PDA

View Full Version : Thiền phật giáo nguyên lý và một số phạm trù cơ bản



ngoctuan
03-20-2007, 10:35 PM
TS. Hoàng Thị Thơ
Tạp chí Triết học


Xuất phát từ quan niệm, thế giới hiện tượng chỉ là ảo ảnh của bản thể, là vô thường nên lý tính nhận thức về thế giới này chỉ đạt tới chân lý tương đối, Thiền Phật giáo cho rằng, cái cần được nhận thức là cái thực tại tuyệt đối đứng đằng sau thế giới hiện tượng, là cái tuyệt đối phổ quát và chỉ có thể tạm biểu đạt bằng khái niệm Không hay Chân như...

Trên cơ sở đó, Thiền Phật giáo triển khai các phạm trù về nhận thức và giải thoát rất đặc thù. Theo Thiền Phật giáo, để nhận thức được bản chất đích thực của Không nhằm đạt tới chân lý tuyệt đối thì cần phải vượt qua nhận thức lý tính bằng trực giác, gọi là trí Bát nhã (Prajna Paramita). Phân tích quan niệm của Thiền Phật giáo về quá trình nhận thức, và cùng với nó là quá trình giải thoát, tác giả muốn chỉ ra thế mạnh cũng như hạn chế của những quá trình mang tính hướng nội và cá thể này. Cũng chính vì vậy, theo tác giả, có thể lý giải được sự lan toả đang rất thành công của Thiền Phật giáo trên thế giới hiện nay.


Thiền thực sự có vị thế trong triết học Phật giáo. Ngày nay, Phật giáo đang phát huy một số đặc trưng độc đáo để hội nhập và lan toả sang phương Tây một cách thành công, trong đó có sự góp phần của Thiền. Bài viết này cố gắng làm rõ một số đặc trưng của Thiền Phật giáo từ góc độ vấn đề cơ bản của triết học để góp phần nhận diện và phát huy cũng như bảo tồn những đặc sắc của tư duy phương Đông, cũng là của Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng.

"Thiền" là một khái niệm xuất hiện rất sớm, từ thời kỳ văn minh Veda của Ấn Độ cổ đại Tới Đức Phật, Thiền trở thành khái niệm chuyên biệt chỉ phép tu đặc trưng riêng của Phật giáo. Trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo, khi phát triển những nguyên lý cơ bản của giáo lý trên tinh thần mới, Thiền luôn đóng vai trò lý luận. Đến Thiền tông, tư tưởng Thiền Phật giáo đã đạt tới tầm triết học với hệ nguyên lý, khái niệm và cấu trúc đặc trưng và độc lập. Điểm riêng biệt là Phật giáo không triển khai và phát triển hệ vấn đề như triết học phương Tây, và cũng không hoàn toàn giống các hệ triết học phương Đông khác. Song, những nguyên lý và khái niệm đặc trưng của Thiển Phật giáo thể hiện khá rõ nội dung triết học phổ quát của riêng nó, nổi trội nhất là nguyên lý "Không” và các phạm trù về nhận thức và giải thoát mà Thiền học đã triển khai thành công.

1. Nguyên lý "Không"

Tư tưởng Thiền Phật giáo thừa nhận nguyên lý có một thực tại tối hậu, bất biến đằng sau hiện tượng. Thực tại đó không thể nắm bắt hay nhận thức được bằng nhận thức thông thường nên tạm gọi là "Không” hoặc "Vô" hay nhiều tên gọi khác. Đây là một xuất phát điểm căn bản cho khuynh hướng nhận thức thoát ly khái niệm của cả hệ thống. Đây cũng là một trong những đặc trưng của lối nhận thức phương Đông nói chung và ở Ấn Độ nói riêng mà Phật giáo đã tiếp thu và Thiền học phát triển thành một điển hình. Nguyên lý Không phổ quát của Thiền Phật giáo là một khẳng định ở tầm chủ thuyết chứ không còn là một phủ định thông thường.

Thiền Phật giáo cho rằng, mọi hiện tượng không nằm ngoài quy luật nhân quả (duyên khởi) phổ quát, do đó chúng vận động, biến đổi không ngừng. Không có hiện tượng nào hoàn toàn độc lập và bất biến. Phật học đã tổng kết rằng, mọi hiện tượng đều trong vòng biến đổi sinh/thành - trụ - hoại/dị - điệt/không của sự vận động thái cực có - không. Từ đó, Thiền học tiếp tục khẳng định từ góc độ nhận thức luận rằng, hiện tượng chỉ là ảo ảnh của bản thể và được gọi bằng các thuật ngữ "vô thường", "vô ngã" hay 'không thường còn", với nghĩa là không tồn tại thực. "Không” mới là bản thể tối hậu (chân như), là nơi sinh ra và trở về của mọi hiện tượng, là cái thường còn, không phụ thuộc vào nhân quả, siêu vượt mọi hiện tượng. Do vậy, không thể miêu tả nó bằng khái niệm. Chỗ này rất giống với Đạo của Lão Trang ở Trung Quốc.

Thiền học phân định rõ rằng, có một thực tại tuyệt đối cần nhận thức là cái đằng sau thế giới hiện tượng, nhưng không thể diễn tả bằng khái niệm, vì đó không phải là tổng số các thuộc tính, không phụ thuộc vào điều kiện và không bị quy định. Đó gọi là thực tại phi/siêu hiện tượng, là cái tuyệt đối phổ quát, chỉ có thể tạm biểu đạt bằng khái niệm "Không" hay "Chân như” hoặc “Nhất như” nào đó. Từ nguyên lý Không, Thiền Phật giáo đã triển khai các phạm trù về nhận thức và giải thoát rất đặc thù.

2. Một số phạm trù về nhận thức

Trên cơ sở bản thể luận Không, Thiền Phật giáo đặt ra mục đích là phải nắm bắt cho được cái bản chất đích thực của thực tại tuyệt đối Không. Do vậy, Thiền học không phủ nhận khả năng nhận biết bản thể tối hậu, mà còn khẳng định rằng, "trí tuệ này không phải mới có mà đã có sẵn từ xưa, ngủ ngầm trong chúng ta..."(1).

Về hình thức, Thiền học có phần gần với chủ nghĩa hư vô và bất khả tri luận khi phủ nhận giá trị của nhận thức thông thường về thế giới hiện tượng. Thiền học xếp giá trị của nhận thức thông thường vào giới hạn "vô minh" và gọi là "trí thế gian" (Jnanalan Kikam)(2). Song, tại đây có một sự khác biệt với hai tư tưởng trên. Đó là, về thực chất, Thiền học không phủ nhận mọi khả năng nhận thức thực tại, mà chỉ phủ nhận khả năng đạt tới giá trị tuyệt đối bằng con đường nhận thức lý tính qua hiện tượng bởi cho rằng, hình thức và ngôn ngữ chính là cái bẫy, còn gọi là kiến chấp do nhận thức tạo ra và bị mắc vào. Tại đây, Thiền học đã đụng tới vấn đề tính tương đối của nhận thức trong quan hệ với đối tượng nhận thức, nhưng dù vậy, nó vẫn vạch ra khả năng nhận thức tuyệt đối được "Không" bằng việc giác ngộ một cách trực tiếp cái bản chất của thực tại, tức là vượt qua nhận thức lý tính bằng trực giác, gọi là trí Bát Nhã (Prajna Paramita).

Như vậy, Thiền Phật giáo không phủ nhận khả năng nhận thức được chân lý, nhưng lại phân chân lý thành hai mức: chân lý tuyệt đối (chân đế, Paramarthasatya) và chân lý tương đối (tục đế, Samvritisatya). Chân lý tuyệt đối chỉ có thể nắm bắt được bằng trí Bát Nhã qua thực hành thiền định, còn chân lý tương đối là cái nắm bắt được bằng nhận thức lý tính thông thường, gọi là thức (Vijnana). Thiền học cho rằng, bằng suy lý nên nhận thức luôn bị phân đôi thành chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. Một khi chủ thể nhận thức càng cố gắng phân tích đối tượng thì càng giết chết đối tượng. Theo Thiền học, phân tích không phải là con đường để đạt tới thực tại Tuyệt đối. Phân tích và suy lý là con đường vô hạn chỉ tiệm cận được hiện tượng chứ không thể đạt tới bản chất đích thực. Giá trị của nhận thức lý tính chỉ là chân lý tương đối, đó chỉ là "ảo ảnh" của thế giới tuyệt đối. Do vậy, Tuyệt đối không thể diễn đạt đầy đủ bằng ngôn ngữ, kể cả các thuật ngữ "Không" mà Phật giáo phải tạm dùng.

Thiền Phật giáo thừa nhận, từ sắc pháp (sắc) lên danh pháp (thọ, tưởng, hành, thức) là trật tự tự nhiên của con đường nhận thức từ cảm tính lên lý tính. Đây chính là giới hạn cần phải vượt qua, bởi tại đó, theo Thiền học, nhận thức chỉ nắm bắt được thế giới hữu hình, thế giới hiện tượng, mà hiện tượng chỉ là các lớp ẩn vận động và biến đổi, không bao giờ là hình ảnh chân thực hay hình ảnh tuyệt đối của bản thể đích thực. Như vậy, thức không thể vượt qua được giới hạn của khái niệm, vì cái hình, tướng (sắc) mà khái niệm miêu tả được chỉ là phản ảnh ảo về sự giả hợp của hiện tượng "vô thường” chứ không phải tồn tại đích thực.

Nói tóm lại, thức không thể đột phá được bản chất và thực tính của vũ trụ, của thế giới, của "các loại không gian với các chiều khác nhau..."(3). Về bản chất, thức có thể có được bằng tích luỹ kinh nghiệm, do truyền đạt và học tập... song chỉ dừng lại ở khả nàng nắm bắt, miêu tả các lớp hiện tượng. Do vậy, thức luôn phụ thuộc vào đối tượng, vào hiện tượng và vào hệ khái niệm mà nó thiết kế và sử dụng. Con đường của thức là đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn và con đường này là vô tận, vì đối tượng của nó (thế giới hiện tượng) luôn vận động và biến đổi không ngừng. Song, toàn bộ mạng lưới khái niệm và cả kinh nghiệm luôn là rào cản khiến thức mắc kẹt, không đến được bản chất tối hậu của thực tại. Thiền học khẳng định rằng, thức chỉ là sự nắm bắt, nhận thức gián tiếp, tương đối không phải là nhận thức trực tiếp, tuyệt đối và vì thế, thức không thể nào nắm bắt được bản thể tuyệt đối. Nói cách khác, thức chỉ đạt tới hiện tượng luận, chứ không thể đạt tới bản chất luận. Đây là chủ thuyết tầm phương pháp luận để từ đó, Thiền học liên tục củng cố và chứng minh một khả năng nhận thức được bản thể tuyệt đối bằng con đường siêu vượt khái niệm, siêu vượt nhận thức. Đó là lý luận về trí Bát Nhã (Prajna Paramita).

Thiền học khẳng định có thể nắm bắt được tuyệt đối bằng trí Bát Nhã (Prajna Paramita). Đây là khả năng nắm bắt thực tại trong chỉnh thể, trong thục thể bất phân, hoàn toàn khác về phương tiện, con đường, phương pháp so với nhận thức thông thường(4). Trên cơ sở này, Thiền Phật giáo chủ trương: để nắm bắt thực tại đang trong biện chứng vừa là nó lại vừa không là nó, vừa không phải là cái khác nó, thì phải tu tập thiền - định để từ bỏ (dần hoặc ngay lập tức) cách nhận thức của lý tính (bằng quy nạp hoặc diễn dịch) và từ bỏ (dần hoặc ngay lập tức) lối nhận thức theo con đường "từ trực quan đến trừu tượng”, rồi từ bỏ (dần dần hoặc ngay lập tức) phương tiện suy lý bằng khái niệm và khẳng định một trí Bát Nhã mới có thể trực tiếp nắm bắt được thực tại tối hậu không bị chia chẻ.

Con đường đạt tới trực giác mà Thiền học vạch ra là con đường nội, đảo ngược dòng nhận thức thông thường: từ bỏ hiện tượng (không), thoát khỏi khái niệm (vô niệm) để đạt tới sự thể nghiệm, hội nhập tĩnh lặng vào ý thức tự nó, tức là thức thứ bảy (Mạt na thức (Manas)) và thức thứ tám (A Lại Gia thức (Alaija)). Xét ở nghĩa nào đó, hai thức này tương tự với tiềm thức và vô thức trong triết học của Phrớt(5). Trí Bát Nhã là sự tự chứng của mỗi người, không phải bằng nhận thức của người khác và trong lãng quên khái niệm. Để có khả năng trực giác được tuyệt đối thì chủ thể nhận thức phải "đảo ngược hướng nhận thức và di vào nội giới và phải "quét sạch ý thức". Thao tác ngược dòng nhận thức để trục giác được chính là chu trình thiền - định vốn được trình bày cụ thể trong các kinh thiền nguyên thuỷ của Phật giáo, như Tứ Niệm Xứ hay An Ban Thủ ý. Trong quy trình đó, chủ thể nhận thức phải làm chủ toàn bộ quá trình ý thức tâm lý, sinh lý kết hợp với đạo đức và niềm tin, như hướng dẫn trong Bát Chính Đạo: từ ý thức thiên về cảm tính (chính kiến), tới ý thức lý tính (chính tư duy), từ đó làm chủ các hoạt động cảm giác, sinh lý và tâm lý (chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh) một cách liên tục (chính tịnh tiến), để trở lại được với tâm thức tiền siêu khái niệm (chính niệm), và duy trì sự tập trung cao độ của tâm thức (chính định).

Con đường rèn luyện trực giác của Thiền Phật giáo là một chu trình nhận thức hoàn toàn ngược với nhận thức luận phương Tây. Phương Tây coi trọng con đường nhận thức từ biết chưa đầy đủ tới biết đầy đủ, từ bản chất nông tới bản chất sâu ngày càng tiến gần tới bản chất đối tượng, ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về đối tượng. Trái lại, Thiền Phật giáo lại đi từ biết đến không biết, nghĩa là từ phụ thuộc vào hiện tượng tới thoát khỏi giới hạn của hiện tượng. Thiền học cho rằng, bản chất của nhận thức nằm ngoài hiện tượng. Con đường đó là "học tới vô học". Chẳng hạn, "Ba mươi năm trước, khi chưa học thiền, sư cụ thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau đó, khi bắt đầu nhiễm mùi đạo, thì thấy núi chẳng phải là núi, thấy nước chẳng phải là nước. Nay ngộ được cái lý đạo huyền vi rồi, lại y nhiên, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước"(6).

Nói chung, Thiền học không phủ nhận giá trị nhận thức và quá trình nhận thức thông thường, mà tập trung nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa nhận thức thông thường và trực giác để đưa ra khả năng nắm bắt Tuyệt đối của trực giác. Thiền Phật giáo cho rằng, thức (Vijana) chỉ nắm bắt được hiện tượng giới, tới được giá trị tương đối của chân lý, và chỉ có trí Bát Nhã mới có thể nắm bắt trực tiếp bản chất của thực tại chân thực. Song, điểm khó bàn là giá trị đích thực của trực giác đạt được bằng con đường thiền - định lại không thể kiểm chứng và đầy mầu sắc thần bí. Chân đê của Thiền Phật giáo thường mang ý nghĩa tâm linh tôn giáo, và niềm tin dường như có nghĩa lý hơn là độ chân xác. Đây chính là chỗ mà nhận thức luận Phật giáo chọn thế lùi khi đụng chạm tới vấn đề tính đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng nhận thức.

Trong thực tế sống động, Phật giáo, như một tổ chức xã hội, đang thừa hưởng nhiều thành tựu khoa học có giá trị cao là kết quả đích thực của nhận thức lý tính. Và do vậy, Thiền không dễ tuyệt đối hoá tính tương đối của nhận thức lý tính và phủ nhận giá trị của nhận thức thông thường. Song vẫn có thể nhận định thận trọng hơn rằng, các lĩnh vực tâm lý (nội tâm), tâm linh, tức là các lĩnh vực mà khoa học về con người đang còn bỏ ngỏ, sẽ là khu vực phát triển cho nhận thức luận Phật giáo hiện đại. Thiền Phật giáo đã tập trung vào một vấn đề nan giải của triết học là, bằng cách nào nắm bắt được thực tại mà không có sự phân đôi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức, vì cho rằng, sự phân đôi chủ khách không cho phép nhận thức trực tiếp thực tại, vả lại, chia chẻ là giết chết thực tại. Thiền học thừa nhận có hai con đường nhận thức: hướng ngoại và hướng nội. Con đường thứ nhất là con đường của nhận thức thông thường bằng tư duy khái niệm và kinh nghiệm. Ngược lại con đường thứ hai, còn gọi là “nội quán” vượt bỏ kinh nghiệm và khái niệm. Theo con đường hướng nội, "Thiền đi con đường trái ngược và bước tháo lui… để đạt đến vũ trụ không - thời gian vô phân biệt. Thiền lui về tận cứ điểm trước khi thế giới với mọi thứ phân hai chưa bắt đầu hình thành. Có nghĩa là Thiền muốn chúng ta trực diện với một thế giới trong đó thời gian và không gian chưa xen vào để tách ra làm hai"(7).

Thiền Phật giáo nguyên thuỷ đã tiếp thu kỹ thuật tu luyện của Ấn Độ và Trung Quốc cổ về cách đạt được tâm bình lặng và khẳng định công dụng khả thi của nó là: "...nhờ tâm bình lặng mà nhìn thấy được sự vật như chúng tồn tại… " và nguyên nhân khiến tâm không bình lặng là vì ngoại trần (tác động của thế giới khách quan) và dục vọng, cho nên tâm bình lặng thì dục vọng, tham đắm do thế giới khách quan gây ra cũng không chi phối được tâm(8). Kinh Tứ Niệm Xứ của Phật giáo nguyên thuỷ đã nhấn mạnh: "Đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn"(9).

Đích của con đường hướng nội là đạt đến cảnh giới tam muội (Samadhy) tuyệt đối, một cảnh giới nội tâm hoàn toàn bình lặng… gọi là vô niệm… hay tinh, chỉ… đến lúc không còn cảm giác về thân nữa, cũng không còn cảm thọ nữa, cũng không còn tưởng nữa, bởi lẽ mọi hoạt động của tâm thức đều ngưng chỉ… bình lặng nội tâm đó được gọi là trạng thái tồn tại thuần tuý. Hướng nội để luyện tĩnh tâm đã có trong kinh điển nguyên thuỷ, kinh Pháp Cú (Dharmapada, kệ 38):

Ai tâm không an trú, không biết chân điệu pháp. Tín bị rung động, trí tuệ không viên thành.

Hỡi các tỳ kheo! đây là con đường dẫn tới Niết bàn.

Đó là tâm bình lặng (Samatha) và nội quán (Vipassana).

Sự phê phán của Thiền học đối với nhận thức hướng ngoại có mức độ hợp lý nhất định. Song, giá trị đích thực của nhận thức hướng nội là gì, nó có đạt tới chân lý hay thực tại tối hậu không lại là một vấn đề chưa dứt tranh luận. Sự chiêm nghiệm trực tiếp của cá thể hướng nội, còn gọi là trực nhập, không chia sẻ, vô ngôn… có một giá trị chủ quan tuyệt đối, khó kiểm chứng. Vậy chân lý hay thực tại sống động mà trực giác hướng nội của Thiền đạt được là diều bất khả tranh luận. Đây lại lả nan đề của khuynh hướng hướng nội khi Thiền Phật giáo triển khai sang các anh vực khoa học tự nhiên có độ kiểm chứng xác thực.

Tuy nhiên, nhận thức hướng nội của Thiền Phật giáo cho đến bây giờ vẫn có giá trị nhất định. Trước hết, nếu đặt mục đích để rèn luyện nội tâm, làm chủ các cảm xúc, thư giãn tuyệt đối, điều chỉnh dòng ý thức và tập trung tư tưởng… thì kỹ thuật thiền - định là một hướng khả thi đã được tâm - sinh lý học hiện đại kiểm chứng và chứng minh. Khi làm chủ được nội tâm và các dòng suy nghĩ tập trung cao độ vào một việc, con người không tốn phí năng lượng một cách tản mát mà vẫn có thể đạt được những kết quả kỳ diệu, đặc biệt trong các hoạt động sáng tạo như của khoa học cũng như nghệ thuật. Phát huy công năng hướng nội của Thiền, nhiều môn nghệ thuật phương Đông đã đạt được những thành tựu đặc biệt như là hoa trái của Thiền. Chẳng hạn như thiền hoạ, hoa đạo, trà đạo, thư pháp, võ đạo. Tuy nhiên, từ góc độ giáo lý giải thoát, Thiền học luôn cảnh tỉnh đó không phải là mục đích cuối cùng của giác ngộ.
3. Một số phạm trù về giải thoát.

Nhìn chung, các thuyết nhân bản Ấn Độ cổ đã nhận thức được con người là sinh vật có ý thức, song không luận giải nhiều về vai trò của ý thức đối với đau khổ và giải thoát của con người. Phật giáo đã tiếp thu một cách có chọn lọc các thuyết nhân bản, đặc biệt là giải thoát luận của truyền thống Ấn Độ cổ và từ đó, nêu ra một luận giải trung đạo về giải thoát.

Đương thời, Đức Phật đã phê phán hai khuynh hướng cực đoan của các thuyết “Bất diệt” hoặc "Hư không” và đưa ra huyết Duyên sinh vô ngã để lý giải bản chất người và cách tiếp cận mới về khổ đau và giải thoát. Thuyết Duyên sinh vô ngã đưa ra nguyên lý "nguồn gốc phụ thuộc”, phổ quát của vạn vật. Thuyết này nhận định rằng, mọi vật và con người đều là sự hiện hữu tạm thời "vô thường” theo quy luật nhân quả. Con người chỉ là sự giả hợp tạm thời của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), do đó là "vô ngã" (Anatman). Cái gọi Ta/ngã chỉ là tồn tại hiện tượng trống rỗng (Sunyata). Nguyên nhân đầu tiên của mọi đau khổ là do con người mê lầm (vô minh), nhầm tưởng năm uẩn là Ngã đích thực, từ đó, luôn khởi dục vọng đối với Ngã. Dục vọng dẫn dắt ý nghĩ, hành động nên con người tạo "nghiệp" của chính mình và nghiệp lại tạo nghiệp mới, do vậy mãi trôi lăn trong vòng luân hồi. Thuyết Duyên sinh vô ngã phân tích nguyên nhân của đau khổ thành 12 chi phần, gọi là "thập nhị nhân duyên”, gồm: vô minh - hành - thức -danh sắc - lục nhập - xúc - thọ - ái - thủ - hữu - sinh - khổ uẩn.

Luận giải của Phật giáo về con đường và cách thức giải thoát bắt đầu từ nhận thức: thức chỉ là một thành phần hợp nên ngũ uẩn. Bản thân thức do duyên sinh nên cũng vô thường. Trong chuỗi nhân duyên đó, vô minh là nguồn khởi của toàn bộ khổ đau của con người. Một khi giác ngộ được lẽ vô thường và vô ngã, thì vô minh tự chấm dứt, con người sẽ thoát khỏi đau khổ luân hồi(10). Để dứt vô minh thì không thể nhờ vào thức mà phải nhờ trí Bát Nhã. Ở đây, nhận thức luận đã không tách rời giải thoát luận trong cấu trúc triết học - tôn giáo của Thiền Phật giáo.

Phật giáo đã tiếp thu có phê phán các quan điểm nhân bản của truyền thống Ấn Độ cổ và thiết kế tư tưởng giải thoát bình đẳng trên cơ sở thuyết Duyên sinh vô ngã (Paticcasamuppada). Phật giáo nguyên thuỷ chủ trương "vô ngã" để tụ giải thoát cho chính mình (tự ngộ). Sang giai đoạn Đại thừa, Long Thọ (Nagarjuna - khoảng 150 tới 250 năm sau công nguyên) tiếp tục triển khai nguyên lý Không và triển khai giải thoát luận "Trung đạo" mang tính phổ quát cao hơn. Theo ông, giác ngộ là sự giải thoát không chỉ cho chính mình (tự ngộ), mà còn cho mọi chúng sinh (giác tha). Quan niệm giác ngộ còn phân biệt có không về "ngã vô, pháp hữu” của Tiểu thừa được triệt để hoá theo nguyên lý Không thành "ngã pháp câu không", tức vứt bỏ cả ý thức phân biệt có không. Đây là mốc khẳng định Đại thừa Phật giáo và công đầu là của Long Thọ.

Niềm tin giác ngộ bằng trực giác được Phật học mô hình hoá cụ thể thành con đường tu dưỡng cá nhân. Đó chính là sự kết hợp tu luyện tâm thức (nội tâm) với đạo đức trong Bát Chính Đạo. Thiền Phật giáo lấy giác ngộ làm giới hạn của sự vượt bỏ nhận thức lý tính thông thường để trở về với trực giác Nội dung giác ngộ, tới khi xuất hiện Thiền tông đã có sự chuyển đổi, không hoàn toàn đơn nghĩa là giác ngộ về thực tại phổ quát mà thiên về ý nghĩa giác ngộ bản tâm nhưng vẫn nhất quán nguyên lý Không. Song thực tại hay bản tâm được giác ngộ đó là gì thì Thiền Phật giáo không trả lời, không miêu tả, mà trả lại cho sự chiêm nghiệm có tính cá biệt của cá nhân siêu phàm, trả lại cho sự chiêm nghiệm siêu việt phi khái niệm. Đây cũng chính là điểm dừng khi Thiền đụng tới vấn đề tính đồng nhất của chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức trong luận thuyết Giác ngộ của Phật giáo.

Trên cơ sở nhận thức luận về trí Bát Nhã, Thiền học mô hình hoá hai con đường nhận thức chân lý là đột biến (đôn ngộ) hoặc tuần tự (tiệm tu). Đôn ngộ là khuynh hướng đề cao khả năng có thể ngay lập tức đồng nhất tuyệt đối với thực tại phi hiện tượng, tức là ngay lập tức đạt được giải thoát. Riêng Thiền tông chủ trương đốn ngộ, nhưng Thiền học luôn cảnh tỉnh Thiền gia không được chấp vào đôn hay tiệm, vì đó chỉ là những phương thức khác nhau để đạt tới mục đích giác ngộ. Tại đây, đôn ngộ đồng thời cỏ hai khả năng tiến triển.

Thứ nhất là khả năng đẩy vấn đề giải thoát ra khỏi phạm vi tôn giáo vì quá trình tu luyện và sự am hiểu giáo lý mất dần ý nghĩa tôn giáo ban đầu. Khuynh hướng này dễ dàng được giới trí thức chấp nhận và ứng dụng như một mô hình tu luyện nội tâm, tâm thức ngoài tôn giáo. Đây là một biến thể trong thực tiễn mà bản thân Phật giáo với tư cách một tôn giáo không hề mong muốn song nó đã xảy ra và tương đối phổ biến ở tầng lớp trí thức trung lư.u hiện đại. Khuynh hướng thứ hai lại làm tăng thêm tính thần bí của Phật giáo, vì cho rằng, giải thoát hay chân lý tối hậu là sự giác ngộ cá nhân, không thể kiểm chứng. Tính thần bí của khuynh hướng này lại có giá trị tôn giáo lâu bền, và có sức thâm nhập hơn nhiều so với các tôn giáo khác. Có lẽ đây là một trong những khả năng vượt qua mọi biên giới, mọi rào cản văn hoá để hoà nhập với các nền văn minh lớn trên thế giới của Phật giáo, mà Samuel Huntington đã nhắc đến như một ngoại lệ trong Sự va chạm giữa các nền văn minh.

Như vậy, nhìn chung, giải thoát của Thiền Phật giáo vẫn là một trải nghiệm tâm linh có tính hướng nội và tính cá thể tuyệt đối nên không thể chứng minh hay bác bỏ, do vậy kết quả đạt được cũng không thể chứng minh hay bác bỏ. Có thể vì những lẽ này, Thiền Phật giáo chủ yếu phát huy sức mạnh trực giác hướng nội trong các lĩnh vực triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật... và có khả năng hấp dẫn đối với nhu cẩu nhận thức nội tâm, nhưng cũng do vậy, Thiền Phật giáo không thể trực tiếp mở rộng sang các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật hiện đại. Đây chính là hạn chế của Thiền với tư một cách hệ tư tưởng triết học - tôn giáo.

Sức sống của Thiền Phật giáo một phần chủ yếu ở cách tiếp cận và cấu trúc vấn đề độc đáo của bản thể luận và nhận thức luận. Trong tương lai, giá trị độc đáo này sẽ càng được khai thác trong đối sánh với triết học phương Tây. Đây chính là nguồn năng lượng để Thiền Phật giáo có khả năng được phổ cập hoá, đa dạng hoá, hiện đại hoá trong khung cảnh toàn cầu hoá hiện nay.





--------------------------------------------------------------------------------


(1) Daiset Teitaro Suzuki. Thiền. Người soạn dịch: Thuần Bạch. Nxb TP. Hồ Chí Minh, 2000, tr.8.

(2) Xem: Bùi Biên Hoà. Đạo Tâm phương Đông - từ Tâm đến Tâm không. Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr.63-70.

(3) Bùi Biên Hòa. Sđd, tr 64 -65.


(4) Xem: Daiset Teitaro Suzuki. Sđd, tr 57-80.

(5) Xem: Từ điển triết học. Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1986, tr 563, 677.

(6) Nghiêm Xuân Hồng: Biện chứng giải thoát trong tư tưởng Ấn Độ. Nxb Quan điểm, Sài Gòn, 1996, tr 264.

(7) Daiset Teitaro Suzuki. Sđd, tr 234.

(8) Thích Minh Châu, Thích Thanh Từ, Thích Phước Sơn. Thiền Nguyên thủy và Thiền phát triển. Ban Phật giáo Việt Nam và Ban phật giáo chuyên môn. TP. Hồ Chí Minh, 1994, tr 96 - 97.

(9) Trường bộ kinh (Digha -Nikaya). Người dịch: Thích Minh Châu, Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1972, tr 56 - 57.

(10) Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận. Nxb TP.Hồ Chí Minh, 1999, tr.166.

ngoctuan
03-20-2007, 10:38 PM
Chữ Thiền, Thiền học vốn từ chữ Thiền tông mà ra. Tiếng Trung Quốc gọi là tch’án (người Nhật gọi là Zen) hay là tch'anna (thiền na). Chữ này vốn viết theo âm của chữ sanskrit là dhyâna, người ta thường dịch là suy tưởng, suy ngẫm (méditation).

Theo truyền thống của trường phái Zen, Buddha có một loại bài giảng bí truyền, từ đời này qua đời khác mà không cần có văn bản viết. Phật truyền riêng cho một môn sinh nào đó, môn sinh ấy là truyền riêng cho môn sinh của mình.

Sự kế truyền ấy tiếp mãi cho đến Bodhidharma (Bồ đề lạt ma) mà người ta cho là vị thủ lĩnh thứ 28 ở Ấn Độ. Ông này sang Trung Quốc (khoảng giữa các năm 520 và 526) và ở đấy ông trở thành sư tổ đầu tiên của trường phái Tch'an.

Bodhidharma chuyển lại lời bí truyền cho Huệ Khả, khoảng từ 486 - 593 (Honei K’o) và là sư tổ thứ hai của Trung Quốc.

Học thuyết cứ thế truyền đời này qua đời khác, cho đến khi có sự chia rẽ quan điểm quan trọng giữa các môn đệ của sư tổ thứ năm là Hoằng Nhẫn (Hong jen, 605 -675).

Một môn sinh là Thần Tú (Chen-sion) mất năm 706 trở thành người sáng lập ra trường phái miền Bắc (Bắc tông). Môn sinh khác là Huệ Năng (honeineng) 638-713, lập ra trường phái miền Nam (Nam tông).

Chẳng bao lâu, trường phái miền Nam có uy tín nhiều hơn trường phái miền Bắc, do đó mà Huệ Năng cuối cùng được thừa nhận là sư tổ thứ 6 và là người kế tục Hong-jen.

Tất cả các nhóm sau này có ảnh hưởng lớn của Thiền học đều xuất phát là các môn sinh của Huệ Năng.

Truyền thuyết trên đây thật ra không dựa vào một tư liệu nào có trước thế kỷ VI. Chúng ta chỉ biết một cách chính xác rằng các nền tảng của Thiền học được xây dựng ở Trung Quốc bởi các vị sư Seng tchao và Tao chang (Tăng Triệu và Đạo Sinh). Khi các cơ sở ấy đã được thành lập thì sự xuất hiện của Thiền học là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng sự chia rẽ Bắc và Nam là một sự kiện lịch sử. Sự bất đồng giữa hai nhà sáng lập bắt nguồn từ sự khác nhau về quan điểm giữa Tính tông (Sinh Tsong - trường phái về tinh thần vũ trụ) và Không tông (K'song tsong - trường phái về Hư vô).

Sau đây là một sự kiện diễn ra trong bản cuộc đời tự thuật của Huệ Năng, môn sinh của Hong-jen. Lúc gần mất, Nong-jen gọi ba môn sinh đến và nói với họ phải chọn một người kế tục. Người kế tục phải là người có thể làm một bài thơ hay nhất, tóm tắt các nguyên lý của Thiền học. Thần Tú làm bài thơ sau:

“Thân thể giống như cây bồ đề,
và tinh thần giông như một tấm gương sáng
chúng ta hãy lau chùi nó từng giờ từng giờ cẩn thận
Nếu không, bụi bặm sẽ rơi lên nó”1


Huệ Năng bác ý ấy và viết :


“Thật ra thì chẳng có cây bồ đề
mà cũng chẳng có tấm gương nào cả.
Bởi vì thật ra chẳng có cái gì cả
Thế thì bụi bặm còn rơi vào đâu?”


Người ta kể rằng Hong- jen tán thành bài thơ của Huệ Năng, chỉ định ông là người kế tục và là tổ sư thứ 6. Bài thơ của Thần Tứ nhấn mạnh đến tinh thần vũ trụ hay là bản của Buddha mà Đạo sinh đã nói đến, còn bài thơ của Huệ Năng thì nhấn mạnh cái vô (non-être) của Tăng Triệu.


Hai công thức thường được lặp lại trong Thiền học: Phật tức Tâm (tinh thần chính là Phật) và Phi tâm phi Phật (non- esprit, non - Buddha).


Nguyên lý thứ nhất là nguyên lý không thể diễn tả được.

Về sau, trường phái Thiền chủ yếu đi theo con đường của Huệ Năng. Trong -nội bộ trưởng phái này, sự liên kết (đã được phác họa) giữa trường phái vô với trường phái lão đạt đến mức cao nhất.

Cái mà trường phái Hư vô gọi là bậc thang thứ 3 của chân lý theo nghĩa cao cấp thì các nhà Thiền học gọi là nguyên lý thứ nhất. Trên bậc thang thứ 3 ấy, người ta tuyệt đối không có thể nói được gì hết.

Và cũng do từ bản chất, nguyên lý thứ nhất ấy là không thể diễn tả được.

Một hôm, người ta hỏi thiền sư rằng (Thiền sư Văn Ích, mất năm 958): "Nguyên lý thứ nhất là gì?" Thiền sư trả lời, "Nếu tôi nói với ông thì nó sẽ trở thành nguyên lý thứ hai".

Nguyên tắc của các Thiền sư là chỉ dạy các môn sinh bằng sự tiếp xúc cá nhân. Nhưng người nào không có điều kiện tiếp xúc như vậy, có thể tiếp nhận lời dạy của thầy bằng các bài viết. Những tập sách ấy gộp lại gọi là Ngữ lục. Phương pháp này về sau (cũng được các nhà tân khổng giáo (néo - confucianiste) sử dụng.

Trong các tập Ngữ học ấy, thường người ta thấy một khi một môn sinh liều lĩnh nêu lên một câu hỏi nào đó về một trong những nguyên lý cơ bản của Phật học thì hoặc bị Thiền sư đánh hoặc ông ta trả lời một câu bâng quơ như hoàn toàn chẳng có liên quan gì đến câu hỏi cả.

Chẳng hạn ông ta nói rằng hiện nay giá của một loại rau nào đó là ba xu. Những câu trả lời như vậy thật là phi lý đối với những ai chưa quen với mục đích của Thiền học.

Mục đích chỉ là làm cho người môn sinh hiểu rằng chẳng có câu trả lời nào đối với câu hỏi của y cả. Hiểu được như vậy, y đã hiểu được nhiều lắm rồi.

Nguyên lý thứ nhất là nguyên lý không thể diễn tả được bởi vì cái mà người ta gọi là vô không phải là một vật mà người ta có thể nói được một điều gì đó về nó.

Gọi nó là Tinh thần (hay là Tâm), hoặc đặt cho nó bất cứ tên gọi gì, người ta đã xác định nó và áp đặt cho nó một sự hạn chế. Như các nhà Thiền học và Lão học thường nói, người ta sẽ rơi vào mạng lưới của chữ nghĩa.

Mã tổ (Ma-tson, mất năm 788) dòng Huệ Năng, bị người ta hỏi: "Tại sao ngài lại nói rằng tinh thần thật sự chính là Phật?" (như ta nói Phật tức Tâm). Mã Tổ trả lời: "Tôi đơn giản chỉ muốn ngăn bọn trẻ con hét. Nếu những tiếng hò hét ấy ngừng thì sao? - Lúc bấy giờ là không - tinh thần, không - Phật (non - esprit, non bouddha)2.

Một môn sinh khác lại hỏi Mã Tổ: "Có loại người nào hoàn toàn không quan tâm đến bất cứ vật gì không ? Thầy trả lời : "Chờ đến lúc nào ông có thể uống một tợp cạn tất cả nước của con sông ở phương Tây, lúc bấy giờ tôi sẽ trả lời ông”3.

Tất nhiên việc làm đó là không thể có được và nêu nó lên chẳng qua Mã Tổ ngỏ ý không trả lời môn sinh. Một số Thiền sư dùng sự im lặng để diễn tả cái vô hay là nguyên lý đầu tiên.

Chẳng hạn, khi Huệ Trung (mất 775) bắt đầu tranh luận với một nhà tu hành khác, y leo lên bục và giữ im lặng. Nhà tu hành nói: "Mong ông hãy trình bày luận thuyết của ông để tôi có thể tranh luận".

Huệ Trung trả lời: “Tôi đã đưa luận thuyết của tôi ra rồi đấy”. Nhà tu hành hỏi: “Luận thuyết nào?”. Huệ Trung nói: "Tôi biết rằng nó ở ngoài trí thông minh của ông”. Nói xong, Huệ Trung bước xuống bục4.

Luận thuyết của Huệ Trung là luận thuyết về sự im lặng. Bởi vì nguyên lý thứ nhất hay là vô chẳng phải là một vật mà người ta có thể nói đến bất cứ điều gì, cách tốt nhất để trình bày nó là giữ in lặng. (Về phương diện này, các văn bản hay là Sutras chẳng có mối liên quan thực tế nào với nguyên lý thứ nhất. Vì vậy mà Thiền sư Nghĩa Huyền (Yi-hivan - mất năm 866), người sáng lập ra một nhóm Thiền mang tên là trường phái Lâm tế (Lin-tsi) nói: "Nếu quả là anh muốn có sự thông minh thật thì anh không được để cho bất cứ người nào lừa dối. Anh phải giết tất cả những kẻ nào mà anh gặp, cả bên trong và bên ngoài. Nếu anh gặp Buddha hãy giết chết các bậc thầy... Như vậy anh sẽ được giải phóng”5.


Phương pháp tu hành

Sự hiểu biết nguyên lý là sự hiểu biết phi - hiểu biết (non - connaisance), - do đó phương pháp tu hành cũng là phi - hiểu biết.

Người ta nói rằng Mã Tổ, trước khi trở thành môn sinh của Hoài Nhượng (Honaijong - mất năm 744) sống trên núi Hoành Sơn. Y ở trong một túp lều cô độc và một mình thực hiện sự suy tưởng. Một hôm, Hoài Nhượng xoa xoa mấy viên gạch trước túp lều. Mã Tổ trông thấy, hỏi Hoài Nhượng ông làm cái gì thế. Hoài Nhượng trả lời có ý định muốn làm một chiếc gương. Mã tổ nói: "Xát các viên gạch vào với nhau làm sao lại làm ra được gương? Hoài Nhượng nới: "Nếu xát các viên gạch vào với nhau mà không làm được gương thì làm sao sự suy tưởng có thể làm thành Đức Phật?”.

Với lời nới ấy, Mã Tổ được giác ngộ và trở thành môn sinh của Hoài Nhượng (Cổ Tôn Tú ngữ lục, tập l).

Như vậy theo Thiền học, phương pháp tốt nhất để tu hành và trở thành Phật không phải là tự tu hành.

Tự tu hành đòi hỏi một sự cố gắng, một sự nỗ lực tức là hành động (jeon-vai). Sự cố gắng ấy đúng là sẽ tạo ra một số hiệu quả tốt nhưng hiệu quả ấy không vĩnh cửu. Thiền sư Hi Vận (Hi-yun, mất năm 847) được mọi người biết với cái tên là thầy Hoàng Bá (Houang-po) nói: "Giả định là qua nhiều kiếp sống, một người đã thực hiện được lục độ (phương pháp để đạt được sự cứu rỗi”6 y đã làm điều thiện và đạt đến mức hiền triết của Phật, nhưng điều đó cũng không bền. Bởi cái đó là do nhân quả. Khi sức mạnh của nhân đã khô cạn, con người ấy sẽ trở về với cái không bền vững (không thường xuyên).

Ông ta còn nói rằng "Tất cả mọi hành động chủ yếu đều là không bền vững. Mọi sức mạnh đều có ngày cuối cùng. Chúng giống như chiếc sào nhọn ném vào không trung, khi đã hết lực, nó rơi xuống đất.

Tất cả mọi hành động đều gắn liền với vòng xe tử sinh. Thực hiện sự tự tu luyện bằng các hành động là hiểu sai ý của Phật và là một công việc mệt nhọc mà chẳng đi đến đâu cả”.

Ông bèn nới thêm: "Nếu ông không hiểu thế nào là vô tâm (không có ý định làm cái gì hết), ông sẽ gắn chặt vời các đồ vật và ông sẽ đi vào bế tắc... Thật ra chẳng có gì là phép bồ đề cả. Phật nói điều đó là chỉ dùng cách để dạy chúng sinh thôi... Cách duy nhất để làm là phải tự giải thoát khỏi nghiệp (Karma) cũng khi có hoàn cảnh, chứ không phải tạo nên một Karma mới để dẫn những tai họa mới...


Vậy thì phương pháp tốt nhất để tu luyện tinh thần là làm tròn nhiệm vụ mà không cần phải gắng sức và không có ý đồ nào trong tinh thần. Điều đó đúng như các nhà Lão học (theo thuyết Lão tử) gọi là vô vi và vô tâm (non -agir, non- espnt - won wei và won sia).

Đó là ý nghĩa lý thuyết của Huệ Viễn và cũng là của Đạo Sinh: "Một hành động tốt không kèm theo tiền thưởng?”.

Phương pháp tu luyện này không nhằm để cuối cùng thu được các kết quả, dầu là rất tốt.

Nó nhằm làm những việc mà không đòi hỏi phải cố gắng nào hết. Khi không một hành động nào kéo theo hậu quả các hiệu quả tích lũy từ trước của Karma sẽ khô cạn. Người ta được giải thoát khỏi vong tử sinh và đạt đến Nát bàn.

Hành động không phải có cố gắng nào cả và không có ý đồ trong tâm tưởng thức là hành động một cách tự nhiên và sống một cách tự nhiên.

Nghĩa Huyền (Yi-hinan) nói: "Hoàn tất Phật tính không đòi hỏi phải có cố gắng. Phương pháp duy nhất là tiếp tục các nhiệm vụ bình thường và khiêm tốn: làm cho ruột dễ chịu, tiểu tiện, mặc quần áo, ăn cơm và khi mệt thì nằm nghỉ. Người bình thường sẽ cười anh, nhưng nhà hiền triết thì sẽ hiểu anh"7.

Nhiều người muốn đạt đến Phật tính lại thường không đi theo con đường này bởi vì họ không tự tin. Các ông có muốn biết các bậc thầy và đức Phật như thế nào không? Tất cả các ông đang đứng trước tôi đều là những bậc thầy và những đức Phật.

Do vậy, muốn thực hành tu luyện tinh thần, tất cả những cái ta cần phải làm là, mỗi người thực hiện các nhiệm vụ bình thường của cuộc sống hàng ngày của mình và... chỉ có thể. Đó là điều mà các Thiền sư gọi là vô tu chi tu (tu hành bằng cách không tu hành).

Ở đây có một vấn đề đặt ra: Hãy cứ giả định là như thế, vậy thì người tu hành như thế có gì khác với người không tu hành?

Nếu người thứ hai cũng làm như người thứ nhất thì y cũng sẽ lên Nát bàn và sẽ đến lúc chẳng còn vòng tử sinh nữa.

Đối với câu hỏi này, người ta trả lời: Mặc dầu bận quần áo và ăn uống là những công việc chung và đơn giản, nhưng không dễ gì làm những cái đó với một tinh thần hoàn toàn không có ý đồ, không có động cơ gì và thoát khỏi mọi ràng buộc.

Chẳng hạn có người thích những quần áo lịch sự và ghét những loại quần áo xấu, người ấy sẽ thấy sung sướng khi được mọi người khen ngợi. Đó là những điều ràng buộc.

Các Thiền sư nhấn mạnh rằng sự tu luyện tinh thần không đòi hỏi những hành động gì đặc biệt như những nghi lễ, những bài cầu kinh của một tôn giáo nào đó. Người ta chỉ cần, trong cuộc sống hàng ngày, có tinh thần thanh thản, không bị ràng buộc bởi bất cứ ý đồ gì.

Thoạt đầu, người ta cần phải cố gắng để không có một cố gắng nào hết giống như để quên lãng, trước hết người ta phải nhớ rằng mình cần phải quên lãng.

Về sau, sẽ đến lúc phải gạt bỏ sự cố gắng để không cố gắng làm gì cả và ý đồ không có ý đồ gì cả giống như cuối cùng người ta cũng quên là phải nhớ rằng cần phải quên tất cả.

Phép vô tu chi tu ấy tự nó cũng là một phép tu, giống như sự hiểu biết cái không hiểu biết, ít nhất vẫn là một hình thức của sự hiểu biết. Một sự hiểu biết như vậy khác với sự vô tư nguyên thủy và sự tu luyện bằng việc không tu luyện cũng khác với trạng thái tự nhiên nguyên thủy. Bởi lẽ sự vô tri và cái tự nhiên nguyên thủy đều là những cái thiên nhiên ban cho, trong lúc sự hiểu biết cái không hiểu biết và sự tu luyện bằng cái không tu luyện lại đều là những sản phẩm của tinh thần con người.


Đốn ngộ

Việc tu luyện chẳng cần phải lâu hay mau, tự nó chỉ là một công việc chuẩn bị. Muốn đạt được đến Phật tính sự tu hành phải được thực hiện cho đến giai đoạn chín mùi biểu hiện bằng sự giác ngộ đột xuất (đốn ngộ) giống như bước nhảy vọt qua một hố sâu. Chỉ có sau bước nhẩy ấy, mới đạt được đến Phật tính.

Các thiền sư thường nói sự giác ngộ như vậy cũng giống nhận thức về Đạo. Phổ Nguyên nói là thầy Nam Tuyền (mất năm 830) nói với môn sinh của ông: "Ta không thể xem đạo là một sự hiểu biết và cũng không thể xem là một sự không hiểu biết. Hiểu biết là một ý thức nhất thời còn không hiểu biết là một vô ý thức mù quáng. Nếu anh thực sự hiểu đạo một cách chín chắn, nó giống như một khoảng mênh mông của cái trống rỗng (vide) - như vậy làm sao ta cố tình áp đặt vào đó sự phân biệt giữa thật và giả”8

Nhận thức được Phật cũng như đã là một với nó. Khoảng mênh mông của nó chỉ là một trạng thái, trong đó không có sự phân biệt nào hết cả.

Trong trạng thái ấy, theo các Thiền sư, "hiểu biết và chân lý trở thành không phân biệt được cũng như đồ vật và tinh thần chỉ là một đơn vị duy nhất và lúc bấy giờ sẽ không còn sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể trong thể nghiệm”9.

"Một con người đang uống thuốc có thể biết được nước ấy nóng hay lạnh" (Huệ Năng). Về sau, lời nói này được rất nhiều thiền sư nhắc đến. Qua câu này, họ hiểu là chỉ có người nào đã thể nghiệm sự không phân biệt giữa chủ thể và khách thể mới thực sự hiểu nó là thế nào.

Trong trạng thái ấy, chủ thể đã tách khỏi sự hiểu biết theo nghĩa thông thường bởi vì loại hiểu biết ấy đòi hỏi sự phân biệt giữa người biết và đồ vật được biết.

Nhưng y không phải không hiểu biết bởi vì trạng thái của y khác với trạng thái của kẻ không hiểu biết một cách mù quáng.

Khi một môn sinh đạt đến cương vực của Đốn Ngộ (Illumination subite) cũng là lúc Thiền sư có thể giúp đỡ y một tay. Khi sắp sửa nhảy, thì một sự giúp đỡ nào đó, dầu rất nhỏ, cũng có giá trị lớn. Lúc này, Thiền sư sử dụng cái mà họ gọi là phương pháp "cây gậy hoặc tiếng thét" để giúp môn sinh nhảy sang Đốn ngộ.

Trong các truyền thuyết về thiền học, có những trường hợp Thiền sư hỏi một môn sinh về một vấn đề gì đó, bỗng nhiên y đánh cho môn sinh mấy gậy hoặc thét lên một cái gì đó. Nếu những hành động ấy làm đúng lúc, môn sinh sẽ khắc đạt đến Đốn ngộ. Có thể là hành động bất ngờ của Thiền sư tạo nên một chấn động tâm lý giúp môn sinh đạt đến điều mà y chuẩn bị đã từ lâu.10

Người được Đốn ngộ tự nhiên thấy mọi vấn đề được giải quyết.


Đạt cái không - đạt (Atteindre le non - atteindre).

Đạt đến Đốn ngộ không có nghĩa là đạt đến cái gì mới. Thiền sư Thanh Nguyên (Is`ing yuang) mất năm 1120, nói: "Nếu bây giờ anh hiểu thì trước kia điều anh không hiểu là cái gì? Điều mà trước kia anh hiểu sai là điều mà bây giờ anh được giác ngộ".

Cái hiện thực cũng là cái thuộc về hiện tượng (phénoménal) Thiền học nói: "Ngọn núi là ngọn núi, con sông là con sông”.

Trong trạng thái mơ ta thấy ngọn núi là ngọn núi, con sông là con sông. Nhưng sau khi Đốn ngộ (đã giác ngộ) ta vẫn thấy ngọn núi là ngọn núi và dòng sông là dòng sông.

“Sau khi đã giác ngộ, mọi vật đều thuộc về Phật và chỗ nào cũng có Phật. Người ta kể rằng một nhà tu hành đạo Thiền vào một ngôi đền và nhổ nước bọt vào tượng Phật. Bị mọi người chỉ trích, ông nói: "Tôi nhờ các ông chỉ dùm cho tôi có chỗ nào không có Phật?".11

Như vậy, nhà hiền triết Thiền học sống hoàn toàn như mọi người khác và cũng làm bất cứ việc gì như mọi người khác. Từ bến mê đến cõi giác, y đã để nhân loại ở hai bên kia cõi sinh tử, còn mình thì đi vào cõi hiền triết.

Như sau đó, y cũng phải để trạng thái hiền triết ở lại đằng sau và một lần nữa, lại đi vào cõi sinh tử của nhân loại.

Điều này được nói rõ như sau: "Lên cao thêm một bậc nữa trên ngọn cây tre khoảng một trăm bước". Điều đó có nghĩa là khi đã giác ngộ, người hiền triết còn có việc khác phải làm, thật ra không có gì khác hơn là những điều bình thường của cuộc sống hàng ngày.

Nói như Thiền sư Nam Tuyền: "Sau khi đã biết được bờ bên kia, anh trở lại và sống ở bờ bên này".12

Mặc dầu nhà hiền triết tiếp tục sống của phía bên này, sự hiểu biết của y về bờ bên kia không phải là điều vô ích. Mặc dầu những điều anh làm cũng giống như những điều mà mọi người khác làm nhưng ý nghĩa thì lại khác đối với anh ta.

Điều mà người ta làm không khác gì với những điều mà người ta làm trước kia, chỉ có khác là bản thân con người ấy không còn là con người ấy nữa.

Con người không còn như trước nữa vì, mặc dầu y làm tất cả những điều mà những người khác cùng làm, nhưng y không còn ràng buộc với cái gì nữa hết.

Đó là ý nghĩa của phương châm Thiền học. "Ngày nào cũng ăn nhưng không nuốt một hạt nào cả. Ngày nào cũng mặc quần áo nhưng không đụng đến một sợi vải".13

Một phương châm khác nói: "Xách nước và chặt củi để đốt: đó chính là điều kỳ lạ của Đạo”.

Chúng ta có thể hỏi: Nếu như vậy thì có phải Đạo kỳ diệu phục vụ gia đình và Nhà nước?

Kết luận logic của các học thuyết Thiền học là: Đúng như vậy.

Thế nhưng các Thiền sư không trả lời như vậy.




--------------------------------------------------------------------------------



Tạm dịch. tác giả dịch từ bản Pháp văn nên có ý chưa sát. Có thể tham khảo ở Thiền luận của Suzuki bản dịch của Trúc Thiên
Tạm dịch
Di tăng: Cổ tôn tú ngữ lục, tập 4
Truyền đang lục, tập 5
Cổ tôn tú ngữ lục, tập 4
Sáupâ ramitâs
Cổ tôn tú ngữ lục, tập 4
Cổ tôn tú ngữ lục, tập 13
Cổ tôn tú ngữ lục, tập 32
Theo Cổ tôn tú ngữ lục
Sđd, tập 12
Sđd, tập 12
Sđd