View Full Version : Ca từ Trịnh Công Sơn
khongtu
04-10-2007, 07:25 AM
TTO - Ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn quả thật vô cùng đa đạng. Trong các ca khúc, ta có thể tìm thấy nào là bò, gà, ngựa, vạc, côn trùng, chim chóc, cây cỏ, bào thai, lăng, miếu. Không ít người thắc mắc, không biết “cây cơm nguội” như thế nào, hay loài “sâm cầm” hình dáng ra sao?
Nhưng lúc hát Nhớ mùa thu Hà Nội, chẳng ai cảm thấy trở ngại chút nào vì không hiểu ý nghĩa của những ca từ ấy. (Sâm cầm là một loài chim quý hiếm chuyên ăn sâm. Thời nhà Nguyễn, làng Nghi Tàm phải đóng thuế hàng năm cho triều đình bằng loại chim này. Lúc Bà Huyện Thanh Quan được triệu vào dạy học trong cung đình đã xin nhà vua cho giảm loại thuế đó vì ngày càng khó tìm cho đủ số).
Trái lại, có những ca từ rất đặc biệt, mà nếu không hiểu rất dễ hát nhầm làm sai nghĩa một cách trầm trọng. Chẳng hạn “làm sao em nhớ những vết chim di (Diễm xưa) chứ không phải là chim đi. Hay rọi suốt trăm năm chứ không phải là rọi xuống trăm năm (Một cõi đi về). Hoặc con tinh yêu thương mà hát sai thành con tim yêu thương, trường hợp đó thì dù có dễ dãi đến mấy, chắc chắn tác giả cũng không thể nào chấp nhận được. Từ ngữ sử dụng là những chữ bình thường, không cầu kỳ, lạ lẫm, nhưng lại được dùng một cách rất … Trịnh Công Sơn: Em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh (Tôi ơi đừng tuyệt vọng).
Xin đứng yên trong chiều, phơi tình cho nắng khô mau, xin đứng yên trong chiều, treo tình trên chiếc đinh không (Tình xót xa vừa) Lá hát như mưa, suốt con đường đi (Em còn nhớ hay em đã quên). Tình yêu như trái phá, con tim mù lòa (Tình sầu). Nguyễn Du trong Đoạn trường Tân thanh có câu: Nào người phượng chạ loan chung Nào người tích lục tham hồng là ai Chữ lục và hồng để chỉ những người phụ nữ. Trong “Rơi lệ ru người”, một cách tình cờ anh Sơn cũng dùng những chữ sen xanh, sen hồng để chỉ những thiếu nữ xinh đẹp: Bao nhiêu sen xanh, sen hồng, với dòng sông, hay anh em và những phố phường. Hay: Ngày xưa khi còn bé, tôi mơ có cuộc tình, như mơ ước được gần với những nụ hồng (Ngày nay không còn bé). Trong nhạc Trịnh Công Sơn, ca từ chiếm một địa vị rất quan trọng. Hát không rõ lời, người nghe không thể nào hiểu thấu ý nghĩa của ca khúc. Khánh Ly thành công với ca khúc Trịnh Công Sơn không chỉ nhờ giọng ca đặc biệt mà còn nhờ cách nhả chữ rõ ràng làm cho người nghe dễ hiểu những ca từ.
Ngoài hình ảnh phong phú, ca từ Trịnh Công Sơn còn mang nhiều tính ẩn dụ đôi khi làm người nghe khó hiểu, mà chính tác giả cũng không thể nào giải thích một cách đơn giản những suy nghĩ của mình đã chuyển tải sang ngôn ngữ âm nhạc (Tương tự như một họa sĩ vẽ tranh trừu tượng đôi khi cũng khó thể giải thích những ý tưởng rất… trừu tượng của mình thể hiện trên tác phẩm hội họa). Chẳng hạn: Hòn đá lăn trên đồi, hòn đá rớt xuống cành mai, rụng cánh hoa mai gầy, chim chóc hót tiếng sau cùng. Quả đúng là: Tự mình biết riêng mình, và ta biết riêng ta (Ngẫu nhiên). Tuy nhiên lại có trường hợp, chỉ cần một câu trong ca khúc nào đó đủ tác động sâu sắc khiến người nghe suốt đời không thể quên. Một nhà văn, bạn của anh Sơn, đã từng nói: “Sau khi nghe câu Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ, chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà (Một cõi đi về), thì tôi cảm thấy không còn sợ cái chết xưa nay vẫn thường ám ảnh mình”.
Một người khác đã nói về ca từ Trịnh Công Sơn như sau: “Tôi rất yêu nhạc Trịnh và thuộc khá nhiều ca khúc. Nhưng hễ nói đến nhạc Trịnh Công Sơn, tôi luôn nhớ đến câu Người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm (Ru ta ngậm ngùi). Chỉ một câu đó thôi cũng đủ cho tôi tư duy về cả cuộc đời”. Có lần, trong một nhà hàng karaoke, anh Sơn hỏi một cô gái vẻ khá quê mùa chất phác: “Em nói rất thích ca khúc Một cõi đi về, vậy em có hiểu thế nào là một cõi đi về không?”.
Cô gái ngây thơ trả lời:“Em chẳng hiểu gì cả, nhưng không biết sao mỗi lần hát bài này em lại có một cảm xúc không thể nào diễn tả được”. Một người bạn trẻ ở Montreal (Canada) sau khi uống rượu ngà ngà, nghe ca khúc Đêm thấy ta là thác đổ đã yêu cầu bạn mình lái xe đi hơn 600 cây số chỉ để nhìn thác nước Niagara cuồn cuộn mà tiếp tục uống rượu. Riêng anh Sơn, trong những năm sau cùng trước khi mất, bất cứ lúc nào được yêu cầu, anh cũng chỉ hát lui tới hai ca khúc Mưa hồng và Một cõi đi ve. Có thể nói gần như tất cả triết lý về cuộc đời cũng như nhân sinh của anh Sơn đã được tóm tắt trong vài câu: Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ (Mưa hồng). Và: Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt Rọi suốt trong ta một cõi đi về (Một cõi đi về) Nhạc Trịnh Công Sơn đã đi vào lòng người như thế. Nó đến nhẹ nhàng và đôi khi đọng lại mãi trong tâm tư người nghe.
HOÀNG TÁ THÍCH
manutd
04-10-2007, 06:44 PM
Ca từ của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn thấm đẫm chất "Đạo" và chất "Thiền", điều chưa ai làm được, theo manutd, từ trước tới nay. Vì thế, nhạc của ông đối với những người có lương tri, là bất tử.
ellaa
04-13-2007, 12:16 AM
Ellaa cũng rất thích các bài hát của Trịnh Công Sơn, có nhiều bài nghe mãi không chán. Ngày xưa ellaa rất thích câu này "Ngày nào mình còn có nhau xin cho dài lâu; ngày nào mình thôi có nhau xin người biết đau" (Chiều một mình qua phố). Ôi chữ tình..., tình-người.
thanhcan
04-13-2007, 07:32 AM
Tui thì xin chịu, ê a nhạc Trịnh từ nhỏ đến giờ vẫn chẳng hiểu gì hết... Nghe đâu hồi trẻ ông này học triết, thế mới chết chứ, báo hại thiên hạ cứ nghe, càng nghe càng hay, mổi người thấy hay theo một kiểu... nhưng chẳng ai hiểu hết ý ông nói gì đâu...!
khongtu
04-13-2007, 07:45 AM
Thay cho những lời bình khongtu xin trích những bài viết hay về Trịnh Công Sơn, mời anh em đọc và viết vài cảm xúc về con người tài hoa này. Một hiện tượng đặc biệt trong âm nhạc Việt Nam và thế giới.
"Bông hồng vàng" của Trịnh Công Sơn
- Lại sắp 06 năm kỷ niệm ngày mất của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, xin một lần nữa nhớ về cái khoảng trống đã bị bỏ lại. Cái khoảng trống vốn đã được xây nên bằng âm nhạc, thơ ca, hội họa một cách thật trong trẻo, bao dung....
"Tôi vốn thích triết học và vì thế, tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc cuả mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được như ca dao hoặc những lời ru của mẹ". (TRỊNH CÔNG SƠN).
"Thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được" đó chính là triết lý sống thiền, một triết lý đã ra đời và gắn liền với những mối liên hệ đầy "căn duyên" giữa Trịnh Công Sơn và Phật giáo. Đó là một triết lý về cách sống, về mối quan hệ giữa con người với bản thân và tạo vật, một thứ triết học gần như vô hình, ẩn hiện lung linh, bàng bạc như những hạt bụi vàng lấp lánh trong ca từ của Trịnh Công Sơn...
Hãy sống thật bao dung...
Với Trịnh Công Sơn, "đức tính của con người khiến tôi cúi đầu kính phục có lẽ là lòng vị tha", vì "giận hờn, trách móc mà làm gì bởi vì cuộc đời sẽ xoá hết những vết bầm trong tâm hồn chúng ta nếu lòng ta biết độ lượng. Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn". Và có lẽ, do trong ông luôn có điều răn của Phật: "Lễ vật lớn nhất của đời người là sự bao dung" nên ông đã chọn cho mình thái độ thứ tha cho tất cả những gì đã mang lại cho ông những nỗi bất hạnh, đớn đau, thậm chí cả niềm tuyệt vọng trong cuộc sống: "Có những ngày tuyệt vọng cùng cực, tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau"...và "Mỗi đêm, tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung. Nhìn đường đi của kiến để học về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng để sống và hãy thả trôi những tỵ hiềm"...
... với tấm lòng thanh thản
Nhưng hình như để có thể sống bao dung, con người cần phải giữ cho lòng mình luôn thanh thản. Đó là trạng thái khi con người biết vứt bỏ khỏi lòng mình mọi nỗi ưu tư, phiền muộn, ham muốn, tỵ hiềm. Đó là sự thanh thản của con người trước những đua tranh, được mất; là sự thanh thản khi con người nhận ra sự phù du, mỏng manh của cuộc đời; khi con người biết mỉm cười trước "cõi tạm" và biết nói "Thôi về đi, đường trần đâu có gì...". Vì xét cho cùng, ở cuối mỗi cuộc đua tranh vẫn sẽ là cảm giác: "Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua...".
"Tôi vốn thích triết học và vì thế, tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc cuả mình..."
Đó cũng chính là sự thanh thản khi con người nhận ra bản chất "sắc không không sắc" của cuộc đời, và cũng chính ở trạng thái "ngộ" ra chân lý đó, con người sẽ có đủ sức mạnh để với một chữ "vô" sẽ vượt qua tất cả, như thông điệp ẩn tàng trong một bài kệ dành cho những kiếm khách thượng thừa trên đất Phù Tang: "Tâm vô ưu, thần bất động, khí uy dũng, kiếm vô chiêu". Nói khác đi, trong "triết học" của Trịnh Công Sơn, sự bao dung và lòng thanh thản chính là hai điều "bất biến" giúp con người đối mặt và vượt qua "vạn biến" ở đời...
Hãy sống hết mình trong hiện tại, tin ở tương lai...
Trịnh Công Sơn kêu gọi mọi người "phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của thực tại. Từ mỗi cái ăn, cái uống, cái đi đứng nằm ngồi. Không làm công việc này, mà nghĩ đến công việc khác. Với tôi, đó cũng là thiền, là một cách sống đích thực. Tôi vẫn tiếp tục thực tập cách sống như thế hàng ngày". Vì sao vậy? Vì khi đó, con người mới có thể làm được cho mình và cho đời nhiều điều nhất, và cũng chỉ bằng cách đó, con người mới có thể "làm tròn đầy sự có mặt của mình" trên thế giới này – như cách nói của Trịnh Công Sơn.
Không những phải sống hết mình trong hiện tại, con người còn cần phải nuôi dưỡng trong mình một niềm lạc quan vô tận, một niềm tin vô hạn ở tương lai và ngay cả trong những thời điểm tuyệt vọng nhất, con người vẫn phải biết "tin vào chính mình, tin vào cuộc đời vốn không thể khác..." Cùng với âm nhạc của mình. Trịnh Công Sơn luôn hiện diện trong cuộc sống với lời nhắn nhủ: "Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng" và "Hãy cứ vui như mọi ngày/ Bên trời còn nắng/ Lá trời còn xanh/ Phố còn người đông...", thậm chí khi đối diện với cái chết: "Dù thật lệ rơi, lòng không buồn mấy, giật mình tỉnh ra, ồ nắng lên rồi"...
... hòa hợp cùng đất trời
Chân dung Trịnh Công Sơn qua nét cọ của danh họa Bùi Xuân Phái
"Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên", Trịnh Công Sơn đã từng nói về mình như vậy. Thông qua những ca khúc của mình, ông đã bày tỏ với mọi người về một cách sống hài hòa cùng với thiên nhiên, sống hòa hợp với đất trời. Đó là trạng thái khi con người và thiên nhiên là một. Đó cũng chính là trạng thái khởi thuỷ của con người và thế giới khi "Thiên - Địa - Nhân" hợp nhất, một trạng thái giúp con người tồn tại và trở về "bản lai diện mục" của mình...
Trong âm nhạc, Trịnh Công Sơn yêu từng ngọn cỏ, nghe được "lời tự tình" của gió", "tiếng trở mình" của đất và cả "tiếng khóc cười của những bào thai"... Cũng vì vậy, đôi khi ông thấy mình là lá cỏ, thành cơn gió, thành con thác đổ trong đêm...Và phải chăng, từ thuở bé, do thấm nhuần lời dạy của pho kinh cổ Upanishd: "Khi một lá cỏ bị cắt đứt, cả vũ trụ rung rinh", nên đến khi trưởng thành, ông đã nói: "Ngay cả giải quyết số phận một ngọn cỏ cũng phải suy nghĩ, ngắt đi một bông hoa bên vệ đường cũng phải suy tư huống chi là số phận con người quá lớn và chúng ta không có quyền quyết định số phận con người". Con người với cỏ hoa là một, không ai lớn hơn ai, không ai có thể thay thế cho ai và chỉ nên cùng nhau tồn tại trong thống nhất. Hình như Trịnh Công Sơn đã muốn nói với chúng ta về một cách sống hòa hợp với đất trời để trở thành một người tình của thiên nhiên như vậy.
Hãy là một người tình cao thượng...
"Ta không thể níu kéo một cái gì đã mất. Tình yêu khi muốn ra đi thì không có tiếng kèn nào đủ nhiệm màu để lôi về lại được. Tình yêu là tình yêu. Trong nó đã sẵn có mầm mống và sự hủy diệt"...Những bài hát của Trịnh Công Sơn luôn nhắn nhủ con người hãy là một người tình cao thượng. Cao thượng khi đang yêu và cao thượng khi đã chia lìa... Có lẽ, Trịnh Công Sơn là người tình "kiêu bạc" nhất và phải chăng vì thế mà ông đã trở thành người tình "đáng yêu" nhất trong âm nhạc Việt Nam? Không bi lụy, trách hờn, không van xin, kêu khóc... khi tình phụ, Trịnh Công Sơn vẫn "ru em dù đã chia xa", vẫn nở nụ cười buồn "áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau..."
Nụ cười hiền lành thường trực trên gương mặt ông...
Trịnh Công Sơn cũng có lẽ là người tình duy nhất dám "xin vỗ tay cho đều, khi tình trôi đã trôi xa...", dám "treo tình trên chiếc đinh không" để "phơi tình cho chóng khô mau", dám nhắn gửi người tình: "này em xin cứ phụ tôi. Đời sống quanh đây có vạn lời mời". Và mặc dù đã chia xa, vẫn mong em "môi son đừng biếng lười, cho ta còn mãi mãi chút mùi phấn hương bay..." Một người tình "tuyệt vời" như vậy, liệu mấy ai đủ can đảm nói tiếng giã từ?...
... Và yêu quê hương này bằng cả trái tim
“Buổi chiều Orléans, bỗng nhiên tôi thương nhớ quê nhà quá. Có những cái đầu không bình tĩnh lắm sẽ trách móc tôi vì sao ở một nơi sung sướng như vầy mà vẫn nhớ quê. Than ôi, quê nhà chính là tôi rồi, tôi biết làm sao được..."
Tôi thường tự hỏi, ngoài Trịnh Công Sơn ra, liệu còn ai có thể nói về tình cảm với quê nhà thấm thía vậy không? Từ trong nguồn cội, Trịnh Công Sơn đã yêu quê hương này bằng cả trái tim. Vì tình yêu đó, trong những năm tháng chiến tranh, ông đã rơi những "giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong" và luôn mong đợi một ngày "chờ khô nước mắt, chờ đá reo ca, chờ áo cơm nuôi cho những trẻ con không nhà, chờ ngày Việt Nam thống nhất cho những tình thương vô bờ...". Cũng vì yêu đất nước này nên khi hòa bình lập lại, ông đã chọn cho mình một con đường "đến với anh em, đường đến với bạn bè" bởi "tôi chợt hiểu rằng vì sao tôi sống, vì đất nước này cần một trái tim..." Cũng vì yêu đất nước này, ông đã chọn trọn đời ở lại với quê hương, "như đứa con ngoan không tuyệt tình nổi với rẫy sắn, nương khoai, nơi có bà mẹ suốt đời mắt không sáng nổi một ngày trẩy hội... "Cũng vì tình yêu đó nên mặc dù đã sáu năm kể từ ngày vĩnh biệt chúng ta, Trịnh Công Sơn vẫn như đang có mặt trong ngày giỗ của mình, với ánh mắt nheo cười qua đôi kính cận, nụ cười hiền hòa và giọng Huế nhu mì: "này em trong mỗi con tim, nhớ mang quê hương của mình..."
Như đoạn kết trong câu chuyện cảm động về người thợ kim hoàn đã âm thầm chắt chiu, gom góp những hạt bụi vàng làm thành món quà tặng người yêu dấu, những "hạt bụi vàng" mang thông điệp "sống thiền" trong lời ca và bài viết của Trịnh Công Sơn qua thời gian đã kết tinh thành một bông hồng vàng lộng lẫy như món quà cuối cùng ông dâng tặng cho đời... Tôi xin gọi đó là Bông hồng vàng của tình yêu và sự tỉnh thức, "Bông Hồng Vàng của Trịnh Công Sơn..."
Thu Thủy
khongtu
04-13-2007, 07:49 AM
http://files.myopera.com/hoanbinh/blog/anh%20em%20Trinh.jpg
Trịnh Công Sơn và em gái Trịnh vĩnh Trinh
(VietNamNet) - Hôm nay, 28/2, kỷ niệm ngày sinh của nhạc sĩ đa tài và tài hoa Trịnh Công Sơn, VietNamNet đã nhận được rất nhiều bài viết bày tỏ tình cảm trân trọng, niềm say mê về số phận đặc biệt cũng như sức sống mãnh liệt của những nhạc phẩm tuyệt diệu mang tên Trịnh Công Sơn. Hoạ sĩ Trịnh Cung, người bạn tri giao của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã dành riêng bài viết mang tựa đề: Một chút Trịnh Công Sơn và tôi dành tặng độc giả VietNamNet.
Điều đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh ở đây là tôi không phải là bạn thân nhất của Trịnh Công Sơn như nhiều người đã nghĩ hoặc cho là tôi đã tự nhận như thế sau khi Sơn không còn trên cõi đời này. Nhưng chắc chắn một điều: Tôi đã coi anh ấy là bạn thân nhất của tôi so về thời gian cũng như những chia sẻ trong đời sống tinh thần và trong đời thường. Sơn có rất nhiều bạn thân và chỉ có Sơn mới biết ai là bạn thân nhất của mình.
Cho đến ngày Trịnh Công Sơn không còn phải "tôi nằm mơ thấy tôi qua đời" mà đã qua đời thật sự (2001), tôi đã có hơn 40 năm làm bạn với Sơn kể từ chuyến đi định mệnh đến Huế năm 1957. Tôi đã bị một trận đòn dữ dội từ ba tôi vài giờ trước khi tôi được ông dẫn tôi lên tàu hỏa, tiễn tôi đi từ ga Nha Trang. Trận đòn ấy thật đúng và tôi rất yêu ba tôi vì tôi hiểu niềm mơ ước là tôi phải có một cuộc đời nghèo khó như người, chỉ có con đường học hành (khoa bảng) mới đổi đời. "Những chồng sách nặng khô như đá, Ruộng gió đồng trăng anh ấy đi" - hai câu thơ của Xuân Diệu đúng với tâm trạng tôi và tôi đã lên đường. Với Huế, tôi đã trở thành họa sĩ và kết bạn với một thiên tài âm nhạc. Cả hai điều này không có trong suy nghĩ của tôi trước ngày bỏ trường trung học Võ Tánh (Nha Trang).
Huế là thánh địa của thi ca Việt Nam, tôi đi Huế chỉ vì thế. "Sao anh không về chơi thôn Vỹ/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền" (Hàn Mặc Tử) hoặc "Em lùa gió biếc vào trong tóc/ Thổi đến phòng anh cả núi non" (Huy Cận) và "Đàn buồn đàn chậm ôi đàn chậm/ Mỗi giọt rơi là một giọt ngâu" (Xuân Diệu). Tôi bị thi ca của họ mê hoặc, không có gì ngăn cản một gã học trò lãng mạn như tôi xách túi giang hồ. May thay tôi đã thành đạt và có một người bạn tri âm: Trịnh Công Sơn, một hiện tượng huyền ảo nhất trong lịch sử âm nhạc Việt Nam hiện nay và không dưới vai thập niên nữa.
Đánh dấu lớn nhất và dài lâu nhất cho tình bạn giữa tôi và Sơn chính là bài thơ Cuối cùng cho một tình yêu tôi viết vào năm 1958 ở Huế và Sơn đã phổ nhạc vào khoảng giữa năm 1959, trước ca khúc Diễm xưa và chỉ sau các ca khúc Ướt mi, Thương một người và Nhìn những mùa thu đi. Nhiều người đã hỏi tôi viết ca khúc này cho ai? Anh bạn, nhà nghiên cứu Huế học Nguyễn Đắc Xuân đã xác định bài thơ ấy viết cho Nh. Hg, một nữ sinh trường Đồng Khánh (Huế) nhưng thật ra không phải như vậy.
Tôi có nhắc đến cô ấy vì vẻ đẹp rất Huế của Nh. Hg. Nhưng bài thơ ấy là một hư cấu để nói về những năm tháng đầu tiên của một sinh viên tỉnh lẻ từ say đắm đến thất vọng trên con đường tình của Huế. Ca khúc này, Sơn đã làm cho bài thơ tầm thường ấy trở nên bất tử trong nhiều thế hệ người Việt. Điều này tôi không chờ đợi khi chơi với Sơn. Có nhiều năm, gia đình Trịnh Công Sơn in sách nhạc và các nhà xuất bản băng đĩa đã không in tên tôi là tác giả của lời nhạc, vì thế có rất nhiều giới trẻ ngày nay và có lẽ cả mai sau không biết điều này. "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi" (Trịnh Công Sơn). Tôi đang sống với khái niệm: Để Gió Cuốn Đi.
Trong đời thường, Sơn là một người lớn lên từ chiếc nôi ấm cúng của gia đình và chiếc nôi văn hóa và thiên nhiên kỳ ảo của Huế nên Sơn sớm có một phong cách thanh lịch. Sơn rất thích ăn mặc đẹp và rất "bon gout". Tôi học được ở Sơn rất nhiều về điều này. Sơn mang kính, tôi cũng mua kính mang mặc dù cả hai chúng tôi lúc 18 - 20 chưa ai bị cận thị hoặc viễn thị. Chỉ vì đẹp mà thôi. Sơn đã để lại một ấn tượng đặc thù Trịnh Công Sơn là chiếc kính trắng lớn gọng đồi mồi. Đã thay đổi nhiều lần và nhiều danh hiệu lớn nhưng vẫn cùng một phong cách. Chúng tôi thật sự có vấn đề ở mắt khi bước vào tuổi 40, chiếc kính đã là người mang lại cho chúng tôi đời sống nhìn, ngắm. Theo tôi, Sơn là người đàn ông ở Việt Nam trong ba thập niên qua có nhiều bộ sưu tập về giày, áo quần, đồng hồ, mắt kính, bút viết, tranh và rượu thuộc loại sang trọng nhất. Có một lần vào giữa năm 90, tôi đến chơi với Sơn vào buổi chiều. Tôi ngồi đợi ở phòng uống rượu, Sơn và V.A từ trên phòng ngủ bước xuống. Tôi chợt thấy V.A đẹp quá trong màu chiều tà của ánh trời rơi trên màu tóc đen huyền của một nhan sắc từng được phong là á hậu VN, tôi buột miệng nói với Sơn: Giá mà có một chiếc khăn lụa của Nina de Ricci quàng lên tóc và cổ của V.A thì tuyệt quá. Sơn mỉm cười và đi trở lại căn phòng riêng mang xuống một chiếc khăn màu hổ phách có sọc đen choàng lên tóc và cổ của nàng. Đó không ngờ là hình ảnh cuối cùng của một cuộc tình mà Sơn thật sự muốn cưới V.A làm vợ. Chiếc khăn quàng ấy là một tấm lòng và đã để gió cuốn đi
manutd
04-13-2007, 10:16 AM
Đúng là triết học, vĩ đại thật.
thanhcan
04-13-2007, 11:16 AM
Mình mà giỏi bằng một góc của ông ấy nhỉ... Cứ nhìn á hậu V.A kè kè một bên nâng khăn sửa túi là cứ tủi cho mình sao không học giỏi một chút.
Hì hì...! CuKit cố nghiên cứu thêm Triết học về chỉ cho anh nha!?:32[1]:
CutKit
04-13-2007, 11:44 AM
úi úi A Thành bảo Ck. thêm món Triết nữa thì sức đâu cho vừa
mà gọi ca từ của TCS là Triết học thì hơi khó hiểu, cứ gọi đơn giản là triết lý của cuộc sống thì có làm sao nhỉ
Ck. vừa nhắc A Thành sáng nay thì đã thấy A rùi, "thiêng" thế, hà hà
nhìn thấy thằng cu tí hút thuốc mà chết cười :)), già đời thế :D
KhongTu
04-13-2007, 12:15 PM
Người ta nói TCS là người tình tuyệt vời, không biết tuyệt đến mức nào, chắc phải hỏi các cô gái đi qua đời tôi của TCS mới biết được. Từng người đẹp bỏ tôi đi như những dòng sông nhỏ, xin vỗ tay cho đều khi tình đã bay, như thế này thì cô nào muốn bỏ đi, hẳn Trinh Công Sơn rất am hiểu các thuật trung quốc và quy luật tự nhiên. Bởi vậy mà toàn các người đẹp dâng, anh em mình đâu được cái diễm phúc đó nhĩ. Gần người đẹp mà "thiền" kiểu này chắc cô nào mà ko sướng, sao bỏ đi được, người hao hao gày, lúc nào cũng thiên bồng làm thơ viết nhạc trên từng da thịt của người đẹp quả là cõi tiên. Ôi TCS ơi là TCS
timtudo
04-13-2007, 12:35 PM
Nhạc Trịnh có câu này:
"Người chết 2 lần thịt da nát tan", người chết 2 lần hổng hiểu là sống mấy lần ha mấy anh ?
manutd
04-18-2007, 05:31 PM
"Người chết 2 lần", theo manutd được hiểu như sau:
lần 1: sống để chịu đựng bom đạn, về với đất mẹ.
lần 2: xuống dưới đất mẹ rồi, lại bị bom đạn xới tung lên lần nữa.
ý tứ ngắn gọn mà sâu sắc.
timtudo
04-18-2007, 05:44 PM
"Người chết 2 lần", theo manutd được hiểu như sau:
lần 1: sống để chịu đựng bom đạn, về với đất mẹ.
lần 2: xuống dưới đất mẹ rồi, lại bị bom đạn xới tung lên lần nữa.
ý tứ ngắn gọn mà sâu sắc.
vậy cũng chỉ sống có 1 lần, mà chết 2 lần. :32[1]: .
thanhcan
04-18-2007, 09:09 PM
Chuyện này thì có lẽ mình biết hơn manutd.
Lúc nhỏ (năm 1972) quê mình bị chiến tranh ác liệt lắm. Câu hát "Người chết hai lần..." của TCS có ý diễn tả một đám tang đang đi trên đường thì bị trúng bom (hoặc mìn) làm cho "thịt da nát tan"... Tội lắm manutd ơi!
Trịnh Công Sơn có nhiều nhạc phẩm về đề tài phản chiến rất hay như Gia tài của mẹ: Kinh khổ: ...Mình trải qua hoàn cảnh này rồi nên rất hâm mộ các bài này!
hocam
05-18-2007, 05:56 PM
Triết học nhẹ nhàng của Trịnh Công Sơn
Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh...
Dưới đây là một bài viết về âm nhạc Trịnh Công Sơn qua cái nhìn tinh tế, thấu hiểu của John C. Schafer - một người Mỹ mà qua con đường nghiên cứu và tiếp xúc văn hóa đã trở về với văn hóa Việt.
Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống.
Đạo Phật đến với Ông qua nếp sống gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm thăng trầm giữa cuộc đời này.
Trịnh Công Sơn có viết: "Tôi vốn thích triết học và vì thế tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng mà ai ai cũng có thể hiểu được". Bài này sẽ trình bày rằng thứ "triết học nhẹ nhàng" này chính là triết học Phật giáo.
Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành tre và một con cá . . . trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi tình yêu cũng mất đi.
Tình yêu như tất cả mọi sự khác đều vô thường như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài Đóa hoa vô thường và nhiều bài ca khác. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn là những lời tuyên bố siêu hình rằng những đổ vỡ tình yêu không phải là những chông gai nho nhỏ trên con đường đời đẹp đẽ vô song. Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nói, là những “bài kinh cầu bên vực thẳm”. Các bài ca này là những lời nhắc nhở cho chúng ta về lẽ vô thường.
Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân hồi. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi / Để một mai tôi về làm cát bụi, ông hát trong Cát bụi. Hay Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ khô, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương lai là hình bóng của hiện tại”.
Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như trong bài Phôi pha: Có những ai xa đời quay về lại / Về lại nơi cuối trời. Nếu chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại. Nhìn sống và chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi nước đang ra đi hay nước đang trở về. Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: Những ngàn xưa trôi đến bây giờ / Sông ra đi hay mới bước về.
Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng nhan đề.
Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn. Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ dể giải thích tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng. Tôi nghĩ rằng đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để đi đến một sự bình an cho tâm hồn, rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của ngôn ngữ và lý luận.
Cái mập mờ danh tiếng của Trịnh Công Sơn là do sự phá bỏ biên giới giữa các điều mà chúng ta thường xem là khác biệt, một phương pháp mà Cao Huy Thuần gọi là “đối hợp”. Trịnh Công Sơn hay dùng lối văn đối nghịch, một nghệ thuật ngôn ngữ hay dùng để nhấn mạnh sự khác nhau của hai điều, nhưng ngược lại, Trịnh Công Sơn hay đem đối nghịch làm trùng hợp như trong các câu này: Tình không xa nhưng không thật gần; Không xa đời và cũng không xa một người; Một phố hồng một phố hư không.
Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.
Khi nói về triết lý trong nhạc Trịnh Công Sơn chúng ta cũng cần nói tới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh nữa. Các bạn thân của Trịnh Công Sơn xác nhận rằng, ông cũng như một số đông các nhà trí thức miền Nam vào cuối thập niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi, rất bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa hiện sinh.
Thái Kim Lan bảo rằng: ở Huế hồi đó nhiều người nói về lo âu (angst), hư vô (nothingness), nôn mửa (nausea) và nỗi hoài công phi lý của Sisyphus. Nguyễn Văn Trung hồi đó mới từ Bỉ về, theo Bửu Ý là “nòng cốt” của các cuộc tranh luận về triết lý tại Huế. Nguyễn Văn Trung viết nhiều bài về hiện sinh và đăng trong tạp chí Đại Học, do ông làm chủ nhiệm.
Các bạn của Trịnh Công Sơn bảo rằng ông rất ham đọc sách của Camus về huyền thoại Sisyphus. Các bạn này cũng bảo Trịnh Công Sơn rất thích các phim trong đó có tài tử James Dean đóng vai của một người lưu lạc cô đơn. Chúng ta thấy hình ảnh chàng cô đơn này trong nhiều bài của Trịnh Công Sơn trong đó có bài Dã tràng ca. Trong bài này Trịnh Công Sơn muốn so sánh mình với Sisyphus, qua một hình ảnh đã được Việt Nam hóa là con dã tràng suốt ngày “xe cát biển đông” trong Nghe thân lưu đày.
Trong cuốn Huyền thoại Sisyphus, Camus nói: trong cái thế giới phi lý này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vấn thân xác, hai là tự vẩn triết lý, tức là nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng mình sau này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu. Theo Camus, chúng ta phải từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường chống đối thế giới phi lý này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại vậy.
Ông Nguyễn Văn Trung đã giải thích thuyết của Camus theo một cách khác. Ông viết về tự vẫn triết học như thế này: “Hy vọng một đời khác, hoài niệm một quê nhà sau tù đầy là một cách phủ nhận tình trạng phi lý khác, mà không chấm dứt được phi lý. Camus gọi những giải pháp thoát ly đó là một tự vẫn triết lý (Suicide philosophique)”. Nguyễn Văn Trung cho rằng, theo Camus, chúng ta phải chấp nhận rằng “Tù đày chính là quê nhà”.
Rất có thể Trịnh Công Sơn đã bị ảnh hưởng của Camus qua cách giải thích của Nguyễn Văn Trung. Giáo sư Trung đã Việt Nam hóa lý thuyết về lưu đày và thiên đàng vĩnh cửu của Camus. Lời giải thích của Nguyễn Văn Trung đã làm lẫn lộn hoài vọng về một cõi thiên đàng trong kiếp sau với hoài vọng về quê nhà.
Trịnh Công Sơn quả thật đã bị lôi kéo từ hai dòng lực tù đày và quê nhà. Nhiều đêm muốn đi về con phố xa / Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà, ông đã hát trong Lời thiên thu gọi. Nhưng vì đã được uốn nắn trong một nền văn hóa mà trong đó tình yêu quê nhà đóng một vai trò rất mạnh, Trịnh Công Sơn đã không do dự chọn quê nhà. Ông đã hát Chân đi xa trái tim bên nhà, trong Có nghe đời nghiêng và Tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá / Góc phố nào cũng thấy quê nhà trong Tình yêu tìm thấy.
Do đó ta thấy Trịnh Công Sơn không chấp nhận sự nổi loạn chống lại thế giới phi lý như Camus đã cổ võ. Trịnh Công Sơn không thể nào chọn lưu đày làm nơi quê nhà. Tù đày theo Trịnh Công Sơn không phải là sự nổi loạn hiện sinh mà là sự nhìn nhận của một người con Phật trước nỗi khổ và tính cách tạm bợ của cuộc đời: Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây Trịnh Công Sơn hỏi trong Phúc âm buồn. Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này.
Hiện sinh khuyến khích cá nhân đứng lên một mình để chống lại xã hội và văn hóa. Phật giáo, ngược lại, dạy thuyết vô ngã, dạy rằng không có gì khác biệt giữa ta và tha nhân, rằng mọi sự mọi việc trên đời đều hỗ tương ảnh hưởng vào nhau. Tôi tin rằng Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài ca của ông. Ông có nói đến “phụ người” như trong bài Ru em nhưng cái buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ (Ru em). “Từ bi” có nghĩa là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên tu dưỡng.
Lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Trịnh Công Sơn cũng như nhiều thanh niên trí thức khác tại miền Nam, thích bàn luận về thuyết hiện sinh. Triết lý nói chung và thuyết hiện sinh nói riêng hồi đó là một đề tài rất phổ thông trong giới trẻ. Các bài hát đầu của Trịnh Công Sơn đã đáp ứng được nguyên vọng này của giới trí thức miền Nam. Phật giáo và hiện sinh quả thật có gần nhau ở một vài điểm. Cả hai đều tin rằng con người phải đối diện với cái chết và với ý niệm hư vô trước khi có thể thực sự sống một đời sống đích thực.
Trịnh Công Sơn lúc mới vào nghề nổi tiếng vì đã “chịu chơi” với thuyết hiện sinh nhưng theo tôi Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhạc của mình dựa trên các đề tài của Phật giáo. Nếu hồi đó ít ai để ý tới cái tính cách Phật giáo trong các bài của ông, có thể là vì Phật giáo và hiện sinh gặp nhau ở một vài điểm và người ta chỉ để ý đến khía cạnh hiện sinh mà thôi. Tuy nhiên lý do chính vì sao Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục thành công trong một thời rất dài là vì những ưu tư có tính cách rất Phật Trịnh Công Sơn đã gởi gắm trong lời ca của mình.
Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống như nghe một câu kinh. Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.
Theo John C. Schafer - Tạp chí Văn hóa Phật giáo
hocam
05-18-2007, 05:57 PM
Chớ hỏi tại sao
Một người quét đường hãy quét những con đường như đại nhạc sư Beethoven đã soạn nhạc, hãy quét những con đường như đại văn hào Shakespeare đã làm thơ...
1. Thần thoại Hy Lạp kể lại rằng thần Zeus để các hạt giống của thói hư, tật xấu, khổ đau trong cái hộp của nàng Pandore. Nàng đã tò mò mở nó ra để các hạt giống gây khổ đau này bay đi khắp thế gian. Trong hộp chỉ còn hạt giống của hy vọng. Còn hy vọng là còn chờ đợi, còn mong mỏi. Nói dân dã hơn: cuộc đời là một phòng chờ, chờ ăn, chờ mẹ, chờ người yêu, chờ máy bay cất cánh, chờ hạ cánh, chờ hết bệnh, nếu bệnh không hết thì chờ chết.
Cái hy vọng không liên quan tới “bây giờ” mà liên quan tới “ngày mai”. Vì thế có nhà thơ viết: “răng không cô gái sông Hương, ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài, thơm như hương nhụy hoa lài…”. Cái hy vọng giúp người ta sống chờ đợi, nhưng cũng làm người ta không còn thấy cái vui trong hiện tại. Có khi còn bị đứt gốc rễ ra khỏi cái “bây giờ”.
2. Người sắp đi định cư ở nước ngoài nghĩ gì? Khi cái điều mong mỏi ấy đến thì bạn nghĩ gì? Chắc hẳn lại phải thay thế nó bằng một điều mong mỏi khác. Giả dụ như khi có visa rồi bạn mới biết mình bị ung thư thì niềm mong mỏi định cư hẳn sẽ không còn bức thiết nữa. Chuyện đến Paris, London hay New York lúc ấy có khi trở thành vô nghĩa. Sẽ vô lý biết bao khi mình để tâm trí hướng về cái “ngày mai”, rồi khi nó đến ta lại không quay về nương tựa vào nó được.
3. T. sẽ quay về Cali. Cali ở phía tây nước Mỹ. Tôi đọc dòng e-mail đó mà tự trách mình, quen nhau đã lâu mà tôi dường như chẳng biết gì về T. Hai năm trời sống trên đất Mỹ, vừa học vừa đi làm ở phía đông nước Mỹ, T. chẳng còn béo tốt như tôi từng biết. T. kể một cách hối tiếc rằng khi ở Việt Nam đã không cố gắng đúng mức. Chẳng phải chỉ có T. mà cả tôi cũng đã không cố gắng cho đúng mức. Cái hy vọng đổi đời nhờ đi nước ngoài đã làm cho nhiều người, trong đó có tôi, sống “cho qua ngày” để mong chờ.
4. D.L.Q bỏ học từ năm 15 tuổi, theo đuổi giấc mộng “diện kiến Lưu Đức Hoa” suốt 13 năm ròng (Tuổi Trẻ, 31-3). Gia đình đã tiêu tốn 10 vạn tệ (khoảng 200 triệu đồng Việt Nam), người cha phải bán thận và cuối cùng tự tử để D.L.Q. gặp được thần tượng. Thật đau lòng khi đọc bài báo ấy. Bạn có thể tỏ ra phẫn nộ, nhưng nếu bạn có một người con như thế, bạn sẽ làm gì? Niềm hy vọng đi xa vạn dặm rồi không thể ở nhà chăm sóc mẹ cha phải chăng cũng chỉ là một phiên bản của câu chuyện buồn nọ.
5. Mục sư Luther King (Thanh Niên 31-3) nói những lời “có cánh”: “Nếu một người đã được gọi quét đường để làm một người phu quét đường, hãy quét những con đường như đại nhạc sư Beethoven đã soạn nhạc, hãy quét những con đường như đại văn hào Shakespeare đã làm thơ”. Điều khó là làm sao biết mình “đã được gọi” để mà khỏi đứng núi này trông núi nọ? Luther King không trả lời vấn nạn ấy, ông nói tiếp: “Người phu quét đường phải quét những con đường một cách tốt đẹp nhất để tất cả khán thính giả trên thiên đàng và nơi trần gian sẽ ngẫm nghĩ và nói: đây là đời sống của một người phu quét đường vĩ đại …”. Vậy là cũng có cái để mong chờ.
Tôi thích lời phát biểu của Trịnh Công Sơn (TCS) hơn: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” chỉ “để gió cuốn đi”. Ngày 1-4 là ngày giỗ TCS, có người nhắc lại lời một bài hát: “...người phu quét đường dừng chổi lắng nghe”. Người phu quét đường của TCS “quét là quét” mà thôi, còn người phu quét đường của Luther King đang quét với cái “mong chờ”. Tôi cũng chẳng biết có thể lấy TCS để chú thích cho Luther King hay lấy Luther King chú thích cho TCS.
6. Cơ thể con người có trên năm mươi ngàn tỉ tế bào, hoạt động một cách tinh vi với các cơ chế sao chép thông tin ADN, ARN hoạt động liên tục. Chỉ một hỏng hóc vô cùng bé trong cơ chế ấy cũng đã sinh ra bệnh ung thư. Việc sở hữu một cơ thể lành lặn, khỏe mạnh có xác suất hiếm như xác suất để một con rùa mù đụng phải khúc gỗ.
Chuyện xưa kể rằng có một con rùa mù ở giữa đại dương, một trăm năm mới trồi lên mặt nước một lần. Trên đại dương lại có một khúc gỗ, bị sóng gió đánh trôi dạt khắp nơi. Con rùa muốn đụng phải khúc gỗ thì chẳng biết phải chờ đợi bao lâu. Cái thân người quý hiếm, tinh vi, không thể tái tạo lại như vậy lại được dùng làm việc để kiếm chác những thứ máy móc thô thiển hơn, những “mong chờ” không có giá trị hơn. Tại sao lại như thế nhỉ? Có khi nói như Heidegger (“khúc xạ” bởi Nhật Chiêu, VHPG 30): “chơi là chơi, chơi không có tại sao” lại thấy đỡ vô lý hơn...
Nguồn: TRÚC ĐÔNG - Tạp chí Văn hóa Phật giáo
hocam
05-18-2007, 06:01 PM
Những dòng sông nhỏ
Người con gái đầu tiên bước vào đời Trịnh Công Sơn là một cô gái đẹp của thành phố Huế thời bấy giờ. Chỉ là một cuộc tình lãng mạn thời niên thiếu, khi anh mới 18 và cô gái xinh tươi như một vùng cỏ non liên thiên bích ấy vừa tròn 17. Thuở đó, tình yêu của lứa tuổi này được viết bằng chữ A lớn (Amour), mà một cái nắm tay đủ làm cho nhau ngây ngất, một nụ hôn vụng về tưởng suốt đời không thể nào quên. Hơn nữa, trong cái thành phố nhỏ bé đầy những thành kiến bảo thủ ấy, anh chỉ có thể để lòng mơ mộng đến một cuộc tình nhẹ nhàng đầy tính lãng mạn.
Bìa sách Như những dòng sông
Cho đến một hôm nghe tin người mình yêu sắp từ giã con đường Huyền Trân Công Chúa, anh bỗng thấy lòng vấn vương một nỗi buồn man mác. Con đường đó anh vẫn thường đi qua. Ngôi nhà của nàng nằm cao cao bên bờ sông Bến Ngự, đối với anh quen thuộc biết bao. Những buổi chiều tà, cùng ngồi với nhau trong phòng đọc sách, anh có thể nhìn thấy, một chút nắng vàng vẩn vơ đọng trước hiên nhà phía trước.
Cuộc tình trôi qua như thoáng mây bay, chẳng có một gắn bó hứa hẹn nào, nhưng lại sống mãi trong tác phẩm nổi tiếng Nhìn những mùa thu đi (nghe ca khúc) (1960): “Anh nghe buồn mình “trên ấy”, chuyện chúng mình ngày xưa, anh ghi bằng nhiều thu vắng, đến thu này thì mộng nhạt phai”. Anh thường gọi cái buồn man mác đó là la melancolie, nỗi buồn nhẹ nhàng như đang ngồi trong một khu vườn nhìn buổi chiều tà tắt nắng.
Ướt mi (nghe ca khúc) được viết từ những giọt lệ trên khóe mắt ca sĩ Thanh Thúy lúc được chính anh yêu cầu cô hát bản Giọt mưa thu ở phòng trà Vân Cảnh (Sài Gòn) năm 1958. “Buồn dâng lên đôi môi, buồn đau hoen ướt mi ai rồi”. Hồi đó Thanh Thúy còn rất trẻ, chưa đủ tuổi để ký hợp đồng khi đi vào nghề ca hát mà đã sớm mất mẹ. Anh cũng chưa quen biết nhiều cô ca sĩ này, nhưng nhìn những giọt nước long lanh trên đôi mắt to tròn ấy, anh đã xúc động không cùng. Sau khi trở về Huế, anh ghi lại cảm xúc của mình và bài hát được gửi vào Sài Gòn cho Thanh Thúy. Ca khúc Ướt mi, có thể gọi là tác phẩm đầu tay của anh trong những năm 1959-1960, qua tiếng hát liêu trai của Thanh Thúy tại khắp các phòng trà, vũ trường Sài Gòn, đã làm cho cái tên Trịnh Công Sơn trở thành một dấu hỏi, vì thật ra ít ai biết tác giả là người như thế nào.
Một bài nhạc khác cũng được anh viết cho Thanh Thúy, như là một kỷ niệm của người nhạc sĩ một hôm bất chợt thấy thương cho người ca sĩ lặng lẽ trở về ngõ tối sau một đêm tràn ngập ánh đèn màu: “Thương ai về ngõ tối, sương rơi ướt đôi môi... Thương ai về xóm vắng, đêm nay thiếu ánh trăng (Thương một người -1959 - nghe ca khúc).
Đầu năm 1962, gia đình dời nhà từ đường Phan Bội Châu qua Nguyễn Trường Tộ. Đối diện nhà là khuôn viên của tòa Tổng giám mục Huế. Đứng trên ban-công, có thể nhìn thấy một đoạn đường phía bên kia cầu Phú Cam. Con đường đó, ngày ngày người con gái mang tên Diễm trong chiếc áo lụa trắng của trường Đồng Khánh, vẫn thường đi ngang, băng qua cầu, rẽ tay mặt về nhà. Hình ảnh người con gái thùy mị mang nét kín cổng cao tường rất cổ điển đó đã làm cho anh không ngày nào không nhìn xuống đường chờ đợi: Lụa áo em qua phủ mặt đường; Gót nhỏ xanh xao tựa khói sương .
Diễm mang đến cho anh một mối tình nhẹ nhàng và lãng mạn như hai chữ Diễm xưa. Có hôm thức dậy muộn, nhìn thấy bên cửa sổ có cài một nhành dạ lý hương, anh biết người đẹp đã đi qua nhà mình. Và mỗi lần thức dậy anh đều mong nhìn thấy cành hoa cài trên cửa: “Chiều nay còn mưa, sao em không lại, nhớ mãi trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau”.
Diễm xưa (nghe ca khúc) ra đời, nhanh chóng nổi tiếng khắp miền Nam, đến độ mọi người đều cho đó là một mối tình lớn của Trịnh Công Sơn. Nhưng không phải thế, vì chưa đầy một năm sau thì đôi mắt nai ngây tròn của người em mới thực sự làm anh ngây ngất.
Cuối năm 1962, lúc anh bắt đầu cuộc sống xa nhà ở Quy Nhơn rồi Bảo Lộc, thì những cánh thư tình đã bắt đầu qua lại với Dao Ánh. Từ đôi mắt trong như nắng thủy tinh của nàng, rất nhiều ca khúc viết tiếp theo đều dành cho người con gái này. “Còn tuổi nào cho em” (nghe ca khúc) đây? “Thuở đó, tình đẹp như cơn “Mưa hồng” ươm nắng. Anh thổ lộ “em đã cho tôi quên đi muộn phiền”. Đến độ anh đã tưởng rằng “áo xưa dù nhầu, cũng xin bạc đầu, gọi mãi tên nhau”.
Nhưng trước sau Trịnh Công Sơn vẫn là một nghệ sĩ lãng du, chưa có ý định dừng chân ở bến đỗ nào. Còn cô gái khuê các Dao Ánh lại không thể sống mãi với mối tình lãng mạn chẳng một lời một hứa hẹn. Và cuối cùng cuộc tình đã kết thúc sau nhiều năm gắn bó: Em đi bóng đổ đường dài; Để tôi ở lại miệt mài nỗi đau.
Đầu năm 1970, trong những ngày tháng lang thang trên vùng đồi núi Đà Lạt, anh gặp một cô gái xinh đẹp đã liều lĩnh leo rào nội trú Trường Yersin để hẹn hò với anh - P.T.L môi đỏ má hồng, mắt long lanh như nước hồ Đà Lạt, đã đem đến cho anh nguồn vui mới. Trên những con đường của thành phố ngàn thông mơ mộng, anh cùng người đẹp lang thang khi xuống phố khi leo đồi. Nhưng rồi cuộc tình lại cũng như thoáng mây bay, chưa kéo dài bao lâu đã phải chia tay vội vàng.
Khoảng cuối năm 1970, anh đang ở Huế bỗng nhận được điện tín nhắn vào Sài Gòn gấp. Vài hôm nữa đã là ngày giỗ thân phụ nhưng anh vẫn vội vã lên máy bay để chỉ kịp đến phi trường tiễn đưa người tình rời quê hương đến một phương trời xa xôi biền biệt: Em đi pháo đỏ nhuộm đường; Tôi ngồi với nỗi tiếc thương bạc lòng.
Biết không bao giờ có thể gặp lại, làm sao giây phút tiễn đưa chẳng khỏi chạnh lòng: “Từ lúc đưa em về, là biết xa nghìn trùng... ta nghe nghìn giọt lệ, rớt xuống thành hồ nước long lanh (Như cánh vạc bay - 1970)”.
Năm 1981, anh gặp Hoàng Lan. Cô gái lúc nào cũng sống động vui tươi này gợi lên hình ảnh một đôi hài ba lê duyên dáng gõ trên phím dương cầm thánh thót. Tóc mây buông xõa, môi cười họa mi, đóa hoa vàng đã nhập vào hồn làm anh ngây ngất. Nhân ngày sinh của người đẹp, anh mang đến tặng nàng 21 cánh hoa hồng màu vàng: “Yêu em một đóa hoa vàng, yêu em một phút hoàng lan tình cờ”.
Bài hát anh viết cho Hoàng Lan năm 1981 mang tên Một thuở hoa vàng, sau được đổi thành Hoa vàng mấy độ lúc xuất bản: “Em đến bên đời, hoa vàng một đóa, một thoáng hương bay, bên trời phố lạ, nào có ai hay, ta gặp tình cờ”.
Hồi đó, Trịnh Công Sơn vừa đến ngưỡng 40. Nếu quả thật anh đã mệt mỏi đôi chân muốn tìm một nơi ngơi nghỉ, biết đâu người con gái này có thể là người bạn đời của anh. Nhưng rồi cuộc tình cũng trôi qua. Không do phụ rẫy, không bởi nhạt phai, mà chỉ vì anh muôn thuở là chàng lãng tử.
Khoảng năm 1990, V.A đến với anh bằng những nồng nàn của người con gái tuổi đôi mươi có nhan sắc tuyệt vời và thân hình chuẩn mực của một á hậu. V.A thường xuyên đến thăm anh ở nhà Duy Tân. Tiếc thay, cuộc tình chỉ kéo dài chưa đầy năm. Có lần, anh nhờ một người bạn trẻ đưa V.A về. Đến khi biết ra thì quá muộn màng, chàng trai ấy đã mang nàng tiên ra đi không trở lại. Chẳng biết, anh có đau khổ vì mất người yêu hay không, chỉ biết V.A có lần nhắn tin cho anh Sơn khi cô nằm trên giường bệnh, nhưng anh đã không đến thăm.
Cuộc tình này chấm dứt để lại cho chúng ta ca khúc. Con mắt còn lại (1990): “Còn hai con mắt khóc người một con, còn hai con mắt một con khóc người, con mắt còn lại nhìn một thành hai, nhìn em yêu thương, nhìn em thú dữ”. Không hiểu anh nghĩ gì khi viết nhìn em yêu thương, nhìn em thú dữ, chỉ biết rằng mỗi lần nhắc đến tên V.A hình như anh có chút chi băn khoăn trong lòng.
Năm 1992, sau khi đi Canada về anh thường lui tới với Hồng Nhung. Cô ca sĩ nhạc pop người Hà Nội với thân hình bé như hạt tiêu dường như làm cho anh trẻ lại. Hồng Nhung chỉ bằng nửa tuổi của anh Sơn, nhưng ngay từ đầu cô vẫn hồn nhiên xưng hô với anh một cách thân mật như người bằng vai phải lứa. Mặc dù đôi khi anh trách yêu cô là “hỗn”, nhưng lại tỏ vẻ rất thú vị.
Khi bắt đầu chuyển sang hát nhạc Việt, Hồng Nhung trình bày ca khúc Hạ trắng với thể điệu rock. Một số khán giả yêu nhạc Trịnh Công Sơn đã bày tỏ sự không bằng lòng vì cho rằng không phù hợp phong cách nhạc Trịnh. Nhưng anh Sơn lại cười hiền hòa: “Chẳng sao, bởi vì Hồng Nhung hát bình thường sẽ không thể nào tranh được với Khánh Ly”. Dù biết là anh chỉ nói đùa, nhưng điều đó chứng tỏ anh rất thương cô gái bé bỏng này. Và có lẽ Hồng Nhung là người ca sĩ duy nhất được Trịnh Công Sơn viết riêng cho đến ba bài hát (Thuở Bống là người, Bống không là bống, Bống bồng ơi).
Tuy rất được yêu, nhưng cũng có lúc Bống làm anh buồn. Hay có lúc Bống đã muốn nhảy lên bờ, bỏ mặc anh đợi chờ dưới suối. Như anh đã viết: “Có một con đường em không đi tới, vui buồn hội ngộ trong kiếp người”. Phải chăng đó là một lời trách móc người bạn bé nhỏ đã không chia sẻ những vui buồn trong cuộc đời với anh?
Cuối năm 1992, một người tình cũ từ Hoa Kỳ trở về thăm anh: “Người ngỡ đã đi xa, nhưng người bỗng lại về” (Tình nhớ). Dao Ánh vẫn trong tà áo lụa ngày nào, vẫn đôi mắt của nắng thủy tinh, vẫn là đóa hướng dương vô thường, đã làm anh như sống lại với những kỷ niệm xa xưa. Không khác gì ngày xưa, vẫn chọn một chỗ hẹn hò dưới phố. Buổi chiều, anh nhờ các em gái chọn giúp một chiếc sơ mi để mặc đi đến chỗ hẹn. Năm ấy là mùa pháo Tết cuối cùng ở Việt Nam, anh bồi hồi nhìn người yêu trở lại: “Hai mươi năm xin trả nợ người, trả nợ một đời em đã phụ tôi, bao nhiêu năm em nợ bạc đầu, trả nợ một đời không hết tình đâu.” (Xin trả nợ người - 1993).
Rồi lại bồi hồi nhìn người yêu ra đi về nơi ngút ngàn xa cách. Những cánh thư đi về nối lại chuyện tình hai mươi năm về trước. Lại tiếp tục những cuộc hẹn hò, kéo dài cho đến ngày anh nằm bệnh. Trong số các khuôn mặt người tình, có lẽ Dao Ánh là người anh yêu thương sâu đậm nhất. Phần đông những người cũ khi gặp lại đều đã thuộc về người khác, anh luôn giữ mối tương kính bạn bè. Riêng Dao Ánh đã làm cho tình cảm trong anh sống lại, hai mươi năm vơi cạn lại đầy...
Khánh Ly không có một cuộc tình với Trịnh Công Sơn, nhưng định mệnh như đã gắn liền cái tên cô với tên anh. Cô ca sĩ này đã chân đất giã từ thành phố Đà Lạt để theo Trịnh Công Sơn hát cho sinh viên lúc chỉ hơn 20 tuổi. Nhiều người đã cho rằng trời sinh ra Khánh Ly để hát nhạc Trịnh Công Sơn. Cô yêu thương anh như một người bạn, một người anh, một người thầy, và cả một người tình. Đôi khi trước mặt những người khác, anh đã la rầy Khánh Ly như một cô học trò nhỏ. Khánh Ly cũng chỉ cười buồn.
Suốt mười năm bên cạnh anh, Khánh Ly đã trở thành một cái gì không thể tách rời với cái tên Trịnh Công Sơn. Khánh Ly thường nói: “Tuy không một ca khúc nào của Trịnh Công Sơn viết riêng cho tôi, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng hầu hết tất cả những ca khúc của Trịnh Công Sơn đều được viết cho Khánh Ly”. Có lẽ vì vậy mà có thể nói cô là một trong những người hiểu rõ nhất từng ca từ cũng như những tâm ý trong một số lớn ca khúc của anh. Sau năm 1975, Khánh Ly rời Việt Nam lang thang khắp thế giới với nghiệp cầm ca, nhưng không lúc nào cô rời bỏ cái tên Trịnh Công Sơn bên cạnh cuộc đời mình. Khánh Ly từng nói rằng, cô đã chết nửa cuộc đời theo Trịnh Công Sơn sau ngày anh nằm xuống.
Đối với Trịnh Công Sơn, anh chỉ thấy Khánh Ly là một gắn bó định mệnh. Hơn mười lăm năm sau mới hội ngộ nhau ở Canada, đối diện với anh Sơn vẫn là Khánh Ly nhỏ bé ngày xưa, luôn luôn yêu thương và kính trọng người anh, người thầy của mình...
Một điều chắc chắn là bất cứ người con gái nào tới với anh, đem đến cho anh dù chỉ một chút tình, anh vẫn nâng niu đón nhận. Ngay cả khi anh đã qua độ tuổi bồng bột mà, như anh thường nói, đôi khi ngồi bên một người đẹp chưa chắc anh đã thú vị bằng ngồi ngắm ánh nắng buổi chiều tà hay cơn mưa phùn buổi sáng, thì vẫn có rất nhiều phụ nữ vì yêu tài mà tìm đến anh.
Anh biết ơn tất cả, bởi bản chất anh là luôn trân trọng hết thảy mọi phụ nữ mình từng quen biết trong đời.
HOÀNG TÁ THÍCH
manutd
05-18-2007, 06:31 PM
lúc nào cũng thiên bồng làm thơ viết nhạc trên từng da thịt của người đẹp quả là cõi tiên.
má ơi sóng gió Vũng Tàu, đệ tử của TCS đang âm thầm khổ luyện...sao mà lời văn ý thơ của anh Khổng Tử có "da", có "thịt" đến thế.:smile 9:
KhongTu
05-18-2007, 07:02 PM
Trên đời này còn gì đẹp hơn phụ nữ nữa phải không manutd, tất cả những cái đẹp nhất họ sở hữu hết rồi. Không làm thơ viết nhạc trên da thịt sao được, nhưng da thịt phải thơm và đẹp thì Trịnh Công Sơn mới ra nhạc được, chứ không "thơm", không "đẹp" chắc TCS cũng pótay.com thôi
timtudo
05-19-2007, 08:31 AM
Trên đời này còn gì đẹp hơn phụ nữ nữa phải không manutd, tất cả những cái đẹp nhất họ sở hữu hết rồi. Không làm thơ viết nhạc trên da thịt sao được, nhưng da thịt phải thơm và đẹp thì Trịnh Công Sơn mới ra nhạc được, chứ không "thơm", không "đẹp" chắc TCS cũng pótay.com thôi
ai da da, bác khongtu và manutd của mình có chuyện gì đây hè ? khó hiểu, khó hiểu....:25[1]:
Powered by vBulletin® Version 4.1.5 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.