngã Tịnh thật ra chẳng khác, không phải là đếm mười nhưng chẳng biết hai nhân với năm là mấy đó ư! Có phải ông đọc sách Phật rồi cho Phật lập dị với Tiên vương không?
Dũ đáp:
- Dũ tôi đâu rảnh để đọc sách Phật!
Đại Điên nói:
- Ông chưa từng đọc sách Phật thì làm sao biết Phật không nói đến phép tắc của Tiên vương? E rằng ông chưa từng đọc sách của Khổng tử lại nghi ngờ đạo Khổng sai, hay là ông nghe người ta nói sai ông liền cho nó sai? Nếu ông chưa từng đọc sách của Khổng tử nhưng lại cho đạo Khổng sai, thì đó là “Chó của vua Thuấn”. Nếu ông nghe người ta nói sai ông liền cho nó sai, thì đó là “Đàn bà”. Xưa, vua Thuấn nuôi con chó, nó chỉ biết có vua Thuấn. Ngày nọ, thấy vua Nghiêu đi ngang, con chó liền nhảy xổ ra cắn. Không phải nó mến ông Thuấn ghét ông Nghiêu, mà do người nó thường gặp là ông Thuấn chứ chưa từng gặp ông Nghiêu bao giờ. Tôi lại nghe, con gái về nhà chồng, mẹ tiễn đi. Hễ về bên chồng rồi, cô dâu nọ ắt phải kính, phải vâng lời, không được trái ý chồng. Thế nhưng người theo người khác, đó là việc đàn bà. Ông đâu thể chạy theo cái sai của người khác mà chẳng khảo xét nguyên do, liền cho nó sai. Phàm luân hồi sanh tử không phải vọng lập, đó là chí số của trời đất, là lý mầu của u minh. Theo lý muôn vật mà xét, hễ những gì có hình có tướng trong khoảng trời đất này đều chết đi sống lại, thay nhau tuần hoàn. Gốc rễ cỏ cây ăn sâu trong đất, nhờ ánh sáng mặt trời mà đâm chồi nảy mầm, sanh cành sanh lá, đơm hoa kết trái. Thiếu không khí thì nó héo rồi khô, đến khi hội đủ điều kiện sống thì nó tươi tỉnh trở lại. Hoặc chặt đi nó lại đâm chồi mới, tính nó khôi phục, có gì lạ đâu! Khổng tử nói: “Có khởi đầu tất có kết thúc”, nên biết đó là thuyết sống chết. Hễ kết thúc thì khởi đầu trở lại, đó là sự vận hành của trời đất. Huống gì con người lẽ đâu không chết để tái sanh lại ư! Trang tử nói: “Vạn vật ra khỏi chân tính rồi vào lại chân tính”. Giả Nghị nói: “Hóa làm loài khác có gì phải lo”. Đó đều là thuyết luân hồi, chẳng đợi Phật nói mới rõ, nên ông đâu thể cho là vọng tạo. Còn nữa, ông cho họa phước báo ứng là dối lập thì càng thấy rõ ông quá sai lầm rồi. Phàm quả báo thiện ác đều là sự tương ứng tự nhiên của chân lý. Kinh Dịch ghi: “Tích thiện thì an vui mãi, tích ác thì tai ương hoài”. Lại nói: “Quỷ thần hại nhiều nhưng phước ít”. Tăng tử nói: “Cẩn thận! Cẩn thận! Cho thứ gì thì nhận lại thứ nấy!” Đó đều là thuyết báo ứng cả. Chỉ có Phật là người hay thương xót đến họa phước của con người, nên nêu bày tỏ rõ, rằng đó là lý ắt phải đến, khiến con người không tự vùi mình trong ấy, lẽ đâu là vọng tạo? Ông lại cho rằng Phật không có cái nghĩa vua tôi, không có tình thân cha con, nhưng đó lại là điều ông không thể hiểu đến được. Muôn việc trên đời vốn có cái thuộc cõi này, có cái vượt ngoài cõi này. Nếu trong cõi này thì mọi người tuân thủ nó, còn như ngoài cõi này thì chẳng phải bậc Thần thánh trong thiên hạ ắt không thể hiểu được. Bởi vậy, những lời dạy của Thánh nhân, có điều nói để mọi người tuân thủ, có điều nói cho Thần thánh trong thiên hạ. Mỗi bên nhận lãnh khác nhau. Đạo mà Khổng tử nói là khuôn phép chí cực, vô tư vô vi, vắng lặng chẳng động, cảm thì liền thông, không phải là điều mà mọi người cùng nhận hiểu. Nếu mọi người vô tư vô vi, thì lý trong thiên hạ này đã dứt mất rồi. Đó là điều ông không thể không biết. Phật nói cho kẻ bề tôi ắt dựa vào lòng trung, nói cho phận làm con ắt dựa trên tâm hiếu, đó là nói cho mọi người cùng tuân thủ. Có những điều Phật nói nhắm đến cái Vô tâm nhưng chẳng phải chỉ có Vô tâm, nhắm đến cái Vô ngã nhưng chẳng phải chỉ có Vô ngã mà còn nhắm đến Vô sanh. Như vậy, trình tự âm dương không thể loạn, số mệnh trời đất chẳng đổi dời, nên đương nhiên là có vua tôi cha con trong ấy. Điều đó kẻ thấy ít nghe cạn nói được ư! Ông lại nghi, đệ tử Phật không cày không dệt nhưng có cái ăn cái mặc, còn như đạo Nho cũng không cày không dệt thì sao?
Dũ đáp:
- Đạo Nho được Đế vương tin dùng nên hưởng vinh hoa phú quý. Đệ tử họ biết theo Hiếu, Nghĩa, Trung, Tín, nên dù không cày, không dệt nhưng đâu có ăn bám!
Đại Điên nói:
- Ông nói như vậy thì đệ tử Phật cũng có lợi ích không nhỏ cho con người rồi. Bọn ông cho rằng sau này chẳng có ai ăn bám bằng Phật, nhưng ông có nghĩ rằng hiện nay không có ai ăn bám bằng Khổng, Mạnh không? Nay ta nói cho ông biết, lý của nhà Phật bao trùm muôn phương vì nó không có bản chất, đã nhiệm mầu lại còn nhiệm mầu hơn. Giống như trời ở trên cao, con người tồn tại bên dưới, trọn ngày khen trời nhưng trời chẳng đầy thêm, trọn ngày chê trời nhưng trời chẳng vơi bớt. Như vậy khen chê đều sai cả. Từ nhà Hán đến nay trải qua lâu ngần ấy năm, sự vật trong thiên hạ thay đổi cũng nhiều ngần ấy, trời đất thần minh, thuyết nhà Phật vận hành trong đó, kẻ không dám luận bàn lại gạt phắt đi, ắt là dám che trời đất nhưng không biết hổ, dám lấp trăm thánh mà chẳng biết thẹn. Diệu lý tồn tại trong đó rồi sau mới đến nơi này. Ông hãy suy nghĩ cho kỹ đi!
Dũ nói:
- Không phải tôi chê Phật lập dị, bởi Đạo mà tôi muốn nói ở đây, tinh thần Bác ái là Nhân. Làm những việc hợp tình người là Nghĩa. Dựa trên nền tảng đó mà làm gọi là Đạo. Tự thân biết đủ, không dựa dẫm người khác thì gọi là Đức. Nhân và Nghĩa chỉ là định danh, Đạo và Đức chỉ là hư vị. Những thứ đó không giống với Đạo mà Khổng tử nói đến.
Đại Điên nói:
- Khổng tử đâu không nói: “Đặt chí trong Đạo, sống trong Đức, dựa trong Nhân, dạo trong Nghề”. Bởi Đạo là hạnh đầu tiên trong trăm hạnh. Nhân đâu đủ để gọi là Đạo. Sáu Đức mà Chu công nói gồm: Tri, Nhân, Tín, Nghĩa, Trung, Hòa, đủ thấy Đức là ngọn nguồn của nhân nghĩa, mà nhân nghĩa chỉ là một phần của Đức, lẽ đâu ông cho đạo đức là hư vị? Tử Cống lấy việc cứu giúp khắp người khác làm Nhân, Khổng tử thất sắc hỏi: “Sao ông lại tôn thờ Nhân, Nhân đủ để làm Thánh chăng?”, rõ ràng Nhân cũng chưa đủ để gọi là Thánh, ông đâu biết điều mà Khổng tử nói đến. Nay ta nói cho ông biết, hễ học thì phải khảo cứu đến cái sâu xa của Đạo, Đạo mà sâu xa thì chí của ta sẽ không ai lường được, đến lúc đó ắt người khác cho mình là hiền tài. Họ cho mình hiền tài chính là ở chỗ này, trái lại ta cho họ sai thì rõ ràng tâm ta có điều gì đó chưa biết hết. Vì vậy, tư duy cho sâu điều đúng của họ, cố sức mà tìm ngõ hầu sẽ phát hiện ra. Nay ông cậy mình thông suốt cái học của dị phương trong thiên hạ, ỷ tài văn chương bàng bạc, nhưng có bằng La Thập trong thời Diêu Tần không? Ông tới lui trong cái biết của mình nhưng có bằng Phật Đồ Trừng trong thời Tấn không? Ông hiểu thấu vạn vật, chẳng động tâm mình nhưng có bằng Bảo Chí trong thời Lương không?
Dũ im lặng một lát rồi đáp:
- Dũ tôi không bằng!
Đại Điên nói:
- Tài của ông đã không bằng họ, người mà họ tôn thờ trái lại ông cho là sai, vậy thì người có tài cao hơn ông lẽ đâu lại không biết cái biết của ông chăng? Nay ông khư khư vì bản thân mình, tới lui trong thanh sắc lợi dục, bị phật ý một chút liền phẫn uất bi lụy. Nếu ngay đây ông không chịu đựng được thì khác gì lũ ruồi nhặng tranh cặn bã trong đống đồ dơ đâu!
Khi đó, Dũ trố mắt không chớp, hào khí tiêu tan, bàng hoàng như đánh mất thứ gì, liền nói với Đại Điên:
- Ngay đây tôi hết lời rồi!
Đại Điên nói:
- Ta sở dĩ nói cho ông biết vì nhắm vào tài năng của ông chứ không phải nhắm vào cái mà ông đạt đến.
Dũ thưa:
- Dũ tôi mê muội, xin muốn được nghe điều mình sẽ đạt đến!
Đại Điên nói:
- Thành thật với lòng mình, thấu cùng tánh mệnh, tỏ lý vạn vật, thấu được mệnh trời, sau đó ta sẽ nói cho ông nghe. Bây giờ ông đi đi, ta không nói với ông nữa!
Hàn Dũ đứng dậy đi ra.
Tháng 08, Đế và Tể tướng bàn chuyện, thấy Dũ cũng đáng thương nên trao cho Dũ chức Viên Châu Thứ Sử. Dũ dựng lại am cho Đại Điên, cúng Sư hai cái y, từ biệt rằng:
- Dũ tôi sắp xa Thầy, xin được nghe một lời sau cùng!
Đại Điên nói:
- Ta nghe, người dễ tin người tất cũng dễ thay đổi, người dễ khen người tất cũng dễ chê họ. Ông nghe ta nói tin ngay như vậy, biết đâu sau này nghe người khác nói, lại cho ta sai cũng không chừng!
Dũ biết mình không thể nghe được gì thêm bèn cáo từ Sư đi Viên Châu. Thượng Thư Mạnh Giản biết Dũ có giao du với Đại Điên, nên gởi thư chúc mừng vì Dũ đã tin Phật. Trong thư trả lời Mạnh Giản, Hàn Dũ có nhắc đến Đại Điên. Dũ viết: “Đại Điên là người thông tuệ, tinh thông đạo lý, tài năng vượt xa người thường, sống vui trong đạo, chẳng bị sự vật động tâm. Tuy tôi không hiểu hết đạo vị sâu xa trong lời ông ấy, nhưng lòng mình đã không còn vướng mắc, nhân đó tôi thường lui tới thăm hỏi, đàm đạo.”
Đại Điên họ Dương, húy Bảo Thông, quê ở Triều Dương, tham học với Nam Nhạc Thạch Đầu. Một hôm Thạch Đầu hỏi:
- Cái gì là Thiền?
Sư đáp:
- Nhướng mày chớp mắt.
- Bỏ nhướng mày chớp mắt, ông đem bản lai diện mục trình ta xem!
- Xin Hòa thượng bỏ nhướng mày chớp mắt mà xem con!
- Ta bỏ rồi.
- Con cũng đã trình Hòa thượng rồi!
- Ông đem trình ta xong, còn tâm thì thế nào?
- Chẳng khác Hòa thượng!
- Chẳng liên can đến việc của ông!
- Vốn không vật.
- Ông cũng không vật.
- Không vật tức là vật thật.
- Vật thật thì không nắm bắt được, tâm ông hiện lượng cũng như vậy phải gắng mà giữ gìn.
Sau, Sư qua trụ ở Linh Sơn, Triều Dương. Sư dạy chúng:
- Phàm người học đạo phải biết bản tâm của chính mình. Phần đông người học thời nay chỉ nhận nhướng mày chớp mắt, một nói một nín, liền nhận ấn khả cho là tâm yếu, kỳ thật chưa thấu tỏ. Nay ta chỉ rõ cho các ông thấy, mỗi người phải nghe kỹ, nhận lãnh: “Hễ trừ bỏ tất cả vọng động, tưởng niệm, hiện lượng, đó chính là chân tâm của các ông. Tâm này hoàn toàn không dính dáng với trần cảnh cũng như trong lúc vắng lặng. Ngay tâm là Phật không đợi tu luyện. Vì sao? Vì ứng cơ tùy chiếu, lặng lẽ tự dùng, tột cùng chỗ dùng ấy trọn không nắm bắt được, gọi diệu dụng ấy chính là bản tâm, cần phải giữ gìn chớ có xem thường.”
Thị Lang Hàn Dũ từng hỏi Sư :
- Thế nào là đạo?
Sư lặng thinh. Lúc ấy Tam Bình làm thị giả đứng hầu, bèn gõ giường thiền ba cái. Sư hỏi:
- Làm gì?
Bình đáp:
- Trước lấy định lay, sau dùng trí nhổ.
Dũ mừng nói:
- Môn phong của Hòa thượng cao ngất, Dũ nhờ Thị giả mà có lối vào.
Nói xong, Dũ lạy tạ ra đi.
Sư nối pháp Thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên, Hy Thiên nối pháp Thanh Nguyên Hành Tư, Hành Tư nối pháp Lục Tổ Đại Giám.Về sau, không ai biết Sư thị tịch vào lúc nào, ở đâu.
manutd
04-18-2007, 09:34 PM
Cõi vô hình
Hamud là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình. Khác với những đạo sĩ phái đoàn đã gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai cập. Ông ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi. Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai cập.
Giáo sư Evans-Wentz vào đề :
- Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí…
Pháp sư thản nhiên :
- Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.
- Như thế ông tin rằng có ma…
Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết :
- Đó là một sự thật không những ma quỷ hiện hữu mà chúng còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.
- Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật ?
- Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường nên họ đã phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng ?
- Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …
- Được lắm, các ông hãy nhìn đây.
Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả :
- Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.
Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer nóng nảy :
- Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao ?
Vị pháp sư nghiêm giọng :
- Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.
- Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tùy theo sự rung động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “đồng thanh tương ứng” mà thôi. Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này. Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn. Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng. Trong bảy cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh. Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú. Những người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằng và thường tìm cách trở về cõi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được. Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán, các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt. Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Vì không được thoa? mãn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương ứng. Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
Toàn thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á châu chăng ?
Hamud mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người :
- Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ vật lý học tốt nghiệp đại học Oxford…
Giáo sư Harding giật mình kêu lên :
- Oxford ư ? Ông đã từng du học bên xứ chúng tôi sao ?
- Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1864, và là người Ai cập đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.
(Ghi chú của giáo sư Spalding : Phái đoàn đã phối kiểm chi tiết này và hồ sơ đại học Oxford ghi nhận có một tiến sĩ người Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1856 và tốt nghiệp năm 1864 với bằng Tiến sĩ Vật lý).
- Nhưng làm sao ông biết rõ được cõi giới này ? Ông đã đọc sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu ?
- Tôi đã khai mở các giác quan thể vía, nhờ công phu tu hành trong nhiều năm. Ngay khi còn là sinh viên tôi đã say mê môn Vật lý siêu hình (metaphysics). Tôi dành nhiều thời giờ nghiên cứu sách vở khoa học, nhưng đến một lúc thì khoa học phải bó taỵ Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến với Khoa Huyền Bí học. Tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên b ác, nên sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi sang Ấn độ, và Tây Tạng. Tại đây tôi gặp một Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cõi âm, tôi đã học hỏi rất nhiều với vị này. Sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm liền, và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ đó, tôi tha hồ nghiên cứu cõi âm vì tôi có thể sang tận đây học hỏi và cõi này trở nên quen thuộc, tôi kết bạn với rất nhiều sinh vật siêu hình, chúng giúp đỡ tôi rất nhiều.
Giáo sư Evans- Wentz ngập ngừng :
- Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma ?
- Dĩ nhiên, vì tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cõi này, nên tôi có rất đông bạn bè, phần lón là vong linh người quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hoá riêng, khác với loài người, có loài khôn hơn người và có loại không thông minh hơn loài vật là bao…
- Giao thiệp với chúng có lợi ích gì không ?
- Các ông nên biết cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Sự đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rõ ràng…..
- Như thế có nguy hiểm không?
- Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn…Một số thầy phù thuỷ, thường liên lạc với nhóm này để mưu cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa….
- Ông có thể làm như vậy không ?
Vị pháp sư nghiêm mặt :
- Tất cả những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hoá đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này, vì chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp hay một phù thuỷ chữa bệnh.
- Xin ông nói rõ hơn về những cảnh giới cõi âm.
- Các ông nên biết dù ở cõi nào, tất cả cũng không ra ngoài các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể : thể lỏng, thể đặc và thể hơi, thì bên cõi này cũng có những thể tương tự. Luật thiên nhiên cho thấyvật nặng sẽ chìm xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên thì cõi vô hình cũng thế. Nguyên tử cõi âm rung động với một nhịp độ khác với cõi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trược. Tóm lại, tùy theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới khác nhau, có bảy loại rung động nên có bảy cõi giới. Các nguyên tử rung động chậm chạp phải chìm xuống dưới vì nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngaỵ Thí dụ ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại nếu loài sống ở dưới đáycũng không thể lên sát mặt nước vì đã quen với sức ép khác nhau. Cảnh giới thứ bảy lúc nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh hình dáng ghê rợn, nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân. Bị lưu đày ở đây đã là khổ sở lắm rồi, các ông hãy tưởng tượng bị dụcvọng hành hạ mà không thể thoa? mãn thì còn khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn nhưng không so thoa? mãn được, như đói mà không thể ăn, khát không thể uống. Do đó, theo thời gian y sẽ học bài học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm bớt và tan ra thì y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu. Cõi giới thứ sáu, có sự rung động rất giống như cõi trần, tại đây các vong linh ít còn thèm muốn vật chất như ăn uống, dục tình, nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc sống như thoa? mãn bản ngã, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận, v…v… Đa số có hình dáng giống như người cõi trần, nhưng lờ mờ không rõ. Vì sự rung động của nguyên tử gần giống như cõi trần nên họ hay trở về cõi này, họ thường nhập vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn bậy bạ, nói chuyên vu vơ nhằm thoa? mãn tự ái, bản ngã cá nhân. Vì đa số vong linh khi còn sống rất ham mê danh vọng, chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt, họ thường tự xưng là các đấng này, đấng nọ. Theo thời gian, các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngã, danh vọng cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm. Cõi thứ năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cõi trần nên vong linh có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê hoặc. Các vong linh ở đây đã bớt ham muốn về cá nhân, nhưng còn ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ, v…v… Đây cũng là cõi có những sinh hoạt của loài Tinh linh. Loài Tinh linh là những sinh vật vô hình có hình dáng hao hao giống như người mà ta thường gọi là Thiên tinh (sylphs), Thổ địa (gnome), Phong tinh (elves), v…v… Một số bị thu phục bởi các phù thuỷ, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép. Cõi này còn có sự hiện diện của những “hình tư tưởng”. Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh thì chúng sử dụng tinh chất cõi này tạo nên một hình tư tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tùy theo sức mạnh của tư tưởng mạnh hay yếu. Vì đa số tư tưởng con người còn mơ hồ nên hình tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan rã ngaỵ Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một hình tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp sư cao tay có thể tạo ra các hình tư tưởng sống đến cả năm hay cả thế kỷ, không những thế hình tư tưởng này còn chịu sự sai khiến của ông tạ Các phù thuỷ luyện thần thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô hình để sai khiến. Hình tư tưởng không chỉ phát sinh từ một cá nhân mà còn từ một nhóm người hay một quốc gia, dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ý nghĩ, họ sẽ tạo ra một hình tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó. Hình tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn đối với tình cảm,phong tục, thành kiến của quốc gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi” hay “dân tộc tính”. Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít nhiều chịu ảnh hưởng của hình tư tưởng này, dĩ nhiên chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía, nghĩa là tình cảm của dân tộc đó, chứ không ảnh hưởng đến lý trí. Một người sống nhiều bằng lý trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người bình thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ khi dân tộc khác lại có đầu óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lý, họ không ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm về tôn giáo, phong tục, tập quán. Cảnh giới cõi thứ tư sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cõi này rung động rất nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hoá, thánh thiện, những nhà trí thức trầm mặc nhưng còn quyến luyến một ít dục vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này. Đa số đều ý thức ít nhiều, nên họ bắt đầu cởi bỏ những ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và ảnh hưỏong lẫn nhau, và đôi khi kêt những liên hệ để cùng nhau tái sinh trong một gia đình hay quốc gia. Cõi giới thứ ba chói sáng, có những rung độgn nhẹ nhàng. Tại đâu có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lãnh đạo anh minh nhưng thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần linh (devas) như Cảmđục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên thần (Rupadeva), và Vô sắc thiên thần (Arupadeva). Các thần linh này có đời sống và tiến hoá cao hơn trình độ của nhân loại. Cõi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng những nguyên tử hết sức thanh thoát, rung động rất nhanh và tràn đầy ánh sáng. Đây là cõi giới mà những người tiến hoá rất cao, rất tệ nhị không còn dục vọng, ham muốn, lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nhigệm, phát triển ccác đức tính riêng trước khi siêu thoát len cảnh giới cao hơn.
- Như thế người chết thường lưu lại ở cõi Trung giới bao nhiêu lâu ?
- Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tùy thuộc vào dục vọng con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ, lập tức đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu lại đây hàng thế kỷ… Để siêu thoát, thể vía phải hoàn toàn tan rã hết thì mới lên đến cõi Thượng thiên hay siêu thoát. Tóm lại danh từ như thiên đàng hay địa ngục chỉ là những biểu tượng của những cảnh ở cõi Trung giới (Kamaloka). Tùy theo sự sắp xếp của thể vía khi chết, mà ta thức tỉnh ở một cảnh giới tương ứng.
Mọi người yên lặng nhìn nhau, những điều Hamud giải thích hoàn toàn hợp lý và hết sức khoa học, không hoang đường chút nào. Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực nghiệm không thể nhìn thấy được ? Dù sao Hamud cũng là một Tiến sĩ Vật lý tốt nghiệp đại học nổi tiếng nhất Âu châu chứ không phải một phù thuỷ vô học chốn hoang vu, ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của một khoa học gia chứ không mê tín dễ chấp nhận một lý thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học /
Hamud mỉm cười tiếp tục :
- Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là hình hài, xác thân chứ không phải sự sống, và hình hài có chết đi, thì sự sống mới tiếp tục tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn đề hết sức hợp lý và khoa học cho ta thấy rõ sự công bình của vũ trụ. Khi còn sống, con người có dục vọng này nọ, khi dục vọng được thoa? mãn, nó sẽ gia tăng mạnh mẽ, đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng nề sẽ bị thu hút vào thể vía. Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người của tạ Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là gì ? Giống như đức tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già, đời sống cõi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử. Luật này hết sức hợp lý và dễ chứng minh. Khi còn trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khoẻ mạnh, thì khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi còn trẻ ta chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc thì khi về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không ? Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề, ô trượt để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn. Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ rất nhiều và phải lưu lại cõi Trung giới lâu hơn. Nếu hiểu biết như thế, ta cần phải duyệt xét lại đời sống của mình ở cõi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới thấp thỏi, nặng nề bên cõi âm. Những người lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết xả ly, dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát. Một sự chuẩn bị Ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cõi giới cao hơn.
- Nhưng còn các ma quỷ thì sao ?
- Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể thế nào đó, khác hẳn loài người. Thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bảy, thứ sáu mà thôi. Chúng còn lưu luyến cõi trần, còn say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi cảnh giới này… Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cõi trần, nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt, khiến người cõi trần trong một thoáng giây có thể nhìn thấy chúng…Khoan đã, các ông hãy xem kìa, người bạn của tôi đã làm xong việc.
Hamud chỉ vào góc phòng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan bằng tay đã thành hình từ lúc nào không ai rõ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích :
- Con ma này rất nghịch, và thường quanh quẩn ở đây. Tôi yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi làm trò ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khá,c tôi yêu cầu hắn thêu tên người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông, và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông thì còn ai nữa ?
Qủa thế, vị pháp sư gầy gò không thể mặc chiếc áo đan to tướng , rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà kích thước đã rất ư quá khổ, so với những người Âu khác, đó là chưa kể vòng bụng khổng lồ, rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn để bán vì đường kim mũi chỉ rất ư vụng về, nếu có bán, cũng chẳng ai muạ Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị pháp sư và phái đoàn, sự kiện này quả thật rất lạ lùng.
Giáo sư Evans-Wentz thắc mắc :
- Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao?
- Tôi không phải là một phù thuỷ, lợi dụng quyền năng cho tư lợi; mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô hình bên cõi âm. Tôi hiểu rõ các luật thiên nhiên như Luân hồi, Nhân quả, và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu cầu một cái gì. Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cõi vô hình một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu hình là một khoa học hết sức đứng đắn, chứ không phải mê tín dị đoạn. Nhiều người thường tỏ ý chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ, nên những ai có gặp ma, cũng chả dám nói vì sợ bị chê cười hay cho là loạn trí. Nếu người nào không tin hãy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, còn như phủ nhận không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hãi. Điều khoa học chưa chứng minh được không có nghĩa là điều này không có thật, vì một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh tất cả. Những phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt, thường gặp sai lầm vì như tôi đã trình bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích dẫn vài câu trong “Thánh kinh”, hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết. Phương pháp khoa học chính xác nhất là phải tự mình qua hẳn thế giới đó nghiên cứu. Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh. Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cõi giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cõi, thì ta thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần nên chỉ giới hạn trong cõi này được thôi. Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác quan thể vía được khai mở, ta có thể quan sát các cõi giới vô hình dễ dàng. Khi từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không còn sử dụng được nữa thì linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể vía ngaỵ Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi còn sống, ta có thể nhìn thấy cõi âm một cách dễ dàng.
Giáo sư Allen ngập ngừng :
- Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao ?
Hamud lắc đầu :
- Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện. Sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này vô lý vì sự tiến hoá phải từ từ, chứ không thể đột ngột được. Trên thế gian này, không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại; tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại. Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu. Nếu khi sống họ ăn tham thì khi chết, họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thoa? mãn vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được, lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả được.
- Như ông đã nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thoa? mãn không ?
- Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc thì loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, nhưng không làm sao thoa? mãn cho được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt nhưng điều này đâu có thoa? mãn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ sẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô tình mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của họ có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho nhũng người dễ thụ cảm.
- Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao ?
- Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình ảnh của thể phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối thì thể phách vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía cũng tan rã theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần. Nhưng trong đó có nhiều nguyên tử 'dĩ tháí, nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực còn rơi rớt trong thể xác, để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ, người không hiểu thì gọi đó là mạ Theo sự hiểu biết của tôi, thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất, vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy mình không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.
- Ma quỷ thường thuộc thành phần nào trong xã hội ?
- Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng, “Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.”
- Số phận của những người quân nhân tử trận thì ra sao ?
- Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một bậc thang lớn trong cuộc tiến hoá. Họ đã quên mình để chết và sống cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị thánh tử đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc vì oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.
- Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống ?
- Thật ra phải nói như thế này. Khi chết các giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể vía. Không những thế họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ; mặc dù họ không còn nghe thấy như chúng tạ Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.
- Như vậy thì họ Ở gần hay ở xa chúng ta ?
- Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới, họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ.
- Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không ?
- Điều này không có gì khó. Hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát. Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài, thì nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “hồi quang phản chiếu” (Memory projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ giữa thể xác và thể phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể phách và thể vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ Ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến.
- Ông du hành sang cõi âm thế nào ?
- Nói như thế không đúng lắm, vì ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian. Sang cõi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm. Quan niệm về không gian cũng khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngaỵ Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bỗng vì không còn đi bằng hai chân như thể xác.
- Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao ?
- Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động. Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chả ai để ý đến ông. Họ tin rằng ông đã lên thiên đàng, vì họ đã bỏ ra những số tiền, tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết. Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gầy dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì, họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp. Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về doa. nạt những người bén mảng đến gần nơi chốn dấu. Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa; họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ tình yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở. Những nhà lãnh đạo, những vua chúa, những người hống hách quyền uy thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nữa, nên họ hết sức đau khổ. Hãy lấy trường hợp một vong linh chết đuối, vì y không tin mình đã chết, nên cứ ở trong tình trạng lúc chết, nghĩa là ngộp nước. Vì đầu óc hôn mê, nên y không nhìn thấy cõi âm, mà vẫn giữ nguyên hình ảnh cõi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhưng nói gì y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi, nên cũng không sao trở về được. Nhờ các bạn bè cõi vô hình, tôi tìm được tên tuổi, và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mãnh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận việc mình đã chết và siêu thoát…
- Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sau ?
- Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và ích lợi , vì nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô cùng mãnh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô cùng ở cõi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một hình thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần, nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí huyết khoa “Mật tông Tây Tạng”.
- Như ông nói thì tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều hay sao ?
- Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định, mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu người thực hành thành tâm.
- Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi gì không ?
- Một số người tin rằng, hạnh phúc vĩnh cữu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng mình được cứu rỗi thì như được một vé phi cơ lên thiên đàng, còn không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hãi, lo âu vô ích. Nếu một người chết thình lình thì sao? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục ? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc thì sao ? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội ? Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đã có một đời sống cao đẹp, thì tâm trạng khi chết không quan trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù tang lễ được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đình nhất. Dù sao, tư tưởng chót trước khi lìa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử . Nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quại, chết không nhắm mắt được. Theo tôi thì sự hiểu biết về cõi vô hình, sự chuẩn bị cho cái chết là điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi, nhưng tiếc là ít ai chú ý đến việc này.
- Vậy theo ông, chúng ta cần có thái độ gì ?
- Đối với người Âu tây, đời sống bắt đầu khi lọt lòng mẹ, và chấm dứt lúc chết, đó là một quan niệm cần thay đổi. Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình. Trên con đường tiến hoá, còn hằng ha sa số các chu ký, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới cũng phải qua cõi trung giới. Phần ở cõi trần chỉ là một phẩn nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này, phần quan trọng ở chỗ vòng tròn tiến sâu vào cõi trần và bắt đầu chuyển ngược trở lên, đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất, mà có ý hướng về tâm linh. Các cổ thư đã vạch ra một đời sống ở cõi trần như sau : 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đình, đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời điểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh, và 25 năm sau chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm. Đối với người Á châu thì 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng về tâm linh, nhưng người Âu châu lại khác, họ ham mê làm việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngã, cho sự sống còn, cho sự thụ hưởng . Do đó, đa số mất quân bình và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt. Theo ý tôi, chính vì sự thiếu hiểu biết về cõi âm nên con người gây nhiều tai hại ở cõi trần. Chính vì không nhìn rõ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi, chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cõi trần đối với toàn kiếp người, thì không ai dồn sức để chỉ lo cho 1/3 kiếp sống, mà sao lãng các cõi trên. Nếu con người hiểu rằng quãng đời ở cõi trần rất ngắn ngủi, đối với trọn kiếp người và đời sống các cõi khác còn gần với chân lý, sự thật hơn thì có thể họ đã hành động khác đi chăng ? Có lẽ vì quá tin tưởng vào giác quan phàm tục, nên đa số coi thế giới hư ảo này là thật và cõi khác là không có…
- Nhưng nếu ông cho rằng các cõi kia còn gần với sự thật hơn, thì tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cõi trần làm gì ? Tại sao không rũ nhau đi sang cõi khác có tốt hơn không ?
Hamud mỉm cười :
- Tuy cõi trần hư ảo, nhưng nó có những lợi ích của nó, vì con người chỉ có thể tìm hiểu, và phát triển xuyên qua các rung động thô thiển này thôi. Cõi trần có các bài học mà ta không tìm thấy ở đâu khác. Chính các bậc chân tiên, bồ tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp nhận các bài học ở cõi trần, nhờ học hỏi những bài học này, họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động ở cõi trên.
manutd
04-18-2007, 09:39 PM
Mưu lược trói chồng
Biết chồng mình có sức hấp dẫn với phái nữ, bà vợ âm thầm chuẩn bị cho mình những kế hoạch mưu lược nhằm trói chặt đức lang quân vào cuộc sống gia đình. Càng ngày những kế hoạch này càng trở nên hoàn thiện.
Lập “hàng rào điện tử”
Minh lấy Nguyên từ khi hai người chỉ có đôi bàn tay trắng. Sống với nhau hơn chục năm, Minh thuộc đường ăn lẽ ở của chồng như lòng bàn tay.
Nguyên là người phóng khoáng, thông minh, có chí nhưng cũng rất đào hoa.
Mười năm Nguyên lăn lộn trong thương trường gây dựng được một doanh nghiệp cũng có đôi chút tiếng tăm.
Nguyên càng thành đạt, Minh càng lo lắng hơn trong việc giữ chân chồng.
Chỉ có điều khác với những người đàn bà khác, cô không bao giờ để lộ nỗi lo của mình cho người khác nhất là chồng mình biết được.
Người ta bàn tán trêu chọc gán ghép chuyện trăng hoa của Nguyên, Minh chỉ cười xòa như không nghe thấy gì.
Nhưng Minh âm thầm thực hiện cả một chiến lược giữ chồng thoát khỏi lưới tình với phương châm phòng còn hơn chống.
Minh bắt đầu từ những người giúp việc thân cận nhất của Nguyên.
Lần bố của Đồng, cậu lái xe của Nguyên, ốm nằm viện, Minh không ngần ngại mở tủ lấy ra năm triệu đồng dúi vào tay: “Chú cứ cầm lấy lo cho ông cụ, rồi chị em mình nói chuyện sau”.
Chưa hết, ngày hôm sau Minh còn vào tận bệnh viện mua quà thăm hỏi ông cụ như người ruột thịt.
Hôm ông cụ lên bàn mổ Minh lại đến bệnh viện gặp thẳng trưởng khoa nhờ giúp đỡ.
Lúc ông cụ bệnh nặng không qua khỏi, Minh giành lấy việc về tận quê Đồng phúng viếng.
Cả họ nhà Đồng khen nức nở người đâu mà quí hoá tận tình phúc hậu.
Lần khác, Đồng say rượu, lái xe gây va quệt, Nguyên bực mình định cho nghỉ việc.
Minh đích thân nói đỡ cho Đồng. Từ đấy, Đồng luôn cố gắng làm mọi việc để vừa lòng Minh.
Đương nhiên, Nguyên đi đâu làm gì, Minh chưa hỏi, Đồng đã khai báo tất tần tật.
Minh cũng dùng Đồng để kiềm chế Nguyên tránh cho Nguyên những lúc cao hứng quá đà.
Tiếp đến là cô thư ký của Nguyên. Sau hai lần Minh tự lấy tiền túi cho cô vay mua xe tay ga và mua đất không lấy lãi, cô thư ký cũng tự nguyện trở thành một người em kết nghĩa của chị Minh.
Và thêm một phần những gì Nguyên làm, Minh đều nắm được cả.
Trước khi lấy nhau, Hoa đã biết Hoàng là một người đàn ông có sức hút với phụ nữ.
Hoàng thì không giấu điều này, không những thế anh ta còn hãnh diện về nó.
Hoa làm công chức nhà nước. Hoàng thì làm giám đốc tại một doanh nghiệp.
Muốn kiểm soát được Hoàng thật không dễ. Ngay sau khi lấy nhau, Hoa đã rủ rỉ với chồng, công việc của ai người nấy làm, Hoa tuyệt nhiên không can thiệp gây khó dễ cho Hoàng.
Duy chỉ có điều, Hoa có hai người em họ, học hành chả đến đâu muốn nhờ Hoàng giúp đỡ cho có công ăn việc làm.
Người thứ nhất có cái bằng lái xe, Hoa nhờ Hoàng xin vào lái xe cho bất kỳ ai trong công ty chứ không nhất thiết là Hoàng.
Người thứ hai nhờ Hoàng xin cho làm bảo vệ. Thấy không có gì bất tiện, Hoàng gật đầu đồng ý.
Hoàng không ngờ rằng những vị trí tưởng như rất tầm thường ấy lại có thể biết được những điều hệ trọng.
Làm trong cùng tổ lái xe, đương nhiên người cháu của Hoa được thông báo về lịch đi lại làm việc của lãnh đạo trong công ty trong đó có Hoàng.
Người thứ hai làm bảo vệ trở thành một thám tử nắm từng thành phần khách khứa đến thăm và giao dịch với Hoàng.
Sau vài lần Hoàng đi chơi với bạn bè nhưng về nói dối vợ đi công tác, Hoa không nói gì chỉ tủm tỉm cười.
Từ đấy Hoàng chột dạ và mọi hành động cử chỉ cũng trở nên thận trọng hơn trước rất nhiều.
Liên hoàn kế
Tuy nhiên, dù có bị phong toả đến mấy, Hoàng vẫn tìm cách xé rào.
Sau vài lần đi nhậu nhẹt với đám bạn đại gia, với sự giới thiệu của họ, Hoàng đã làm quen với một nữ thư ký xinh đẹp ở công ty một người bạn.
Thông tin nhanh chóng đến tai Hoa. Vậy là Hoa đành phải tung nốt chiêu thức cuối cùng.
Biết tính các đại gia thường mê tín, lúc bí hay cầu viện ở các mụ đồng cốt.
Từ lâu, qua bạn bè họ hàng, Hoa đã vờ lộ thông tin về một thầy có tài đoán nắm cả tiền vận hậu vận người khác trong lòng bàn tay.
Trong một lần ăn cơm với vợ chồng người bạn của Hoàng, Hoa đã mách cho họ địa chỉ của thầy.
Vài ngày sau, vợ chồng người bạn của Hoàng đến yết kiến thầy, đương nhiên với sự bật đèn xanh của Hoa, thầy phán gì đúng đấy.
Họ tin thầy như thánh sống. Và cũng chỉ tuần sau người bạn của Hoàng đã rủ anh ta đến nhờ thầy dạy bảo.
Theo lời Hoa, thầy ngồi đọc tiểu sử nhà Hoàng suốt 20 phút.
Trong đó có những chuyện xảy ra cách đây vài chục năm, Hoàng lúc nhớ lúc quên giờ nghe thầy phán cứ giật mình thon thót.
Thấy Hoàng đã phục sát đất, thầy mới chốt lại: “Con đang định thăm ván bán thuyền. Chỉ có điều người vợ chính thất bây giờ mới là thần tài của con. Con phụ rẫy người ta thì cơ nghiệp tài sản sẽ sụp đổ trong nháy mắt. Cho dù là chuyện hoa lá giữa đường cũng sẽ báo ứng vào chính đời con”.
Hoàng về đến nhà mà vẫn cứ như người trong mộng. Từ đấy ai có rủ rê gợi lại chuyện với cô thư ký nọ, Hoàng gạt phắt.
Biết cuộc sống sinh hoạt của các đại gia vốn bừa bãi và phức tạp, người tốt bị bạn bè rủ rê cũng khó giữ mình, Minh cần củng cố thêm cho chồng về mặt tinh thần.
Với sự trợ giúp đắc lực của Đồng, Nguyên đã tìm đến với một thầy đồng nổi tiếng.
Với sự gợi ý khéo của Minh, thầy bói phán chuyện tiền vận của Nguyên vanh vách khiến anh này phục thầy sát đất.
Thầy nói số của Nguyên lẽ ra phải một lần chịu vận hạn mất cả cơ nghiệp gia sản ngay cả tính mạng cũng khó bảo toàn.
Tuy nhiên, may mắn Nguyên lấy được người vợ vượng phu ích tử chẳng những cứu giải được vận hạn cho chồng mà còn giúp anh hoạch phát đường công danh.
Nói cách khác, đường quan lộc và tài bạch của Nguyên phụ thuộc vào việc anh đối xử tốt hay xấu với vợ.
Sau lần đi xem bói về, Nguyên càng tỏ ra ân cần quan tâm nhiều hơn đến vợ. Ra đường ra ngõ bất chấp con gái trẻ trung xinh đẹp.
Nguyên vẫn giữ một lòng thuỷ chung với vợ con. Đáp lại Minh cũng ân cần với chồng và không quên thỉnh thoảng chăm sóc những người đã hỗ trợ mình trong công cuộc trói chân chồng.
trananh
12-10-2007, 10:55 AM
- Linh Tại Ngã
- Bất Linh Tại Ngã
- Cát bụi rồi lại về với cát bụi nhưng phải nhớ có kiếp luân hồi. Trích (Khai thị)
vuhanp
07-20-2009, 05:11 PM
Chào Anh Manutd ,tôi là người mà anh đã khai thị hôm đầu năm và quẽ ứng với công việc đi xa năm nay, Mã nhập hạn, tôi đọc nhiều bài của anh và biết anh thích về những chuyện siêu hình,xin giới thiệu anh trang vutruhuyenbi.com. trong đó tôi nghĩ có lẽ sẽ có ích cho anh rất nhiều. chúc vui. bye
thaivanky
07-21-2009, 11:46 AM
http://vutruhuyenbi.com/news/view/111
Đọc bài viết trên tôi có một nhận xét: biển Quy Nhơn hồi trước tôi học, ở gần chỗ công viên thường hay bị chết đuối lắm hầy như năm nào cũng có một mạng(tôi học đó 4 năm đều chứng kiến) nhưng chết hôm nay ngày mai lại thấy người ta bu chỗ đó tắm, thậm chí từng cặp sinh viên ngồi ngắm trăng và uống rượu chính chỗ bãi cát đó luôn.
trang vutruhuyenbi.com sao không đăng ký được thành viên....của diễn đàn nhỉ????
Powered by vBulletin® Version 4.1.5 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.