PDA

View Full Version : Mạn đàm âm nhạc trong Truyện Kiều



KhongTu
04-14-2007, 10:31 PM
Những bài cùng tác giả

Rằng hay thì thật là hay


Có lẽ ít tác phẩm nào trong kho tàng văn chương của đất nước mà âm nhạc được nhắc đến nhiều như Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhân những ngày nhàn nhã đầu Xuân, chúng ta thử mạn đàm đôi điều về âm nhạc trong tác phẩm bất hủ này, tìm hiểu xem Thúy Kiều sử dụng loại đàn gì; đã đàn bao nhiêu lần, cho ai nghe, trong các dịp nào; và đã đàn những bản gì?


http://vietsciences.free.fr/vietnam/amnhac/images/amnhactrongtruyenkieu01.jpg
Độc thiện Nguyễn cầm

Có thể nói hầu hết các ấn bản Truyện Kiều của chúng ta đều vẽ hình Thúy Kiều ngồi ôm cây tỳ bà có thân đàn hình bầu dục. Theo tôi thì điều này không chính xác bởi lời thơ đã ghi rõ:

Trên hiên treo sẵn cầm trăng,

mà cầm trăng là nguyệt cầm, loại đàn có thùng hình tròn như mặt trăng. Có người lại cho rằng Kiều sử dụng đàn nguyệt, nhưng đàn nguyệt chỉ có hai dây trong khi đàn của Kiều có bốn dây to nhỏ nên vần cung thương.


Một điều khẳng định là Thúy Kiều đã sử dụng một loại hồ cầm:

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

Thông thường chữ hồ cầm - nghĩa là đàn của rợ Hồ - dùng để chỉ cây đàn nhị. Nhưng xem trong sách Thích Danh và tự điển Từ Nguyên - Từ Hải của Trung Hoa thì hồ cầm không chỉ là tên gọi đàn nhị mà cả đàn tỳ bà nữa. Truy tìm "tỳ bà loại" trong các sách cổ Trung Hoa mới biết nước này có đến ba loại là Tứ huyền tỳ bà (Việt Nam sử dụng loại này, có bốn dây và thân đàn hình bầu dục), Ngũ huyền tỳ bà (tỳ bà có năm dây) và Nguyễn tỳ bà hay còn gọi là Nguyễn cầm (lấy theo họ của người sáng chế ra nó là Nguyễn Hàm sống vào đời Tấn). Đàn Nguyễn cầm có thùng tròn với bốn dây, hiện nay gần như đã thất truyền bên Trung Quốc (bản thân tôi may mắn được tận mắt chiêm ngưỡng một cây Nguyễn cầm đang được tàng trữ tại Bảo tàng viện Shosoin ở Nara của Nhật Bản).
Ngoài ra, khi đọc kỹ những áng văn của cụ Nguyễn Du, tôi lại tìm thấy một bài viết bằng chữ Hán kể chuyện về một danh cầm ở làng Long Thành, trong đó có câu:


Long Thành cầm giã ca
................................
Độc thiện Nguyễn cầm


Nghĩa là:

Người ca nhi chuyên nghề đàn hát ở làng Long Thành

..............................

Sử dụng tài tình cây đàn Nguyễn cầm


Từ đó có thể suy ra Nguyễn Du rất tâm đắc với cây đàn Nguyễn cầm (có lẽ vì nó mang họ Nguyễn, cũng là một họ của Việt Nam) nên đã đặt nó vào tay cả người ca nhi làng Long Thành lẫn nàng Kiều trong các tác phẩm của mình.
Tóm lại, nếu cây đàn của Thúy Kiều có tên gọi là hồ cầm, thùng đàn tròn như mặt trăng với bốn dây thì không đàn nào hội đủ ba yếu tố ấy ngoài cây Nguyễn cầm.



Phím đàn dìu dặt tay tiên bao lần?

Trong Truyện Kiều, kể cả những lần tác giả chỉ nói phớt qua, Thúy Kiều đã đánh lên tiếng đàn nỉ non thánh thót dễ say lòng người tất cả tám lần.


Lần thứ nhứt, nàng khảy đàn cho Kim Trọng nghe, khi chàng vừa tán dương vừa đề nghị:

Rằng nghe nổi tiếng cầm đài,

Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.


Lần thứ nhì, Mã Giám sinh lúc đến xem mặt Kiều đã buộc nàng đàn cho mình nghe cũng như thử tài làm thơ khi yêu cầu nàng đề vịnh cây quạt:

Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ.


Lần thứ ba là lúc ở lầu xanh, Kiều phải đàn mỗi khi tiếp khách làng chơi:

Cung cầm trong nguyệt, nước cờ dưới hoa.


Lần thứ tư cũng ở lầu xanh, Thúy Kiều họa đàn với Thúc Sinh khi tình cảm hai người đã đằm thắm thiết tha:

Bàn vây điểm nước, đường tơ họa đàn.


Lần thứ năm, Thúy Kiều bị Hoạn Thư bắt về làm con hầu và sai nàng đàn cho mình nghe:

Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày,

Lĩnh lời nàng mới lựa dây...


Lần thứ sáu là trong cuộc hội ngộ tay ba lúc Thúc Sinh trở về nhà. Hoạn Thư sau khi hành hạ Thúy Kiều bắt quì tận mặt, bắt mời tận tay, lại còn ra lệnh cho nàng:

Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe.


Lần thứ bảy, Hồ Tôn Hiến sau khi phục binh giết được Từ Hải thì mở tiệc mừng chiến thắng và ép Thúy Kiều gảy đàn giúp vui trong buổi tiệc:

Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu.


Lần thứ tám Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe lúc hai bên tái ngộ đoàn viên:

Phím đàn dìu dặt tay tiên,

Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa.


Xem qua cả tám lần ấy, chúng ta thấy tuy nổi tiếng cầm đài nhưng quả thật Thúy Kiều chưa lần nào đàn một cách tự nguyện. Đối với Từ Hải, bậc trượng phu vừa là chồng vừa là người ơn đã giúp Kiều trả ân báo oán, thế mà nàng lại chưa một lần đàn cho chàng nghe!



Khúc đàn bạc mệnh lại càng não nhân

Bản nhạc đầu tiên được nhắc đến trong Truyện Kiều chính là khúc đàn do Thúy Kiều soạn ra mang tên Bạc mệnh làm cho người nghe phải sầu não trong lòng:

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.


Thế nhưng Nguyễn Du đã không để Thúy Kiều đàn bài ấy cho Kim Trọng nghe trong lần đầu, mà lại chọn nào là khúc đâu Hán Sở chiến trường, rồi khúc đâu Tư mã phượng cầu, đến Kê Khang này khúc Quảng lăng và quá quan này khúc Chiêu Quân. Đây chính là những bản nhạc nổi tiếng từ xưa của Trung Hoa vẫn còn lưu truyền đến nay và chúng ta hãy lần lượt điểm qua các bài bản trên.


Khúc đâu Hán Sở chiến trường:
đề cập đến cuộc chiến giữa quân Hán và quân Sở. Cuối đời Tần, Lưu Bang (Hán Cao tổ) và Hạng Võ (Sở Bá vương) cùng khởi binh diệt Tần, sau đó lại muốn mở mang bờ cõi của mình nên giữa đôi bên đã xảy ra nhiều cuộc giao tranh kịch liệt. Trong một trận lớn, Sở Bá vương bị vây khốn trong thành Cát Hạ, đến cửa nào cũng gặp Hán quân mai phục nên phải cởi giáp phá vòng vây để thoát thân.


Bài bản cổ điển của tỳ bà có hai loại "văn khúc" và "vũ khúc". Văn khúc gồm những bài tả cảnh, tả tình êm dịu, tiết tấu hoà hoãn còn vũ khúc gồm những bài tả lại không khí, khung cảnh chiến trường và đòi hỏi kỹ thuật đàn rất cao. Trong các bản vũ khúc thì có hai bản rất thông dụng ngày nay: "Bá vương xả giáp" tả lúc vua nước Sở cởi giáp cho nhẹ bớt trong cuộc giao tranh và "Thập diện mai phục" diễn tả tích Hán Cao Tổ và Sở Bá vương đánh nhau. Thập diện mai phục là một trong những bản khó đàn nhứt, đặc biệt từ chương Ba đến sau có mấy đoạn khi đàn phải chen ngón giữa của bàn tay trái vào các dây làm âm thanh phát ra đục và giống như tiếng gươm giáo chạm nhau, như Nguyễn Du đã tả: nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau. Vì vậy bản Thúy Kiều đàn hẳn phải là bản Thập diện mai phục.


Khúc đâu Tư mã Phượng cầu:
dễ nhận ra đây là bài Phượng cầu hoàng mà danh cầm Tư Mã Tương Như đời Hán đã gảy đàn cho khách dự yến tiệc của Trác Vương Tôn thưởng thức, nhưng đồng thời có ý muốn tỏ tình với con gái của Trác Vương Tôn là nàng Trác Văn Quân, một quả phụ trẻ đẹp, tuy không có mặt trong tiệc rượu nhưng đã nấp trong phòng nghe trộm:


Phượng hề, phượng hề qui cố hương
Du ngao tứ hải cầu kỳ hoàng
Hữu nhứt diễm nữ tại thử đường
Thất nh? nhân hà độc ngã trường
Hà do giao tiếp vi uyên ương


Tạm dịch:


Chim phượng, chim phượng trở về chốn cũ
Đi ngao du bốn biển tìm chim hoàng
Có một người con gái đẹp ở tại nhà này
Phòng gần (nhưng) người xa lắm làm khô héo ruột gan ta
Làm sao gặp gỡ nhau để hẹn làm đôi uyên ương?


Cảm tiếng đàn tài hoa, cảm lời ca tình tứ, ngay đêm ấy Văn Quân đã bỏ nhà đi theo Tương Như. (Cần nói rõ thêm là bài "Phượng cầu hoàng" của Trung Hoa khác xa với hai bản "Phụng hoàng" và "Phụng cầu" của nhạc tài tử miền Nam trong loạt bài Tứ oán).


Kê Khang này khúc Quảng Lăng:
Kê Khang là người nước Nguỵ sống vào thời Tam Quốc được tôn là một trong bảy người hiền của phái Trúc Lâm Thất hiền. Một đêm đến trọ ở Hoa Dương Đình vùng Lạc Tây, Kê Khang mang đàn ra gảy thì có người khách lạ tới xin gặp để luận bàn về âm nhạc và rồi hai người trở thành bạn tâm giao. Khách soạn ra khúc "Quảng Lăng tán" âm điệu tuyệt hay và truyền cho Kê Khang. Lúc cuối đời Kê Khang bị kẻ thù ám hại nên có giai đoạn bản này bị thất truyền. Gần đây các nhà nhạc học Trung Quốc đã lần tìm lại được và bản Quảng Lăng ngày nay vẫn được các danh cầm trình bày trong những buổi độc tấu cổ cầm tại Trung Quốc hay Đài Loan.


Quá quan này khúc Chiêu Quân:

Chiêu Quân, tên tự Vương Tường, có nhan sắc diễm lệ và tài nghệ xuất chúng nên được tuyển vào cung thời Hán Nguyên đế. Vì không chịu lo lót cho Mao Diên Thọ (người hoạ sĩ thừa lịnh vua vẽ chân dung các cung nữ để nhà vua nhìn mà tuyển chọn cho vào hầu) nên người này đã cố tình vẽ thêm nốt ruồi sát phu trong bức họa của nàng, do đó nàng chưa bao giờ được vua đoái hoài. Về sau Chiêu Quân bị triều đình chọn để gả cho chúa Thiền Vu của Hung Nô. Khi nàng vào bái biệt, sửng sốt trước vẻ đẹp lộng lẫy của Chiêu Quân nhà vua có ý muốn giữ lại nhưng việc đã rồi không thể nào thay đổi. Trên đường rời quê hương, khi qua cửa ải, Chiêu Quân ôm đàn tỳ bà gảy một khúc đàn nói lên nỗi lòng đau khổ của mình. Nhiều nhạc sĩ đã dựa theo câu chuyện này mà sáng tác ra các bản nhạc và có lẽ Thúy Kiều đã đàn bài "Quá quan", một trong những văn khúc đặt cho đàn tỳ bà.


Đến đầu thế kỷ 20, danh ca Hồng Tuyến Nữ của Quảng Đông cũng từng nổi danh cả Trung Quốc với bài ca "Chiêu quân xuất tái".


Bản "Quá ngũ quan" của Triều Châu cũng rất được thông dụng ở Việt Nam, mà nghệ sĩ Bạch Tuyết trong bài vọng cổ đặt theo tích Dương Quí Phi trách An Lộc Sơn không về kịp để cứu mình cũng đã sử dụng bản này giữa hai đoạn vọng cổ.

Trong những lần khác, khi Thúy Kiều đàn cho Mã Giám sinh, rồi hai lần đàn ở lầu xanh, hay lúc đàn trước Hoạn Thư và Thúc Sinh, tác giả không hề nhắc đến tên các bài bản mà chỉ mô tả tiếng đàn của nàng tuy nỉ non thánh thót dễ say lòng người nhưng cũng thật thê lương:

Bốn dây như khóc như than,

Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.


Bị Hồ Tôn Hiến ép gảy đàn giúp vui trong tiệc mừng chiến thắng, lần đầu tiên Thúy Kiều đã đàn khúc "Bạc mệnh" nàng soạn từ thuở xuân thì, mà tiếng đàn sầu thảm đã khiến một Hồ Tôn Hiến sắt đá cũng phải rơi lệ:

Hỏi rằng này khúc ở đâu,

Nghe ra muôn thảm nghìn sầu lắm thay!


Chỉ đến khi tái ngộ với Kim Trọng sau 15 năm xa cách, tuy Thúy Kiều đồng ý đàn chỉ vì nể lòng người cũ vâng lời một phen, nhưng tiếng đàn ấy giờ đã êm hoà ấm áp chớ không não nùng như xưa:


Khúc đâu đầm ấm dương hoà
Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!


Cả sáu câu này tác giả mượn ý trong bài thơ Cầm sắt của Lý Thương Ẩn đời Đường:


Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp
Thục đế xuân tâm thác đỗ quyên
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ
Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên


Tạm dịch:


Trang sinh trong giấc mộng buổi sáng tưởng mình hoá ra con bướm
Vua Thục chết rồi ký thác cho chim đỗ quyên tình yêu mùa Xuân
Trên biển rộng ánh trăng soi hạt ngọc long lanh như giọt nước mắt
Tại Lam Điền dưới ánh nắng mặt trời hạt ngọc bốc thành hơi.


Hồ điệp là con bướm còn Trang sinh là một người tên Trang Chu ở nước Lương thời Chiến quốc. Sách Trang tử có đoạn viết rằng một hôm Trang Chu nằm chiêm bao thấy mình hoá thành con bướm, khi thức giấc mơ màng tự hỏi không biết mình là bướm hay bướm là Trang Chu?
Thật ra trong cổ nhạc Trung Hoa chúng tôi chưa gặp bài nào có tên Hồ điệp. Âm nhạc truyền thống Huế thì lại có Hồ điệp là một bài rất gần với cổ bản theo hơi khách, nét nhạc vui tươi, có thể gần gũi với tâm trạng của Kiều khi tái ngộ người xưa.


Còn câu

Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên

nhắc tích vua nước Thục là Đỗ Vũ bị mất nước phải lên núi Tây Sơn ẩn cư, khi chết hoá thành chim đỗ quyên thường cất tiếng kêu "quốc quốc" ai oán như tỏ tấm lòng nhớ tiếc không nguôi. Do đó chúng tôi hơi ngạc nhiên khi cụ Nguyễn Du cho rằng đây là khúc đâu êm ái xuân tình. Hay có thể cụ ám chỉ tuy Thúy Kiều nể lòng người cũ nên đàn một bản êm ái xuân tình, nhưng trong lòng vẫn ai oán vì chưa dứt ra được nỗi sầu thân phận?


Dẫu sao thì chúng ta cũng không biết nàng đã đàn bản gì trong lần cuối này. Thêm một điểm cần lưu ý, từ cái tựa đến nội dung bài thơ của Lý Thương Ẩn đều liên quan đến đàn cầm và đàn sắt chớ không phải tỳ bà. Có lẽ cụ Nguyễn Du chỉ dựa trên những ý đẹp đó mà diễn tả tiếng đàn của nàng Kiều, chẳng hạn như châu nhỏ duềnh quyên là mượn ý câu thơ "Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ" để tả tiếng đàn nghe thật trong.



* * *


Như đã nói ở đầu bài viết, ít có quyển truyện thơ nào trong văn chương Việt Nam mà tác giả đã dành rất nhiều câu về âm nhạc khi nói đến nhân vật chánh như trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Điều đó chứng tỏ văn hào của chúng ta rất yêu âm nhạc, lại khá am tường cổ nhạc Trung Hoa nên đã đề cập đến nhiều bài bản danh tiếng và có những câu miêu tả tiếng đàn của Thúy Kiều chứng tỏ tác giả là người có tài nhận xét âm nhạc một cách sâu sắc và đầy thi vị.
Tuy nhiên, do không phải là người "trong nghề" nên cụ Nguyễn Du không để ý rằng ngoài hai bản "Thập diện mai phục" và "Quá quan" viết cho đàn tỳ bà, thì những bài bản khác lại chỉ dành riêng cho đàn "cổ cầm" mà nhạc khí như "hồ cầm" không biểu diễn được. Chính vì thế các học giả khi chú thích những câu thơ của Truyện Kiều, nếu phối hợp được hiểu biết về thơ văn, điển tích với lịch sử âm nhạc và cả âm nhạc học của Trung Hoa thì mới có thể đầy đủ được.


Tất nhiên bài viết ngắn này không phải là một nghiên cứu có tính khoa học mà chỉ là đôi điều mạn đàm với mong muốn cung cấp thêm cho những người yêu Truyện Kiều một số tư liệu về phần âm nhạc học. Mong sao rồi đây sẽ có nhiều vị thức giả bổ sung thêm để làm phong phú kho tàng văn học nước nhà.


GSTS TRẦN VĂN KHÊ

Theo vietsciences

miumiuah
05-20-2007, 09:20 PM
VietNamNet) - Người Trung Quốc coi cây đàn Cổ Cầm như một báu vật văn hóa. Những cây đàn được làm công phu và được bán với giá rất cao. Người chơi đàn vẫn giữ được những lễ tiết của văn hóa cổ xưa như việc đốt mỗi lư trầm đặt trước giá đàn mỗi khi tấu một bản nhạc.


Thính Cầm đồ - tranh của Tống Huy Tông.
Năm 2003 Nghệ thuật âm nhạc Cổ cầm của Trung Quốc đã được tổ chức UNESCO tôn vinh là Kiệt tác văn hóa truyền khẩu phi vật thể của nhân loại (trước đó năm 2001, UNESCO đã phong cho nghệ thuật Kinh Kịch và năm 2005, phong tặng cho công phu Thiếu Lâm) cùng đợt tôn vinh này nghệ thuật Nhã nhạc cung đình Huế ở Việt Nam cũng được công nhận. Bài viết dưới đây về cây đàn Cổ cầm chúng tôi muốn giới thiệu về một văn hóa Cổ cầm ở Trung Quốc, với những thành công và những bài học trong công tác bảo tồn giá trị nghệ thuật này.

Văn hóa Cổ cầm: Huyền tích và cứ liệu

Có thể nói Cổ cầm là một cây đàn nổi tiếng gắn chặt với sinh hoạt đời sống văn hóa – Tư tưởng của người dân Trung Hoa. Ban đầu đàn có tên là Dao Cầm, gồm 5 dây: Cung – Thương – Dốc – Chủy – Vũ, sau thêm hai dây Văn – Võ là bẩy nên còn gọi là Thất huyền cầm tức là đàn 7 dây. Về việc đàn thêm vào 2 dây được giải thích trong tích truyện Bá Nha ngồi đàm đạo với Tử Kỳ về cây đàn này như sau: Khi vua Thuấn gảy đàn ngũ huyền thì thiên hạ thái bình; sau khi vua Văn Vương bị tù ở Dũ Là con trai Bá Ấp Khảo nhớ thương đem đàn ra đánh thêm một dây mang tiếng oán gọi là dây Văn; trước khi vua Vũ Vương phạt Trụ có đem đàn ra đánh thêm một dây nữa gọi là đây Võ. Đàn Cầm có lẽ là cây đàn ra đời rất sớm ở Trung Hoa nên sơ khai khi người dân nói Cầm có nghĩa là chỉ cây đàn Cổ Cầm để phân biệt với Tranh (đàn tranh), Tiêu; Tì Bà …vv. Về sau chữ Cầm mới trở thành danh từ chung dùng cho các loại nhạc cụ dây.

Vẫn trong tích truyện về Bá Nha gặp Tử Kỳ có nhắc đến sự ra đời của Cây đàn này như sau: Xưa vua Phục Hy thấy năm sắc sao rơi xuống cây ngô đồng, chim phượng hoàng tới đậu ở cây, thấy ngô đồng là loại gỗ quý, hấp thụ tinh hoa của trời đất có thể chế nhạc cụ được, liền hạ cây xuống chặt làm ba khúc. Đoạn ngọn tiếng quá trong mà nhẹ, đoạn gốc tiếng quá đục mà nặng, chỉ có đoạn giữa tiếng trong, tiếng đục phân minh liền lấy để dùng. Vua đem ngâm nơi dòng nước 72 ngày xong đem phơi ra gió cho thật khô. Sau đó vua sai người thợ khéo là Lưu Tử Kỳ đẽo thành Dao Cầm.

Dao Cầm dài 3 thước 6 tấc 1 phân ứng theo 361 độ chu thiên trong năm. Mặt trước rộng 8 tấc ứng với 8 tiết, mặt sau rộng 4 tấc ứng theo bốn mùa, bề dày 2 tấc ứng theo lưỡng nghi. Đàn gồm 12 phím ứng với 12 tháng trong năm, sau thêm một phím nữa ứng với tháng nhuận. Trên mắc 5 dây ngoài ứng theo ngũ hành, trong ứng với ngũ âm: Cung – Thương – Dốc – Chủy – Vũ. Đàn có sáu điều “kỵ” và bảy điều “không”.

Sáu điều “kỵ” là kỵ rét lớn, nắng lớn, gió lớn, tuyết rơi lớn; gặp lúc ấy người ta không dùng. Bảy điều “không” là không đàn đám tang, không đàn trong lúc lòng nhiễu loạn, không đàn trong lúc bận rộn, không đàn trong lúc thân thể không sạch, không đàn trong lúc y quan không tề chỉnh, không đàn trong lúc không đốt lò hương, không gặp được tri âm. Lại còn có thêm tám “tuyệt” là : thanh, kỳ, u, nhã, li, tráng, lu, trường. Trong tám tuyệt ấy gợi đủ cả các tình cảm, vì vậy tiếng đàn có thể đi đến tuyệt vời.

Thực chất, khó có một dữ liệu nào có thể chứng minh cây đàn Cầm có từ thời Tam Hoàng với những huyền tích về vua Phục Hy nhưng một điều chắc chắc bằng những cứ liệu lịch sử thì đàn Cổ cầm xuất hiện trong các văn bản từ thời Đông Chu. Quan Thư trong Kinh Thi có viết “Yểu điệu thục nữ/ Cầm sắt hữu chi”: Tức là Người thục nữa yểu điệu thì đàn cầm đàn sắt cùng lên tiếng. Hay bức tượng nhạc công chơi đàn Cổ cầm có từ đời Chiến Quốc được phát hiên tại Sơn Đông vào tháng 6 năm 1990. Tiếp theo đó là những hình nhạc công chơi đàn Cổ cầm được phát hiện trong các ngôi mộ Đông Hán ở tỉnh Tứ Xuyên vào những năm 70 của thế kỷ trước đã là những cứ liệu sớm nhất chứng minh về việc xuất hiện và diễn tấu cây đàn Cổ cầm trong văn hóa Trung Hoa.


Cổ Cầm kiểu Trọng Ni thức.
Sau đó người ta còn tìm thấy những bức thạch họa trên các mộ cổ đời Nam triều vẽ cảnh sinh hoạt của Trúc lâm thất hiền, trong đó có sự xuất hiện hình ảnh của cây đàn Cổ cầm. Tiêu biểu là bức thạch họa ở trong một ngôi mộ cổ ở Nam Kinh có từ thời Nam triều vẽ hình Kê Khang và Nguyễn Tịch. Trong truyền kỳ của dân gian thì Kê Khang là một tác giả nổi tiếng với khúc Quảng Lăng Tán vốn coi đã bị thất truyền. Nguyễn Du sau này lấy lại tích đó trong truyện Kiều với hai câu thơ: Kê Khang này khúc Quảng Lăng / Một rằng Lưu Thuỷ hai rằng Hành Vân.

Quảng Lăng Tán – Lưu Thủy – Hành Vân là những khúc nhạc rất nổi tiếng được chơi trên cây đàn Cổ cầm. Bên cạnh các di chỉ khảo cổ tìm được trong các ngôi mộ từ Hán, Nam Triều; Cổ cầm xuất hiện khá nhiều trong các bức họa cổ. Xin nêu ra một số bức tiêu biểu của các triều đại ở Trung Quốc. Thời Tùy Đường, họa sư Chu Phương có bức: Điệu cầm xuyết mính đồ (Bức họa vừa chơi đàn Cầm và uống trà) trong đó có vẽ một người phụ nữ quý phái đang ngồi chơi đàn và một a hoàn đứng bê khay trà.

Thời Tống có bức: Thính Cầm đồ (Bức họa nghe đàn) của vua Tống Huy Tông vẽ cảnh hai vương gia đang ngồi nghe một nhạc sư đàn cổ cầm dưới một gốc cây tùng, sau lưng một vị quan có một tiểu đồng đứng hầu. Ba chữ Thính cầm đồ đề trên bức họa do tự tay vua Tống Huy Tông đề bằng thể chữ Xấu kim thể (thể chữ với những nét gầy) và một bài thơ không rõ người nào đề ở trên đầu bức họa.

Thời Nguyên có bức: Tùng âm hội cầm đồ (Hội ngộ trong buổi chiều tà dưới gốc Tùng nghe đàn cầm) của Triệu Mạnh Phủ: Bức họa vẽ cảnh hai ẩn sĩ ngồi dưới tán cây tùng nghe đàn trong buổi chiều tà có một tiểu đồng đứng hầu bên cạnh một lò hương. Triệu Mạnh Phủ là một nhà thư họa nổi tiếng Trung Hoa dưới thời nhà Nguyên, ông để lại rất nhiều bức họa và cùng với Nhan Chân Khanh, Âu Dương Tuân là ba nhà thư pháp để lại ba thể chữ Khải nổi tiếng trong văn hóa Thư họa của Trung Hoa dưới thời nhà Nguyên.

Thời Minh có bức: Đào nguyên tiên cảnh đồ (Bức họa cảnh tiên ở chốn đào nguyên) của họa sư Cửa Anh vẽ cảnh núi non chốn đào nguyên có những vị tiên đang ngôi nghe đàn cổ cầm xung quanh có các đạo đồng mặc áo đen kẻ bưng trà người quạt lò hương.

Thời Thanh có bức: Đàn Cầm đồ (Bức họa đánh đàn Cầm) của họa sư Nhậm Huân: Bức họa vẽ được vẽ trên quạt, cảnh sơn thủy, giữa một rừng tùng trong am nhỏ có một người đàn chơi đàn Cầm.

Điệu khúc


Long trì.
Hiện giờ ở Trung Quốc còn rất nhiều bài bản Cổ cầm tuy vậy nói đến các các điệu nhạc Cổ cầm thì mọi người thường kể đến 10 khúc nhạc cổ điển nổi tiếng: 1. U Lan; 2. Quảng lăng tán; 3. Ly tao; 4. Hồ gia thập bát phách; 5. Ái nãi; 6. Mai hoa tam lộng; 7. Tiêu tương thủy vân; 8. Lưu Thủy; 9. Dương quan tam điệp; 10. Bình sa lạc nhạn.

10 khúc nhạc này những người học Cổ Cầm đều biết, song chơi được cho hay thì quả là khó. Một nhạc sư có khi chỉ đánh được đến mức độ tinh diệu một vài trong số những bản nhạc này. Ví dụ như danh cầm Quản Bình Hồ (1879 - 1967) được coi là người chơi đàn Cổ cầm hay nhất thế kỷ 20, tiếng đàn của ông đã được thu băng và gửi vào vũ trụ coi như là tinh hoa của nhân loại. Ông nổi tiếng nhất là chơi các khúc Ly tao, Lưu Thủy, Quảng Lăng Tán, U Lan.

Mỗi khúc nhạc cổ trên đều mang trong nó những câu chuyện kỳ thú. Thí dụ như khúc Lưu Thủy gắn với tích Bá Nha và Tử Kỳ, khúc Ly Tao gắn với tích Khuất nguyên trò chuyện với Ngư Phủ về thế sự; khúc Quảng Lăng tán gắn với chuyện Kê Khang chịu hình giữa chợ mà thốt lên rằng: Từ nay Quảng lăng tán thất truyền.

Quảng Lăng tán có tên đầy đủ là Quảng Lăng chỉ tức, là một khúc cầm mạnh mẽ sôi sục, mang tráng chí của hào kiệt. Bản đàn này xuất hiện đầu tiên dưới dạng văn bản trong cuốn Thần kỳ bí phổ có từ đời nhà Minh. Theo sách Trung Quốc âm nhạc sử lược của Lưu Đông Thăng thì khúc nhạc này xuất hiện vào cuối đời Đông Hán; gắn liền với hai tích: Nhiếp chính ám sát Hàn Vương; Kê Khang chịu hình.

Các đoạn của Quảng Lăng tán được phân thành: Tỉnh lý (quê hương của Nhiếp Chính), Thủ Hàn, Vong thân, Hàm chí, Liệt nữ, Trầm danh, Đầu kiếm, Tuấn tích, Vi hành cùng toàn bộ quá trình ám sát Hàn vương của Nhiếp Chính. Đến thời của Kê Khang được ông nâng lên thành một bản đàn tuyệt kỹ. Khi Kê Khang không chịu khuất phục nhà Tư Mã đứng về phe Ngụy chủ, nên vì thế Tư Mã Chiêu đã chặt đầu ông ở chợ vào năm 262 TCN.


Eo Kim Đồng
Khi chịu án Kê Khang thần sắc không đổi chỉ xin được đàn và nói rằng Quảng Lăng tán từ nay thất truyền. Tuy vậy, Kê Khang không phải là người sáng tác ra bản Quảng Lăng tán, mà thực chất bản nhạc này có từ trước đó. Kê Khang chỉ là người nâng cấp nó lên thành một thiên tuyệt cầm. Nên khi Kê Khang mất đi là bản Quảng Lăng tán của ông bị thất truyền chứ bản Quảng Lăng vẫn lưu truyền trong dân gian kể về chuyện Nhiếp Chính ám sát Hàn Vương thì vẫn còn.

Thêm một nguyên nhân nữa, là các bản Cổ cầm được lưu hành trong thời điểm hiên nay, tuy những nét chung về mặt tư tưởng vẫn được giữ nguyên nhưng mỗi người đánh mỗi khác. Hiện nay ở Trung Quốc có khoảng 9 học phái Cổ cầm, mỗi phái có những nét chơi khác nhau dựa trên bài bản trong các cuốn Cầm phổ và phong cách được lưu truyền nội bộ trong từng phái. Vậy nên theo sự suy đóan của chúng tôi thì rất có thể bản thân bài Quảng Lăng tán mà Kê khang cho là thất truyền chỉ là bản được coi là hay nhất lúc bấy giờ của riêng Kê Khang mà thôi.

Cấu tạo một cây đàn Cổ cầm


Long Ngâm - Tên một cây Cổ cầm.
Một cây đàn Cổ cầm được làm bằng gỗ ngô đồng. Ngô đồng ở Trung Quốc có nhiều loại, ngô đồng đỏ, đồng bạch …v.v. Nhiều khi, trong quá trình làm đàn người ta cũng dùng một số loại gỗ khác.

Một cây đàn cổ cầm về cơ bản gồm hai phiến gỗ ghép úp vào nhau phiến mặt ở trên và phiến đáy ở dưới. Phiến gỗ mặt đàn thường có dạng khum hình lòng máng, ở bên trong lòng máng phía dưới phiến gỗ người ta chạm nổi 2 hình e-líp có gờ nổi lên gọi là Phượng Trì (Ao Phượng); Long Tỉnh (Giếng rồng). Phiến đáy của đàn là phiến gỗ phẳng có đục thủng hai lỗ thoát âm tương ứng đúng với vị trí Phượng Trì và Long Tỉnh. Trên mặt đàn người ta đánh dấu 13 vị trí được gọi là Huy.

Với những cây đàn quý người ta còn khảm vàng hoặc ngọc để đánh dấu các huy. Khi dùng một ngón tay chặn nhẹ lên dây đàn ở vị trí các huy rồi dùng tay kia gảy vào dây đàn thì đàn sẽ cho bồi âm có tiếng vang to và đẹp (tương tự như cách tạo bồi âm của Đàn Bầu ở nước ta). Tuy vậy thỉnh thỏang bồi âm mới được sử dụng trong các bản đàn Cổ Cầm. Còn người chơi đàn thường căn cứ vào các huy để định vị kho việc chăn dây sát xuống mặt đàn để tạo ra các âm mong muốn của bản nhạc.

Đàn Cổ cầm có 7 dây, gắn với 7 trục làm bằng gỗ và có khi bằng ngọc để lên dây đàn. Cổ Cầm có nhiều hình dáng khác nhau, gọi là các thức: Ví dụ như đàn làm theo Trọng Ni thức thì tức là Cây đàn được làm theo kiểu của Khổng Tử - có hình dáng ngay ngắn theo lề lối cổ, có eo Kim Đồng, Ngọc Nữ với đường nét giản dị mà thanh nhã. Bên cạnh đó còn có nhiều kiểu khác nữa như: Sư Khoáng thức (mẫu đàn của Sư Khoáng – một đệ nhất nhạc sư ở Trung Quốc); Thần Y thức (mẫu đàn mang kiểu dáng y phục của thần tiên); Liên châu thức (kiểu đàn như hình chuỗi ngọc) …

Đàn làm xong được phủ vài lớp sơn mài, người ta thường lấy sừng hươu đốt cháy rồi tán ra thành bột trộn với sơn sau đó mới sơn lên đàn. Làm cho cây đàn để càng lâu càng bóng, càng đẹp, và lâu ngày hình thành một lớp vân rạn như da rắn, gọi là Xà Vân.

Mỗi cây đàn cổ cầm sau khi hoàn thành xong thì đươc đặt tên riêng. Mặt dưới của đàn được khắc tên dựa và thanh âm phát ra của tiếng đàn khi đánh thử. Ngòai tên đàn người ta còn khắc câu đối, hoặc những bài thơ mang ý nghĩa liên quan tới gia chủ hoặc tên đàn, và được đóng dấu.

Được biết văn hóa cổ cầm có mặt ở hầu hết các nước thuộc khu vực văn hóa Đồng Văn, ở Việt Nam cũng có nhưng đã bị thất truyền. Biên chế của dàn nhạc cung đình đầu đời Nguyễn ghi nhận có cây đàn Cầm ở trong đó. Ở Nhật Bản hay Hàn Quốc văn hóa cổ cầm vẫn còn tồn tại. Ở Nhật Bản người ta đã từng trưng bày những cây đàn cổ cầm do người Nhật làm, với tính mĩ thuật rất cao.


Thần kỳ bí phổ (sách thời Minh)
Khi UNESCO công nhận và tôn vinh cây đàn Cổ cầm thì cả nước Trung Quốc còn khoảng 50 người có thể chơi cây đàn này với trình độ bậc thầy. Thế hệ sau của những nhạc sư như cụ Quản Bình Hồ đã kế thừa một cách vẻ vang như nhạc sư Thành Công Lượng, Lý Tường Đình, Cung Nhất ..v.v. Người Trung Quốc coi cây đàn Cổ Cầm như một báu vật văn hóa. Những cây đàn được làm công phu và được bán với giá rất cao. Người chơi đàn vẫn giữ được những lễ tiết của văn hóa cổ xưa như việc đốt mỗi lư trầm đặt trước giá đàn mỗi khi tấu một bản nhạc.

Chúng tôi đã từng mua một số đĩa CD của những nhạc sư nổi tiếng như vậy, và thực sự ngạc nhiên khi quanh đi quẩn lại một vài bản đàn mà người ta có thể diễn tấu hay đến vậy, nào là Đường Cầm, Tống Cầm, Minh Cầm … Hóa ra đó không phải là những bản nhạc có từ đời Tống, đời Đường mà chính là những cây đàn mà người Trung Quốc giữ được từ đời Đường đời, Tống để mang ra chơi và giới thiệu với bạn bè nước ngoài.

Có thể đó là những cây đàn nguyên vẹn, hoặc thậm chí đã bị hư hỏng nhưng nhờ tình yêu và sự tài hoa của các nhạc sư mà người ta đã phục chế loại được để cây đàn cổ từ ngót một ngàn năm trước lại tấu lên những khúc nhạc ở chốn tiên giới trong một thế giới hiện đại dưới cõi trần.

Diệp Vân

tantranh
11-27-2007, 01:50 AM
Có phải Thúy Kiều
Đàn tỳ bà?

Tần Tranh

Tôi hiện là một nông dân, đã lâu không được cầm cây viết , nhưng trước đây cũng là môt nghệ nhân chơi nhạc truyền thống, sở trường về đàn tỳ bà và nguyệt cầm nên thỉnh thoảng khi có gió mát trăng thanh cũng đem đàn ra gảy vài đoạn tuỳ hứng…Vừa qua liên tiếp những sổ báo “kiến thức ngày nay” luôn có những bài viết về Kiều rất thú vị làm cho tôi phải đi mượn một cuốn Kiều của người quen cũ để nghiên cứu, đọc đi, đọc lại nhiều lần.Cuốn Kiều tôi mượn do nhà xuầt bản Văn Hoá in lại thủ bút của ông Mạnh Quỳnh năm 1951 có 6 phụ bản tranh lụa rất đẹp nhưng phụ bản của ông Mai Trung Thứ vẽ Kiều đàn cho Kim Trọng bằng chiếc đàn tỳ bà làm cho tôi rất ngạc nhiên.Bởi lẽ xét về chuyên môn cũng như theo sự diễn đạt của cụ Nguyễn Du thì Thúy Kiều phải đàn nguyệt cầm mới đúng.
Căn cứ vào 4 câu thơ sau:
467- Hiên sau treo sẳn cầm trăng .
Cầm trăng là hình tượng của cây đàn nguyệt cầm,

471- So dần dây vũ ,dây văn.
Dây vũ,dây văn chính là dây đài,dây tiếu mang 2 âm xàng+liu của nguyêt cầm . Nếu là đàn tỳ bà thì phải so cả 4 dây: họ +xàng +xê+liu
442- Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương
To nhỏ ở đây là sự dìu dăt (nuance)chứ không phải để chỉ 4 sợi dây : họ,xàng,xê,liu(sơi to,sợi nhỏ)của đàn tỳ bà . mà chính là để chỉ cây đàn nguyệt cầm xưa có 4 dây gồm 2 dây ”đài” và 2 dây”tiếu” được cột song song gần nhau (giống cách cột dây đàn mandolin .Bằng chứng là tất cả đàn nguyệt cầm xưa đều có 4 trục lên dây (ngày nay chỉ cột 2 dây cho dễ đàn ).
2570- “Bốn dây nhỏ máu 5 đầu ngón tay” thì nhất định phải là bàn tay trái vì bao nhiêu nổi lòng tâm sự được trút lên tiếng đàn qua nhấn vỗ rung…của tay trái mà tạo thành. Đàn tỳ bà làm theo hình giọt nước ,cần đàn rất lớn, nếu xét về chuyên môn thì không ai có thể sử dụng cả năm ngón tay để nhấn trên đàn tỳ bà . Nhưng đàn nguyệt cầm có cần đàn vừa thanh, vừa dài nên nhạc công có thể dùng cả 5 ngón để đàn.
Trong dàn nhạc ngũ tuyệt của Việt Nam (tranh,tỳ,nhị,nguyệt,bầu)thì đã có 4 cây theo nhạc sử Trung quốc đều có ghi rõ nguồn gốc,xuất xứ , kể cả cây đàn bầu .( Đường thư : Độc huyền bào cầm…)Riêng chỉ có cây đàn Nguyệt thì chưa có một nước nào trên thế giới , kể cả Trung quốc,viết về nguồn gốc vì cây đàn nguyệt cầm chính là cây đàn thuần tuý nhất của người Việt Nam chế tạo thành . Và phải chăng đó chính là chủ ý của Nguyễn Du Tiên Điền?
.

tantranh
11-27-2007, 02:07 AM
Phải chăng có một mối liên hệ giữa những

Cầm tấu khúc của Thuý Kiều

với các danh phẩm cổ truyền Huế


Huơng giang nhất phiếm nguyệt
Thiên cổ hứa đa sầu

NGUYỄN DU



TANTRANH

Lúc Kiều sơ ngộ Kim Trọng thấy dung quang người “Chẳng sân ngọc bội cũng phường Kim Môn”.Lại đoán số phận mình “ngàn thu bạc mệnh một đời tài hoa” rồi e ngại”Trăm năm biết có duyên gì hay không”. Cho nên nhân dip này mượn tiếng đàn để báy tỏ nỗi niềm với ườc mong nhân định thắng thiên

473. Khúc đâu Hán Sở chiến trường.

Sở vương Hạng Vũ đánh trăm trận trăm thắng chỉ thua một trận Cai Hạ mà bỏ thân tại Ô Giang , phó đại cuộc về tay Hán vương Lưu Bang, chẳng qua tài ba không hơn được số mạng .Thúy Kiều tấu khúc này làm cho ta liên tưởng đến bài Xuân Phong-Long Hồ, hai trong mười bài nổi tiếng “ Liễn bộ thập chương” cuả Nhã Nhạc cung đình Huế .

Mở đầu với hai câu rao:

“Cuộc đời như ngọn gió xuân
Hổ Long quyết đấu chiến trường mà chi”

Để rồi:

Lòng dặn lòng .
Ai mặc ai .
Thương cứ thương .
Nhớ cứ nhớ .
Chuyện vui cuời .
Người ở đời .
Đừng đem dạ, đem dạ sầu tư.
Ai mà thoát khỏi ra vòng nợ duyên .

Rứa cũng nên .
Miễn cho bền .
Lòng chớ phiền.
Lửa càng đượm dám xin giữ gìn .
Khuyên ai, đừng phãi hương nguyền .

475.Khúc đâu Tư Mã phượng cầu

Ông Tư Mã Tương Như vì yêu nàng Trác Văn Quân mà viết nên khúc hát: ”Phụng hề Phụng hề qui cố hương. Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng”

(Phượng ơi! Phượng ơi về cố hương. Dạo chơi bốn bể tìm người thương) . Trong nhạc truyền thống Huế có bài Lý con sáo : “ Ai đem con sáo sang sông . Để cho con sáo sổ lồng bay xa” chỉ với hai câu lục bát mà từ gốc Huế đã lan truyền qua nhiều cách thể hiện khác nhau: Lý con sáo Huế : buồn tủi, sầu thương. Lý con sáo Nam: ai oán giận hờn. Lý con sáo Bắc : xót xa tiếc nuối… Hính ảnh con sáo sổ lồng bay xa làm cho ta liên tưởng đến Phụng cầu hoàng của Tư Mã Tương Như với nổi niềm ai oán thiết tha đã làm xiêu lòng nàng Trác Văn Quân trở về với mình.

477.Kê Khang này khúc Quảng Lăng

Ông Kê Khang sinh về cuối đời nhà Ngụy thời Tam Quốc (221-264),gặp lúc vận nước Ngụy sắp nguy vong , bao nhiêu trung thần nghĩa sĩ đều bị ám hại . Trông thấy cuộc đời hiểm trở eó le, lắm nổi đau lòng ông mới chế ra khúc “Quảng Lăng Tán “ để nói về sự vô thường của đời người .”Một rằng Lưu thủy hai rằng Hành vân”,nước chảy mây bay chẳng định nơi.

Trong nhạc cổ truyuền Huế khi đàn hơi Khách thường được khởi nhạc bằng bài Lưu thủy , còn với hơi Nam thường được bắt đầu bằng bản Hành vân. Đây là hai bài căn bản nhất của người học nhạc truyền thống và phải chăng nó đã được sáng tác ra để hình dung tiếng đàn của Thúy Kiều qua khúc Quảng Lăng .

779.Quá quan này khúc Chiêu Quân

Vương Chiêu Quân là một cung nữ tài sắc vẹn toàn đời Hán Nguyên đế bị đem cống nạp cho Thuyền Vu ( tù trưởng quân Hung nô ) để đổi lấy hoà ước . Lúc qua đến đất Hồi , Chiêu Quân gảy khúc Quá quan làm mọi người đưa tiễn đều phải khóc.

Trong lịch sử nước ta cũng có Huyền Trân công chúa đã phải kết duyên cùng Chế Mân (1306) vua nước Chiêm Thành để đổi lấy hai châu Ô, Lý (Huế ngày nay)

“Nước non ngàn dặm ra đi
Tội tình chi
Mượn màu son phấn đền nợ Ô Lý
Đắng cay vì đương độ xuân thì…”

(Theo điệu Nam Bình) vô cùng sầu thương,buồn thảm.

Sự liên tưởng ngẫu nhiên làm cho ta giật mình. Câu hỏi được đặc ra: Phải chăng có một số danh phẩm nhạc cổ truyền Huế đã được hình thành từ cảm hứng những cầm tấu khúc của Vương Thúy Kiều?

tantranh
11-28-2007, 01:50 AM
Tiếng tơ đồng


Tantranh

Đàn tỳ bà:(hậu thân của đàn Cầm) “Cầm Phục Hy sở tác, cổ vi ngũ huyền, hậu dụng tứ huyền, toàn huyền phàm thập tam huy” (Đàm cầm do vua Phục Hy chế ra, xưa là 5 dây, nay dùng 4 dây, thân đàn có 13 phiếm). Sách Hoàng Đàm Tân Luận: “ Phục Hy thị thủy tước đồng vi cầm, thằng ti vi huyền”. (Đời thượng cổ, vua Phục Hy mới chẻ gỗ ngô đồng làm thân đàn và xe tơ làm dây). Về sau người Hồ nương theo cây đàn cầm để biến cải và đổi tên thành tỳ bà. Thích Danh: “Vị kì khí xuấu ư Hồ trung mã thượng sở cổ; Thôi thủ tiền viết Tỳ; Dẫn thủ khước viết Bà” ( Sách Thích Danh gọi đàn này nguyên của quân Hồ cỡi ngựa mà đàn(*) đưa tay tới gọi là tỳ, kéo tay luôi gọi là bà.) Tỳ bà tứ huyền nhạc khí, nội hệ tế đồng điều vi đảm, thập tam phẩm, do Cầm chi huy vị. (Đàn tỳ bà 4 dây, trong thân đàn có buộc một mảnh lá đồng, cũng 13 phím như đàn Cầm). Ngày nay đàn tỳ bà có mặt tại nhiều nước châu Á, Đàn tỳ bà du nhập vào nước Việt Nam vào khoảng thế kỹ 11. Về cấu trúc hình dáng, cây đàn tỳ bà V.N nhỏ hơn đàn tỳ bà Trung Quốc. Trên đầu đàn có chạm hình con dơi và chỉ gắn 9 phím(thay vì 13 phím). Về tính năng, đàn tỳ bà Việt Nam chú trọng những âm biến cung và những kỹ thuật rung, nhấn, luyến láy, còn của Trung Quốc thì chủ yếu dùng kỹ thuật reo dây, chạy nốt. Vì thế ngưới Trung Quốc cầm đàn thẳng đứng còn người Việt Nam thì cầm đàn nằm ngang.
Người ta thường chúc nhau “xe duyên cầm sắt” (sắt cầm hảo hợp, bách niên giai lão) “thì Cầm chính là đàn tỳ bà cột bằng dây “tơ” còn Sắt chính là đàn tranh cột bằng dây “đồng”.
Đàn tranh: (hậu thân của đàn Sắt): Cổ vi ngũ thập huyền, huyền các hữu trụ, khả thượng hạ di động. (Đời xưa đàn này có 50 dây, mỗi dây mỗi trục, giỡ lên, giỡ xuống được, vặn căng, vặn chùng được). Tần nhân cổ sắt, huynh đệ tương tranh, phá chi vi nhị lưỡng. Tranh chi danh tự thử thủy. Tranh Tần thanh giả, Mông Điềm sở tạo thập lục huyền cầm. (Xưa người Tần đàn Sắt, có hai anh em giành nhau chẻ ra làm hai. Từ đấy mới gọi là Tranh. Giọng đàn tranh là của người Tần do ông Mông Điềm chế thành 16 dây). Mông Điềm là vị đại tướng triều Tần Thủy Hoàng (246-209) người đã cùng thái tử Phò Tô xây nên Vạn Lý Trường Thành. Từ An Trinh: “Hốt văn họa các Tần tranh dật. Tri thị lân gia triệu nữ đàn”. (Bỗng nghe dậy tiếng tranh Tần. Biết là cô gái đông lân dạo đàn).
Vậy thì Tiếng Tơ Đồng còn mang một ý nghĩa “xe duyên Cầm Sắt” vì sự hòa điệu gắn bó, tri âm tri kỹ của những người yêu nhau.

Tần Tranh

(*) Như trong bài Lương Châu Từ của Vương Hàn: Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi / Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi / Túy ngoạ sa trường quân mạc tiếu / Cổ lai chinh chiến kỷ luân hồi.

tantranh
11-28-2007, 02:11 AM
TANTRANH

Xin mời các bạn nghe một trích đoạn TƠ ĐỒNG-NHÃ NHẠC do gia đình Tantranh diễn tấu qua lời giới thiệu của GS Trần văn Khê trên HTV.

http://video.google.com/videoplay?docid=393970616413843639