PDA

View Full Version : Phật Giáo - Tuổi Trẻ



xuannam83
08-24-2010, 08:43 AM
Lễ Vu lan, giới trẻ lên chùa 'nhìn' lại mình

Lễ Vu lan vào rằm tháng Bảy hằng năm là dịp con cái thể hiện lòng hiếu thảo với bậc sinh thành. Tạm gác những thú vui thường nhật, giới trẻ náo nức lên chùa mừng ngày Báo hiếu.

Ngày của mẹ cha

Đã ba năm liên tiếp, cứ rằm tháng Bảy là Hồng Yến (ĐH Bách khoa Hà Nội) lại lên chùa dự lễ Vu lan cầu chúc cho cha mẹ được bình an khỏe mạnh. Năm nay cũng vậy, mặc dù trời mưa, Yến vẫn vượt hàng chục cây số đến tham dự lễ Vu lan tổ chức tại thiền viện Sùng Phúc (tổ 10, P. Cự Khối, Q.Long Biên).

Yến quê ở Lâm Đồng, nhà xa nên mỗi năm chỉ về thăm gia đình vào dịp Tết. Ngày Vu lan xa nhà, lên chùa cùng ôn lại sự tích Mục Kiền Liên, hiểu được ý nghĩa của ngày Vu lan, Yến càng thấm thía tình yêu thương của mẹ dành cho mình:

http://giacngo.vn/UserImages/2010/08/23/1/images2022788_1_jpg.jpg

Rất đông các bạn trẻ đến chùa học đạo
để hiểu hơn về đạo lý của người làm con

“Cứ đến ngày này là mình nhớ nhà, nhớ bố mẹ, nhớ các em kinh khủng. Lúc ở nhà mẹ chăm sóc từng li từng tí, nhiều khi mình còn nổi cáu vì mẹ cứ lo lắng không đâu. Giờ sống xa nhà, ốm đau bạn bè cũng chỉ hỏi thăm xã giao mới thấy cần lắm bàn tay của mẹ. Muốn về nhà, ôm mẹ một cái thật chặt thôi cũng đã thỏa lòng”, Yến chia sẻ.

Với người Việt Nam, nhất là người theo đạo Phật, Vu lan là mùa Báo hiếu, một mùa mà con cái nhớ đến công ơn sinh thành của mẹ cha và muốn làm một cái gì tốt đẹp để đền đáp công ơn dưỡng dục. Theo giáo lý Phật giáo, trong ngày này, ai còn mẹ sẽ cài lên áo bông hoa hồng màu đỏ, bố mẹ đã mất thì con cái cài lên ngực bông hoa hồng màu trắng.

Dù không theo đạo Phật, Trần Thị Huyền (THPT Trần Nhân Tông) vẫn lên chùa để nghe sư thầy giảng giải về đạo lý của người làm con, về tình mẫu tử thiêng liêng. Cài lên ngực bông hoa hồng đỏ, Huyền vui sướng, tự hào vì mình còn cha mẹ:

“Đến đây, gặp rất nhiều em nhỏ đeo hoa hồng trắng trước ngực mới nhận ra mình may mắn biết bao khi còn đầy đủ cha mẹ” - Huyền nói.

Ngày ta nhìn lại mình

Lên chùa không chỉ để thắp nén nhang cầu chúc bình an, sức khỏe cho cha mẹ, không gian thoáng đãng, yên tĩnh nơi cửa Phật là lúc các bạn trẻ tĩnh tâm, nhìn lại những gì đã qua.

Đức Anh (ĐH Nông nghiệp Hà Nội) bày tỏ: “Năm đầu xuống đây học, mình tiêu tiền vô tội vạ. Cứ hết là gọi điện về xin mẹ. Mẹ thương mình nên chạy vạy khắp nơi, mẹ bệnh nằm viện cũng không nói cho mình biết. Nhìn lại quãng thời gian ấy mình thấy có lỗi quá”.

http://giacngo.vn/UserImages/2010/08/23/1/images2022795_2_jpg.jpg

Thành tâm cầu nguyện cho cha mẹ

Còn Thu Thủy (CĐ Kinh tế Công nghiệp Hà Nội) nhìn lại thời gian qua chợt thấy mình quá vô tâm với gia đình: “Nhiều khi thấy mình vô tâm quá, mẹ buồn chuyện gì, đang lo lắng chuyện gì mình cũng không biết. Mình có thể nhịn ăn sáng cả tháng trời để mua bằng được album mới của nhóm nhạc mình thích, vậy mà đến sinh nhật mẹ một bó hoa mình cũng chưa từng tặng”.

Nhịp sống hiện đại gấp gáp khiến nhiều bạn trẻ không đủ thời gian quan tâm đến mọi người xung quanh, hay đơn giản là nghiền ngẫm một cuốn sách, lắng nghe một bản nhạc không lời và cảm nhận hết cái hay của nó. Những phút thư thái ở cửa chùa là cơ hội để các bạn trẻ cảm nhận những âm thanh, dư vị của cuộc sống.

"Mọi ngày quay tít với sách vở, bài tập khiến mình cảm thấy hụt hơi. Không gian yên tĩnh, mùi trầm hương thoang thoảng cho mình cảm giác rất thoải mái. Lâu lắm rồi mới được tận hưởng không khí trong lành thế này”, Ngô Quỳnh Vân (Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội) chia sẻ.

Giữa guồng quay vô tận của thời gian, áp lực của cuộc sống hiện đại nhiều thứ đã thay đổi. Dù vậy chữ hiếu muôn đời vẫn giữ nguyên giá trị. Chỉ khi dành nhiều thời gian cho gia đình, ta mới yêu thương và cảm nhận đầy đủ những nhọc nhằn của mẹ.

La Hoàn (ViệtNam net)

(ST)

xuannam83
08-26-2010, 09:13 AM
Thân phận con người

(Bài giảng khóa tu Một ngày an lạc lần thứ 48 tại chùa Phổ Quang, ngày 30-11-2008)

Nói về thân phận con người, có nhiều quan niệm khác nhau; nhưng phần lớn mang tính bi quan, vì cảm thấy con người bị chà đạp, thấp kém, khổ đau. Thật vậy, một số tôn giáo nói rằng con người do Thượng đế tạo ra và Ngài toàn quyền sử dụng con người, hoặc tống người ta vào hỏa ngục, hoặc ân sủng cho lên thiên đường. Đó là quan niệm thứ nhất.
Quan niệm thứ hai thấy con người bé nhỏ giữa vũ trụ bao la, nên luôn lo sợ tất cả, trước mắt là sợ rắn rít, bò cạp đều giết được mình. Và từ tâm sợ hãi với thân phận con người bé nhỏ, yếu đuối, bất lực mà nhìn lên cảm thấy thế giới thần linh bao phủ con người, nên nghĩ rằng con người phải nương tựa vào thần linh, cao nhất là Thượng đế, cho đến mặt trời, mặt trăng, thần sông, thần núi đều có thể che chở mình, hay hại mình. Do đó, phát sinh ra quan niệm thứ ba là sùng bái thần linh. Với những quan niệm như trên, xem con người là sản phẩm của tạo hóa và chỉ là sinh linh bé nhỏ nên con người luôn lo sợ trước tất cả mọi hoàn cảnh xảy ra.
Nhưng may mắn cho loài người, có Đức Phật ra đời và dạy rằng niềm tin như vậy là mê tín, mù quáng, cũng như Vô Não nghe tà đạo bảo giết người thì được lên thiên đường mà cũng tin theo.

http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/09/17/ThienMu_672002344.jpg

Đức Phật nhìn cuộc sống con người với tuệ giác mà Ngài đã chứng đắc và chúng ta nhờ nương theo tuệ giác của Phật chỉ dạy mà phát triển cuộc sống an lành, giải thoát của chính mình. Đó là quan niệm thay đổi lớn lao nhất và tốt đẹp nhất Đức Phật đã đưa cho loài người, Ngài nói rằng con người có thể quyết định tất cả, có thể làm Thượng đế nếu biết tạo cho mình tư cách và khả năng của Thượng đế, hoặc cũng có thể chỉ có mạng sống nhỏ bé nếu tự tạo cho mình thân phận kém cỏi.
Chúng ta có thể nhìn thân phận con người ở hai mặt, vật chất và tâm linh. Nhìn ở dạng vật chất, Đức Phật nói chúng ta có thể phát huy khả năng đến đỉnh cao, tạo dựng được cuộc sống tốt đẹp theo ý mình, tức trở thành Thượng đế. Thật vậy, tổ tiên ông cha của chúng ta ở thời kỳ xa xưa gọi là thời đồ đá, đã biết đập vỡ đá để chế ra những dụng cụ thô sơ như búa, rìu. Nghĩa là về phương diện vật chất, con người đã có lối thoát cho cuộc sống dễ dàng hơn, thể hiện trí khôn con người đã phát sinh.
Đức Phật dạy rằng con người là tối linh, có trí khôn vượt hơn các loài khác; nếu không thông minh, chắc chắn con người không tiến hóa được, mà muôn đời vẫn là con ong, cái kiến. Rõ ràng con người từ thời kỳ sơ khai với thân phận ăn lông ở lỗ đã phát triển cuộc sống lần lần cho đến thời đại văn minh khoa học ngày nay. Điều này cho thấy con người đã tự trải qua cuộc sống tiến hóa do chính đôi tay và khối óc của con người làm nên, chứ con người không phải là sản phẩm của Thượng đế. Chúng ta nhận thấy lời Đức Phật dạy từ nghìn xưa vẫn có giá trị tương ưng với sự hiểu biết của nhân loại ở thời đại văn minh tột bậc ngày nay.
Về sự tiến hóa tâm linh của con người quan trọng hơn, khoa học chưa chứng minh được, nhưng không chối cãi được. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng tâm sinh ra tất cả các pháp. Vì vậy, cần tịnh hóa tâm mình và phát huy năng lực của tâm thành trí tuệ sáng suốt hoàn toàn; đó là việc mà con người thực hiện được. Tâm làm chủ là như vậy.
Theo Phật, có thiện tâm sở và ác tâm sở; còn tâm vương muôn đời không thay đổi. Phật dạy rằng Phật tánh, hay bản tánh sáng suốt của con người vẫn thế, khi chúng ta thành Phật, Phật tánh này không tăng, mà khi chúng ta trầm luân trong sinh tử vì bị nghiệp và phiền não che mờ thì Phật tánh này cũng không giảm.
Khi mang thân ngũ uẩn, chúng ta đã có năm bức màn ngăn che; cho nên Phật dạy phải tháo gỡ lần năm bức màn này. Cứ bớt một phần vô minh là một phần trí tuệ sinh ra và bỏ được hoàn toàn năm bức màn ngăn cách này, chúng ta sáng suốt hoàn toàn. Trên bước đường tu, việc phá vô minh, chứng được Pháp thân thì mỗi người đều khác nhau. Người phá được một phần vô minh là La hán, phá được hai phần vô minh là Bích chi Phật, phá được nhiều hơn nữa là Bồ tát và phá được hoàn toàn vô minh là Phật. Đó chính là sự thăng tiến tâm linh rất quan trọng.
Phá một phần vô minh thành La hán, thành Thánh, nên không phạm sai lầm, không còn tham vọng chi phối, họ không bao giờ có khổ đau và cũng không ai có thể làm họ khổ đau. Vì vậy, chưa đắc La hán chưa ra khỏi sinh tử, chúng ta phải nỗ lực tối đa, không ngừng phát huy đời sống tâm linh để đạt đến mức độ tu chứng này, để không bị trầm luân sinh tử, không bị xã hội chi phối, không bị dục vọng sai khiến. Phá được tụ vô minh thứ nhất là phá được kiến hoặc, mới thành Thánh quả, thấy không sai lầm.

http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/09/17/4ab312f7.jpg

Tôi nghiệm ra ý này. Khi chưa biết tu, thường nghĩ tại sao mình bị nghèo nàn, bệnh hoạn, xấu xí, tại sao thân phận con người lại như vậy. Nếu Thượng đế sinh ra ta như thế thì rõ ràng Ngài bất công. Tại sao ông kia làm tổng thống, còn mình làm nô lệ. Không bằng lòng tình trạng bất công này thì mình nổi giận, chống đối và lao vào việc tội lỗi để mong đạt được kết quả tốt. Và sự chống đối cao nhất của tôi là năm 1963, chống chính phủ Ngô Đình Diệm; nhưng bình tâm nhìn kỹ, thấy phần nhiều việc chống đối đều phát xuất từ lòng sân hận. Đó là điều cấm kỵ nhất đối với người tu hành; vì Phật dạy chúng ta nhẫn, chứ không phải sân. Sân là chúng ta lạc vào cảnh giới của A tu la, phải thọ quả báo. Vì vậy, ít nhất tôi phải bị ba tháng tù. Ở trong khám, tôi nhận ra mình đã đi lệch hướng, bỏ Phật sau lưng mà chạy theo vọng trần. Ở trong trại giam, sống trong cảnh hoàn toàn tối tăm, nhưng tâm tôi đã sáng ra, biết được sai lầm của mình, nên sửa đổi; còn không biết cứ lao theo những việc chống đối khác nữa. Có một thầy nói với tôi rằng ông bị ở tù từ thời Pháp cho tới ngày nay, đến bốn lần. Vị này là tấm gương cho tôi soi rọi lòng mình, tâm mình như thế nào mà ở thời kỳ nào cũng bị tù tội. Chúng ta còn nhớ kinh Địa Tạng nói rằng có những người ở địa ngục này mãn thì qua địa ngục khác, cứ như vậy muôn đời phải đau khổ. Do vậy, kinh Bát Đại Nhân Giác nhắc chúng ta rằng: “Phá địa ngục muôn trùng kiên cố, thoát thành sầu cùng khổ ấm duyên”.

Ai biết phá được cái khổ của thân tứ đại, phá được ngũ ấm sẽ ra khỏi sinh tử. Đức Phật dạy rõ điều này. Chúng ta bị nhốt trong nhà ngũ ấm. Vì vậy, phải phá ngũ ấm, đầu tiên là phá sắc ấm trước. Chúng ta làm sao phát huy tâm linh và đạo đức để không bị vật chất chi phối. Thử ăn mặc đơn giản và sống đạm bạc để xem mình có cần nhiều vật chất hay không. Có người chỉ cần một ít tiền cũng sống được, trong khi có người đòi hỏi vài chục triệu mới đủ sống thì ai hơn ai. Người bị vật chất và tham vọng chi phối quá nặng, bao nhiêu cũng không đủ, nếu biết thoát ly vật chất, họ sẽ được nhẹ lần.

Phá được sắc ấm, chủ yếu là không bị đói khát, nóng lạnh chi phối. Có người hiểu lầm rằng đắc Thánh quả thì thân vật chất không còn bị nóng lạnh đói khát. Không phải như vậy. Người tu nếu nhịn ăn lâu, thân thể cũng bị khô kiệt. Chúng ta thấy những vị Thiền sư đắc đạo không ăn để cho thân khô gầy đến chết, thành xá lợi. Bình thường nhịn lâu hơn 100 ngày thì chết, nhịn uống nước 10 ngày thì chết. Vị Thánh La hán vượt ngoài sống chết, vì đã sống với đời sống tâm linh, thân tứ đại của họ có chết, nhưng đời sống tâm linh không chết. Họ nhập định, không biết đến thân vật chất, vì đã sống được với thân thứ hai là đời sống tâm linh.

Tu hành, bước vào cửa đạo, tức phải có đời sống tâm linh; đừng kẹt vật chất mà muôn đời khổ đau. Để một chân ở vật chất và bước một chân vào tâm linh, thì người này còn ăn uống, nhưng ăn thực phẩm nào cũng được, ngủ qua đêm là xong. Còn kẹt vào việc ăn uống, ăn ngon sẽ sinh tâm vui mừng, ăn dở thì bực bội, khổ sở. Phật nói con người phàm phu hết vui đến khổ là vậy. Theo Phật, chúng ta thoát ly được khổ đau, dù chư Thiên có đem thức ăn đến cho, mình vẫn thấy bình thường.
Còn một chân ở ngoài, nghĩa là chúng ta còn thân tứ đại. Đối với bậc Tổ sư như Ngài Đạt Ma, thân tứ đại ví như chiếc giày rách bỏ lại trong kim quan, Ngài quảy một chiếc về Tây Trúc; nói cách khác, về Tây Trúc với chân linh muôn đời trong sáng hoàn toàn.
Đối với chúng ta, nếu một chân đi vào tâm linh, một chân ở trần thế, thì khi hết duyên hành đạo ở Ta bà, chúng ta rút luôn cái chân ở thế giới này để về cõi chư Thiên hay về Cực lạc tùy theo nhân hạnh mình đã tu tạo được. Vì vậy, thân phận vĩ đại không phải ở trần gian bị lệ thuộc trần gian và chết bị lệ thuộc ma quỷ.

Đầu tiên phá được ngũ ấm, đoạn được kiến hoặc phiền não là mười điều do mắt thấy tai nghe. Đoạn được kiến hoặc thì ví như người gỗ ngắm chim vẽ. Người tu cũng vô tâm như vậy. Thực tập pháp này, tôi cảm giác mình cô độc giữa rừng người. Vì mình vô tâm thì người xung quanh tốt hay xấu, có hại mình, mình cũng không biết; đó là một chân đã bước vào cửa Không.
Bước được một chân vào cửa Không, mới tiếp nhận được tinh ba của pháp Phật, pháp thân chúng ta mới lớn lên. Còn hai chân đứng ở trần thế rất nguy hiểm; vì như vậy, thân bị vật chất trói buộc, tinh thần thì toàn là khổ đau, tham sân si, sẽ dẫn đến cuộc sống sân hận và đòi hỏi của chúng ta mỗi ngày nhiều hơn. Do vậy, những tâm xấu chỉ đạo những việc làm xấu tự phát triển mãi, thì tu lâu vẫn khổ, vì không bước chân được vào đạo. Hòa thượng Thanh Từ nhắc rằng nếu còn ở ngoài cổng chùa sẽ có đủ thứ chuyện; nhưng bước vào cổng chùa là cửa Không, tâm hoàn toàn an lạc.
Trong ngũ uẩn, phá sắc uẩn để đi vào được cửa Không, không bị vật chất chi phối, là có đời sống tâm linh. Nhưng được như vậy rồi, quán sát lại, thấy nghiệp chướng phiền não trần lao dẫy đầy là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến và 20 tùy phiền não là phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.

http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2009/09/17/dong-song.jpg

Trên bước đường tu, tôi quán sát xem trong những phiền não kể trên, có tên nào loại trừ được thì loại bỏ liền; đuổi được một tên giặc ra khỏi tâm mình, liền cảm thấy nhẹ. Phiền não căn bản chưa triệt tiêu được, thì mình đẩy học trò của nó trước, tức là chặt rễ cây và đem 11 thiện tâm sở vào là tín, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại, để mình có đạo quân Hiền Thánh. Thiết nghĩ mình tu hành, không làm cho cuộc đời này tốt thêm thì cũng không nên làm xấu thêm, không giúp được ai thì cũng không nên làm cho người khác đau khổ. Những lỗi lầm quá khứ, kiếp này chúng ta trả, những việc sai lầm hiện tại chúng ta không tạo; như vậy cuộc sống tương lai của chúng ta sẽ được tốt lần, là thăng tiến trên đường đạo.
Thiện tâm sở mà tôi thường thực hiện và phát huy là tâm bất hại. Nghĩa là trên từ Phật, Thánh nhân, cha mẹ, thầy, cho đến loài chúng sinh hạ đẳng như con kiến, con muỗi, mình cũng không làm tổn hại. Khi thiện tâm sở của chúng ta sinh ra được như vậy, sẽ thấy cái gì cũng dễ thương, muôn loài đều đáng thương, cần được chúng ta giúp đỡ. Từ đó, tâm từ bi của chúng ta nảy sinh được thì Phật hộ niệm cho chúng ta. Còn chúng ta mong Phật gia hộ, nhưng mình không có tâm nào giống Phật, làm sao Phật phò hộ được; ví như hai khối kim loại ráp với nhau mới truyền điện được, một khúc gỗ và miếng kim loại nối với nhau thì điện không thể truyền qua được. Chúng ta không có tâm thương người, làm thế nào tình thương của Phật truyền đến mình được. Vì vậy, tu hành trên nền tảng của tâm bất hại, chúng ta mới phát huy được đức tính tốt của mình.
Đối với tâm tham, sân, si thì luyện cho được vô tham, vô sân, vô si. Để không tham, Phật dạy phải xả, là bỏ bớt. Phật bỏ tất cả để được tất cả; chúng ta bỏ một phần thì được một phần, bỏ nhiều thì được nhiều, còn cố giữ thì sẽ bị mất trắng. Nhận thức như vậy, chúng ta không khởi vọng tâm tham đắm; vì tham những gì không phải của mình sẽ khổ nhiều, không thấy đúng hoàn cảnh của mình mà muốn làm trên sức mình, phải thất bại. Người đời cũng thường nói: Chim tham ăn sa vào lưới/ Cá tham mồi mắc phải lưỡi câu.
Chúng ta đã vượt được kiếp cầm thú, mang thân người là có điều kiện tu hành, phải nhân cơ hội tốt đẹp của con người để phát huy lên ở tầng cao hơn. Không tham thì bước đầu trong cuộc sống, cái gì của ta, ta giữ; không phải của ta, ta bỏ. Thậm chí, cái của ta dù có bỏ vẫn là của ta; không phải của ta mà cố giữ cũng mất.

Cái của ta là tình thương chân thật giữa người và người, giữa người và vật. Mình thương ai thì họ sẽ thương lại mình. Mình không thương người mà muốn người thương mình, hoặc có tham vọng bắt người làm nô lệ, làm sao được. Phải trải rộng tình thương. Không phải phước của mình mà ép cho thành của mình, không thể nào giữ được. Thực tế cho thấy nhà giàu năm thê bảy thiếp, nhưng đó là dục vọng, không phải tình thương chân thật, nên họ luôn bị khổ đau.
Đức vua Trần Nhân Tông ra lịnh thả tất cả cung phi mỹ nữ hầu hạ ông và cung cấp tiền bạc, tạo điều kiện cho họ trở về lập gia đình. Đối với Ngài, những thứ đó không cần, Ngài bỏ một cách nhẹ nhàng và khoác áo Sa môn, sống cuộc đời thanh đạm, một y một bát, nhưng khuyến hóa được mọi người. Sống đúng theo tinh thần Phật dạy, Ngài đắc đạo và phát huy trí tuệ. Ngài vừa là bậc minh vương, vừa là vị anh hùng của dân tộc và trở thành vị Tổ thật sự của chúng ta. Thật vậy, Ngài viên tịch đã 700 năm, nhưng uy đức của Ngài đã tác động cho Giáo hội chúng ta và Nhà nước kết hợp tổ chức cuộc lễ kỷ niệm ngày Đức vua Niết bàn rất long trọng có gần 1.000 bài phát biểu. Hầu như mọi bài đều ca ngợi Đức vua Trần Nhân Tông về công đức tu hành, về việc trị nước lo cho dân hoàn toàn tốt đẹp. Vì vậy, Giáo hội chúng ta đề nghị mỗi chùa ở đất nước chúng ta nên thờ Đức vua Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông là vị Tổ duy nhất người Việt Nam. Thiết nghĩ chúng ta là người Việt Nam thì tôn thờ vị Tổ Việt Nam là điều hợp lý và Đức vua Trần Nhân Tông quả là bậc đầy đủ trí tuệ và hạnh đức xứng đáng để chúng ta tôn thờ là vị Tổ sư của chúng ta. Người Nhật cũng chỉ thờ các vị Tổ người Nhật, như Pháp Hoa tông thờ Ngài Tối Trừng, Chân ngôn tông thờ Ngài Đạo Nguyên, Tịnh độ tông thời Ngài Pháp Nhiên.

Đức Phật Thích Ca là một ứng Phật hiện hữu trong loài người và tu hành đắc đạo. Bước theo dấu chân Phật, quán sát xem Đức Phật Thích Ca Niết bàn, Ngài về đâu, theo dấu vết đó mà chúng ta trở về với Đức Phật vĩnh hằng bất tử, không phải trở về với Phật sanh diệt. Ngài không còn là Thích Ca, nhưng Ngài là bậc toàn năng, toàn giác và tĩnh lặng hiện hữu trong pháp giới. Nhận thức như vậy để chúng ta phát huy trí giác của mình, thăng hoa cuộc sống trầm mặc của mình, để tiếp cận được với Đức Phật vĩnh hằng bất tử ngay trên thế gian này và trở về thế giới chơn thường của Ngài sau khi xả bỏ thân tứ đại này.
Tóm lại, với thân phận con người bình thường, chúng ta phát huy đến đỉnh cao theo Phật để trở thành người toàn năng tự quyết định vận mạng của mình và thế giới mình đang sống theo hướng hoàn toàn tốt đẹp, cũng giống như Đức Phật Di Đà từ con người vươn lên, phát huy trọn vẹn tâm từ bi và phước đức trí tuệ mới xây dựng được thế giới Cực lạc.
Dù tu theo pháp môn nào, chúng ta cũng phải phát huy năng lực theo tinh thần Phật dạy để đạt được quả vị như Phật, như Tổ. Đặt nền tảng thăng hoa tuệ giác và đức hạnh trên bước đường xả kỷ vị tha, thì thân phận con người theo đạo Phật không còn nhỏ bé, nhưng tất cả mọi người đều có thể trở thành Phật, bậc toàn trí, toàn năng, toàn thiện mang đến cuộc sống thật sự an lạc, phát triển, hòa bình cho nhân loại trên trái đất này.

HT.THÍCH TRÍ QUẢNG

(ST)

xuannam83
09-13-2010, 04:14 PM
Vấn đề tự tử nhìn từ góc độ Tâm lý học & Phật học

Tất cả mọi người sống trong cõi đời này đều không dưới một lần nếm trải mùi vị của khổ đau. Và không ít người đã phải đối diện với những nỗi đau khổ cùng cực, dường như không còn lối thoát. Trong tình cảnh đó, một số người đã tìm đến cái chết - tự tử - xem như đấy là giải pháp duy nhất mà họ có thể chọn để thoát khỏi tình cảnh đen tối trong hiện tại.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có hơn 1.500.000 người tự tử, và tự tử đứng hàng thứ 10 trong số những nguyên nhân dẫn đến tử vong trên thế giới. Đặc biệt, đối với độ tuổi thanh thiếu niên và người lớn dưới 35 tuổi, tự tử là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong. Hiện tượng tự tử đã xảy ra từ thời xa xưa, và trong thời đại ngày nay, tỷ lệ tử vong do tự tử ngày càng tăng cao.

http://www.giacngo.vn/UserImages/2010/09/12/1/_yeuanhho.jpg

Tự tử là một hành động cố ý giết hại bản thân, cố ý cướp đi sinh mạng của chính mình. Mạng sống rất quan trọng. Tất cả mọi người đều muốn sống, đều mưu cầu hạnh phúc. Vậy thì tại sao lại có những người tự mình tìm đến cái chết, tự mình kết liễu sinh mạng của mình như thế? Tâm lý học và Phật giáo nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Liệu tâm lý học và Phật giáo có thể đưa ra những giải pháp nào hay để giải quyết cho vấn nạn này?

Quan điểm của tâm lý học về tự tử
Trong tâm lý học có nhiều quan điểm, nhiều khái niệm khác nhau về tự tử.

Theo nhà tâm lý học người Mỹ, Edwin Shneidman, tự tử là hành động tự làm tổn thương, cố ý chấm dứt sinh mạng của bản thân. Tự tử không phải là một chứng bệnh (mặc dầu có nhiều người nghĩ thế); tự tử không phải là do sự bất bình thường về mặt sinh học; nó cũng không phải là một hành động vô đạo đức, và không phải là một hành vi phạm pháp trong hầu hết các quốc gia trên thế giới (mặc dầu đã nhiều thế kỷ, ở nhiều quốc gia, người ta cho rằng tự tử là một hành vi phạm pháp)(1).

Charles Bagg, một chuyên gia tâm lý người Anh, cho rằng, tự tử là hành động cướp đi sinh mạng của bản thân một cách có chủ tâm, và hành động này có thể là hậu quả của những chứng bệnh tâm thần và cũng có thể là hậu quả của những động cơ khác nhau; những động cơ này không nhất thiết phải liên quan đến các chứng bệnh tâm thần, nhưng chúng mạnh hơn cả bản năng sinh tồn của con người(2).

Walter Hurst, nhà tâm lý học người New Zealand, cho rằng việc đưa ra quyết định tự tử thường bị thúc đẩy bởi ý muốn chấm dứt sự sống hơn là muốn chết. Tự tử là một sự lựa chọn quả quyết khi phải đối diện với một nỗi đau khổ cùng cực, dường như vượt quá mức chịu đựng của cá nhân và tự thân không thể nào giải quyết được.

Nhà tâm lý học người Ba Lan, Tadeusz Kielanowski, cho rằng tự tử là một quyết định bi thảm của một người khi họ không thấy người nào đưa tay ra giúp đỡ họ.

Trong cuốn sách Definition of Suicide (định nghĩa về tự tử) xuất bản năm 1985, Edwin Shneidman đã định nghĩa tự tử như sau: Tự tử là một hành động tự kết liễu sự sống của bản thân một cách có ý thức. Ở đấy, người ta phải đối mặt với một tình cảnh vô cùng khó khăn, phức tạp và họ nhận thấy rằng tự tử là giải pháp tốt nhất để giải quyết khó khăn đó(3).

Nguyên nhân dẫn đến tự tử

Khi nghiên cứu về các tác nhân có nguy cơ cao đối với hành vi tự tử, các nhà tâm lý học đã nhận ra nhiều căn nguyên dẫn đến hành vi này.

Nhân tố quan trọng nhất và dẫn đến nguy cơ tự tử cao nhất là các chứng bệnh về tâm lý, những rối loạn tinh thần, chẳng hạn như bị bệnh tâm thần phân liệt, bị trầm cảm nặng, bị chứng rối loạn lưỡng cực (lúc thì vui đến phát cuồng, lúc thì buồn đến mức suy sụp tinh thần), bị sang chấn tâm lý mạnh (có thể là do mất đi người thân yêu nhất, do bị chối bỏ, bị hắt hủi,…).

Lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân phổ biến thứ hai của việc tự tử. Việc lạm dụng các chất kích thích trong thời gian ngắn cũng như trong thời gian dài đều làm nguy cơ tự tử tăng lên. Hơn 50% số người tự tử có dính líu đến việc sử dụng bia rượu và ma túy. Hơn 25% số người nghiện ma túy và nghiện rượu tự tử. Trong lứa tuổi vị thành niên, việc lạm dụng bia rượu và ma túy chiếm tỷ lệ 70% số trẻ vị thành niên tự tử(4).

Tiếp theo là những nguyên nhân do các chứng bệnh về sinh lý, như bị mắc phải các chứng bệnh nan y, bị khuyết tật hoặc bị mất khả năng vận động do tai nạn đột ngột gây ra,… Não bộ bị thương tổn, hoạt động kém hiệu quả ở một vài chức năng nào đó cũng dễ dẫn đến việc tự tử. Những thương tổn sinh lý này gây ra thiểu năng trong quá trình nhận thức và ảnh hưởng đến các hoạt động sống, các quan hệ xã hội của người bệnh, chúng tác động ngược trở lại với xúc cảm, tình cảm, tâm trạng,… của người bệnh, khiến cho nguy cơ tự tử của người bệnh tăng cao.

Và cuối cùng là những tác nhân thuộc về môi trường xã hội. Qua các nghiên cứu và thống kê cho thấy, có những trường hợp tự tử xảy ra do những tác nhân, những sự kiện bên ngoài, những ảnh hưởng từ phía xã hội, chẳng hạn như bị người yêu chối bỏ, bị thầy cô giáo phạt, bị bạn bè trêu chọc, bị quấy rối, bị lạm dụng tình dục, bị cưỡng hiếp, bị cha mẹ trách mắng, bị mất cha hay mẹ, cha mẹ ly hôn, bị mất việc, bị sạt nghiệp, bị vỡ nợ, bị phản bội,… Đôi khi nhiều thanh thiếu niên tử tử vì một nguyên nhân rất lạ đời, như thần tượng của họ (ngôi sao ca nhạc, ngôi sao điện ảnh, người mẫu thời trang,…) bị chết hoặc tự tử, dẫn đến việc họ quyết định chết theo.

Biện pháp ngăn ngừa sự tự tử

Với những quan điểm, luận thuyết và những kết quả nghiên cứu về vấn đề tự tử như thế, các nhà tâm lý học đã đề xuất các giải pháp để ngăn ngừa sự tự tử trong xã hội, cụ thể như sau:

- Tuyển chọn và đào tạo các nhóm tình nguyện viên để phục vụ việc tư vấn các vấn đề liên quan đến tính riêng tư của cá nhân.

- Nâng cao khả năng phục hồi tinh thần thông qua cách tư duy tích cực và các mối quan hệ xã hội.

- Giáo dục về sự tự tử, bao gồm cả những tác nhân có nguy cơ, những dấu hiệu cảnh báo, và khả năng sẵn sàng hỗ trợ.

- Nâng cao hiệu quả của các dịch vụ y tế và phúc lợi xã hội. Nâng cao chất lượng đào tạo các chuyên viên y tế và thành lập các trung tâm tư vấn cho những người bị khủng hoảng.

- Hạn chế vấn đề bạo lực trong gia đình, nhà trường và xã hội. Hạn chế việc lạm dụng các chất kích thích để giảm bớt những vấn đề rắc rối về sức khỏe tinh thần.

- Hạn chế khả năng tiếp cận dễ dàng đối với những phương tiện dùng để tự tử.

- Can thiệp trực tiếp đến những nhóm đối tượng có nguy cơ tự tử cao.

Bên cạnh đó, đứng về phương diện chuyên môn, các chuyên gia tâm lý còn áp dụng các liệu pháp tâm lý để hỗ trợ nhằm ngăn ngừa, hạn chế tự tử. Cụ thể là sử dụng Liệu pháp tâm lý nhóm, thông qua đó các chuyên gia tâm lý giúp cho những người có ý muốn tự tử có được những kỹ năng sống cơ bản trong đời sống hàng ngày, như giúp cho người có nguy cơ tự tử nhận thức được những quyền cá nhân cơ bản của họ, hình thành cho họ những kỹ năng xoa dịu các xúc cảm, thiết lập những ranh giới trong các mối quan hệ xã hội, tham gia các hoạt động giải trí lành mạnh, và hình thành những kỹ năng giải quyết các vấn đề khó khăn của cuộc sống.

Quan điểm của Phật giáo về tự tử

Theo Phật giáo, để đánh giá tính chất của một hành động, không chỉ dựa vào những biểu hiện bên ngoài, mà còn phải căn cứ vào động cơ, yếu tố tâm lý bên trong. Đức Phật dạy rằng: "Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nói năng và hành động với tâm thanh tịnh thì sự an lạc sẽ theo ta như bóng không rời hình. Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác. Nói năng và hành động với tâm ô nhiễm thì sự khổ sẽ theo ta như bánh xe lăn theo chân con vật kéo." (Kinh Pháp Cú, kệ 01 - 02). Do vậy, đánh giá tính chất của hành động tự tử cũng dựa theo nguyên tắc này.

Nếu như người nào chịu hy sinh thân mạng của mình để đem lại an vui, hạnh phúc cho số đông, cho tập thể, và họ chết trong tâm trạng an nhiên, tự tại, không hề bị khổ đau bức ngặt, không hề lo sợ, thì đấy là một sự hy sinh vĩ đại, được mọi người ca tụng. Điển hình cho trường hợp này là hình ảnh các vị tu sĩ Phật giáo Việt Nam đã tự thiêu trong năm 1963 nhằm đòi lại sự công bằng, tự do và bình đẳng cho tín đồ Phật giáo nói riêng và cho nhân dân Việt Nam nói chung. Họ hy sinh để cho đất nước được yên bình, cho mọi người được ấm no, hạnh phúc. Hành động của họ được ví như hành động của bậc Bồ tát, xả thân vì tương lai của đạo pháp, vì lợi ích của mọi người. Hoặc như trong kinh điển đề cập đến một vị Tỳ kheo trẻ tuổi đã tự tử để giữ gìn phạm hạnh của mình khi bị một người nữ cưỡng ép quan hệ chăn gối với cô ta. Vị này biết rõ rằng nếu mình chịu quan hệ thì sẽ vi phạm giới luật; nhưng nếu không chịu quan hệ thì cô ta sẽ vu khống rằng mình đã có những hành vi tồi bại. Vì thế, để giải quyết tình cảnh bế tắc này mà không phạm giới, vị ấy quyết định tự kết liễu đời mình. Suy nghĩ như thế rồi, vị ấy giả vờ đồng ý và bảo cô đợi một chút. Vị Tỳ kheo vào phòng trong, đóng cửa và tự đâm vào cổ họng mà chết. Trước khi tắt thở, vị ấy kính lễ mười phương Tam bảo rồi dùng máu của mình viết lên vách mấy chữ như sau: "Vì tôn kính Tam bảo và gìn giữ giới hạnh mà con quyết định từ bỏ thân này". Đây cũng là một sự hy sinh cao cả, chấp nhận hy sinh để bảo tồn uy danh cho ba ngôi Tam bảo, để giữ gìn giới thân huệ mạng của mình.

http://www.giacngo.vn/UserImages/2010/09/12/1/vande.jpg

Tuy nhiên, những trường hợp hy sinh như thế là rất hiếm. Vấn đề cần bàn là đối với những trường hợp tự tử với tâm tiêu cực. Hầu hết những người tự tử đều mang tâm trạng khổ đau cùng cực, đều hoang mang, lo sợ. Họ tự tử không phải vì muốn chết mà là muốn trốn chạy khổ đau trong hiện tại. Tự tử đối với họ xem như là một lối thoát, một giải pháp cho tình cảnh bế tắc của bản thân. Hành động này hoàn toàn đi ngược lại với tinh thần của đạo Phật. Đức Phật dạy rằng: "Thân người khó được". Được làm thân người là một diễm phúc vô cùng lớn, một khi bị mất đi thì không biết đời nào mới được sinh làm người trở lại. Dẫu biết rằng tấm thân năm uẩn này là giả tạm, nhưng cần phải nương vào thân này, dùng thân này làm phương tiện để tu thân hành thiện, để tịnh hóa thân tâm và tu tạo các công đức. Nếu hủy diệt thân này thì biết lấy gì để làm phương tiện tu tập. Chính vì vậy mà Đức Phật đã chế giới không sát sanh, trong đó quan trọng nhất là không được giết hại sinh mạng con người. Nếu ai phạm vào giới này thì xem như là người bỏ đi, vì họ không còn chút từ tâm, không có lòng trắc ẩn, không còn có cơ may chuyển hóa. Liên quan đến giới không sát sanh, trong Luật tứ phần có đề cập đến trường hợp các vị Tỳ kheo sau khi nghe Đức Phật dạy phép quán thân bất tịnh, do hiểu chưa thấu đáo chủ ý của Đức Phật về phép quán này, nên họ sinh tâm nhàm tởm thân mạng rồi có vị thì tự sát, có vị thì nhờ người khác đoạn thân mạng mình. Đức Phật dạy phép quán bất tịnh là để đoạn trừ lòng tham ái, nhất là luyến ái thân thể của mình hoặc của người khác. Biết được sự việc này, Đức Phật đã nhóm họp chúng Tỳ kheo và dạy rằng: "Việc làm của các vị ấy là sai quấy, chẳng phải oai nghi, chẳng phải pháp của Sa môn, chẳng phải tịnh hạnh, chẳng phải hạnh tùy thuận, là việc không nên làm. Làm sao các Tỳ kheo ấy lại ngu si mà dứt mạng lẫn nhau? Các Tỳ kheo ấy là những người ngu si, là nơi trồng nhiều giống hữu lậu, là những người đầu tiên phạm giới này". Nhân đấy mà Đức Thế Tôn chế giới không được sát sanh: "Tỳ kheo nào cố ý tự tay dứt sinh mạng người, cầm dao đưa người, khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết, nói: ‘Này nam tử, ích gì cuộc sống xấu ác này, thà chết còn hơn sống!’ Với tâm tư duy như vậy, dùng mọi phương tiện khen ngợi sự chết, khuyến khích cho chết; Tỳ kheo ấy là kẻ ba-la-di, không được sống chung"(5). Qua đây, chúng ta thấy rõ lập trường, quan điểm của Đức Phật về vấn đề giết hại sinh mạng, dù là sinh mạng của chính mình hay của người khác, dù cho tự mình giết, hỗ trợ người khác giết, khen ngợi việc giết hại, khuyến khích người khác tìm đến cái chết đều phạm tội ba-la-di, một trong bốn trọng tội của một vị tu sĩ.

Hơn nữa, giải quyết vấn đề khó khăn bằng cách chạy trốn, bằng cách tự tử không phải là một giải pháp hay. Đức Phật khuyên mọi người nên đối diện với hiện thực cuộc sống, đối diện với những khó khăn, những khổ đau của mình để tìm ra giải pháp giải quyết một cách triệt để chứ không nên trốn chạy. Tự tử không giải quyết được vấn đề. Nếu sự khổ đau ấy là do nghiệp nhân chúng ta đã tạo trong quá khứ, bây giờ phải trả quả thì trốn chạy không phải là cách tốt, vì chỉ có thể trốn chạy một lần chứ không thể trốn chạy mãi được, chi bằng chúng ta đối diện với quả khổ ấy để rồi tìm cách chuyển hóa, như thế mới có cơ may chuyển được nghiệp khổ. Đấy là chưa kể khi tự tử, do cận tử nghiệp không tốt nên khiến cho người tự tử rất dễ bị đọa lạc vào những chốn khổ đau, u tối.

Về nguyên nhân đưa đến tự tử, tất cả các trường hợp tự tử với tâm trạng bi quan, tiêu cực đều là do họ bị lâm vào tình cảnh khổ đau cùng cực, không còn lối thoát nào khác. Khổ đau ấy có thể do mong cầu mà không được toại ý; do không làm chủ được cảm xúc, suy nghĩ thiếu chín chắn nên đã dẫn đến hành động nông nổi; do tự ái cá nhân quá cao nên khi bị người khác xem thường, khinh bỉ, khước từ hoặc làm nhục thì bị hụt hẫng, bị sốc cho nên tìm đến cái chết; hay là do lối sống trụy lạc, dẫn đến bị nghiện ngập; cũng có thể là do các chứng bệnh nan y giày vò thể xác lẫn tinh thần; hoặc bị các chứng bệnh tâm lý như là: bị stress nặng, bị trầm cảm nghiêm trọng, bị sang chấn tâm lý… Như vậy, đứng về góc độ Phật giáo, có thể kết luận nguyên nhân của tự tử là do nhiều lòng tham ái, do chấp ngã, sống thiếu chánh niệm, hoặc sâu xa hơn là do các nghiệp nhân bất thiện đã tạo ra trong quá khứ.

Đóng góp của Phật giáo cho việc giải quyết vấn nạn tự tử

Trước hết, chúng ta dễ dàng nhận thấy năm giới căn bản của Phật giáo (không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối trá, không dùng các chất kích thích) góp phần quan trọng trong việc ngăn ngừa và hạn chế nguy cơ dẫn đến tự tử. Trong đó, trực tiếp nhất là giới không sát sanh và không dùng các chất kích thích. Như trên chúng ta đã thấy, lạm dụng các chất kích thích là nguyên nhân xếp hàng thứ hai trong số những nguyên nhân chính dẫn đến tự tử. Nếu một người biết tuân thủ giới không sử dụng các chất kích thích mà Đức Phật đã chế định thì sẽ giảm đi rất nhiều các nguy cơ dẫn đến tự tử. Đối với giới không sát sanh cũng thế, nếu mọi người đều tuân thủ giới không sát sanh thì sẽ không xảy ra tự tử, vì ai cũng biết trân quý thân mạng, không nỡ hại người, hại mình. Còn vấn đề trộm cắp, quan hệ tình dục bất chính, nói những lời dối trá, thêu dệt, xuyên tạc sự thật cũng có thể xem là những tác nhân gián tiếp dẫn đến tự tử. Nếu như tuân thủ giới không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối trá thì có nghĩa là chúng ta đã hạn chế được các tác nhân gián tiếp ấy.

Lối sống "ít ham muốn, biết vừa đủ" cũng là một phương pháp tích cực để ngăn ngừa các tác nhân dẫn đến nguy cơ tự tử. Một khi con người biết áp dụng lối sống ít ham muốn, biết vừa đủ thì sẽ ít mong cầu, không chạy theo những thú vui trần tục, không bị những khoái cảm của các giác quan sai khiến, nhờ vậy mà cuộc sống được thăng bằng hơn, ít đau khổ hơn. Càng nhiều ham muốn thì càng đau khổ nhiều, ít ham muốn thì sẽ ít khổ đau.

Khiêm hạ là một phẩm chất đạo đức tốt, người nào biết thực tập đức khiêm hạ thì người ấy sẽ hạn chế rất nhiều các nguy cơ dẫn đến tự tử. Tại vì, khi mình biết khiêm hạ thì tâm mình ít bị dao động khi bị người khác chê bai hay ruồng bỏ; khi biết khiêm hạ thì dù có được người khác tâng bốc, lòng mình vẫn bình thản, cho nên không dễ dàng bị người khác lợi dụng, không dễ dàng bị người khác dẫn dắt để làm những việc tổn hại đến thanh danh, đạo đức của mình, tổn hại đến người khác. Do vậy mà mình sẽ ít phạm lỗi lầm hơn, ít khi phải sống trong tâm trạng bị lương tâm cắn rứt, bị dằn vặt đau khổ. Một khi biết sống với tâm khiêm hạ thì chúng ta luôn biết nhìn lên những người hơn mình để phấn đấu vươn lên, để sống tinh tấn hơn; đồng thời biết nhìn xuống những người kém may mắn hơn mình để tự biết rằng mình vẫn còn nhiều hạnh phúc, biết cảm thông và sẻ chia với người khác. Chính vì biết nhìn lên và nhìn xuống như thế, cho nên nếu không may lâm vào tình cảnh éo le, khổ đau cùng cực, mình cũng vẫn luôn lạc quan, tin tưởng, vẫn nuôi hy vọng về một ngày mai tươi sáng, vẫn cảm thấy mình còn hạnh phúc và may mắn hơn nhiều người, và phấn đấu để vượt qua chứ không quá bi thương, tuyệt vọng. Nhờ vậy mà ý niệm quyên sinh để thoát khỏi khổ đau không hề khởi lên trong tâm thức.

Các phương pháp thiền định và lối sống chánh niệm là một trong những phương pháp quan trọng của Phật giáo góp phần tích cực vào việc ngăn ngừa và hạn chế các nguy cơ tự tử, đồng thời góp phần điều hòa và chữa trị những tổn thương tinh thần do hành động tự tử gây ra cho chính nạn nhân cũng như cho người thân của họ. Trước hết, việc thực tập thiền định và sống chánh niệm sẽ giúp cho con người có được sự cân bằng tâm trí, nhận thức và đánh giá vấn đề đúng đắn, phù hợp hơn, đủ tỉnh táo và nhanh nhạy để đưa ra những giải pháp hiệu quả cho việc giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống. Bên cạnh đó, thực tập thiền định và sống chánh niệm còn giúp cho hành giả làm chủ được xúc cảm của bản thân, nhờ vậy mà rất hiếm khi xảy ra những hành động bột phát, thiếu suy nghĩ. Không những thế, thiền định còn là một liệu pháp thư giãn rất hiệu quả, giúp giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống, không để cho những căng thẳng, những cảm xúc tiêu cực tích tụ trong thân tâm ngày này qua ngày khác để rồi dẫn đến những hệ lụy đáng tiếc.

Thêm vào đó, nếp sống hiền thiện mà Đức Phật dạy còn là một phương pháp vô cùng hiệu quả trong việc ngăn ngừa và hạn chế tự tử. Nguyên nhân chính dẫn con người đến quyết định tự tử là do khổ đau cùng cực, không còn lối thoát. Nếu biết sống hiền thiện, gieo các nhân lành thì chắc chắn sẽ gặt hái được quả lành, cuộc sống sẽ không bị đẩy vào những tình cảnh bi đát, tuyệt vọng. Hoặc giả nếu có bị lâm vào tình cảnh khốn khó thì cũng sẽ gặp được những con đường thoát hiểm, hoặc là được người khác cứu giúp, không đến nổi phải tìm đến cái chết. Hơn nữa, nếu chúng ta sống một cuộc sống hiền lương, đối xử thân thiện, có tình có nghĩa với mọi người thì sẽ được mọi người quý mến và đối xử tốt với mình, do vậy mà mình không có kết oán, gây thù với ai. Không có oán thù với ai thì đâu đến nỗi phải lâm vào cảnh bi đát, tuyệt vọng, đâu phải ôm hận trong lòng. Đã không bị lâm vào cảnh khốn cùng, không đến nỗi hoàn toàn tuyệt vọng thì không có ai muốn kết liễu sinh mạng của mình cả.

Ngày nay, thế giới hiện đại đang dần dần khám phá ra những giá trị vô cùng quý báu của đạo Phật để giải quyết những vấn nạn của xã hội, nhất là các nhà tâm lý học, họ đã phát hiện được khả năng trị liệu các chứng bệnh tâm lý, những rối loạn tinh thần rất hiệu quả từ trong kho tàng giáo lý của đạo Phật. Mong sao kho tàng giáo pháp quý báu của đạo Phật ngày càng được nhiều người biết đến và chuyên cần áp dụng vào trong đời sống của bản thân để chuyển hóa khổ đau, để sống hạnh phúc, an lành.

Quảng Trí

(1) Antoon A. Leenaars (2004), Psychotherapy with suicidal people, John Wiley & Sons, New Delhi, p.3. (2) Antoon A. Leenaars (2004), Psychotherapy with suicidal people, John Wiley & Sons, New Delhi, p.3. (3) Shneidman, E. (1985), Definition of suicide, John Wiley & Sons, New York, p.203. (4) Miller, NS; Mahler, JC; Gold, MS (1991), Suicide risk associated with drug and alcohol dependence, Journal of addictive diseases, No.10 (3): 49-61. (5) Tỳ kheo Thích Đổng Minh dịch, Luật tứ phần, tập I, NXB. Phương Đông, tr.56.

(ST)

xuannam83
09-14-2010, 02:34 PM
Công đức ăn chay

http://www.giacngo.vn/UserImages/1/2008/06/20/tranh%20ve.jpg

Cố Thuận Chi là một người hiền đức, chuyên ăn chay. Một hôm ông nằm ngủ, rồi ngủ luôn một giấc suốt bảy ngày đêm, khiến cho người nhà phải một phen hú vía
Sau khi tỉnh giấc, ông thuật lại với mọi người trong nhà: “Quả thực là một cuộc hành trình vô cùng ý nghĩa! Đêm ấy, ta đang nằm ngủ mơ màng thì thấy có người đến gọi: Đã ngủ rồi sao? Hóa ra đó là Pháp sư Đạo Quang, vị Đại sư mà hàng ngày ta luôn kính trọng. Ngài nói: Cố cư sĩ, chúng ta hãy đi nghe kinh nhé! Tự nhiên ta cảm thấy vô cùng thích thú, liền đáp: Đi thì đi!
Thế là cùng đi đến một đạo tràng rất to lớn rộng rãi, trang nghiêm sạch sẽ và có khá đông thính chúng đến nghe kinh. Pháp đường phía trước thì giảng kinh Kim Cương, còn pháp đường phía sau thì giảng kinh Báo Ân.

Vị cao tăng giảng kinh Báo Ân đến lúc kết thúc dạy rằng: Các cư sĩ tại gia ăn thịt thì điều cần nhất phải giữ giới sát sinh, một là để siêu độ cho cha mẹ, hai là để tiêu trừ tội nghiệp của chính mình. Còn những Phật tử có đạo tâm từng ăn chay thì phải cố gắng giữ gìn kiên định.
Kế đến Pháp sư Đạo Quang dẫn ta đi đến một nơi mà vừa mới chạm mắt đã phải kinh hồn, đó là một cái hồ máu!

Ở chính giữa hồ máu có một người đàn bà khóc la thảm thiết, trên thân bà thì vô số những con ốc, con giun đang bò qua, bò lại. Pháp sư giảng giải một cách rõ rằng: Thân mẫu hiện tại của ngươi nhờ công đức ăn chay, làm phước nên được cứu độ, còn người trong hồ ấy chính là thân mẫu trong đời quá khứ của ngươi, vì bà ta thích ăn thịt vịt nên mới ra nông nỗi ấy! Nếu ngươi muốn cứu độ bà thoát khỏi khổ báo thì hãy cố gắng tụng chú Đại bi và Vãng sanh.
Đó chính là giấc mộng vừa rồi của ta”.
Từ đó, Cố Thuận Chi càng tin tưởng công đức to lớn của việc trì trai và lòng tin ấy ngày càng kiên cố hơn.
(Theo Sự tích cứu vật phóng sanh-Pháp sư Tịnh Không)


BÀI HỌC ĐẠO LÝ:
Một số người có duyên lành trải qua kinh nghiệm cận tử, sau khi thoát nạn thì thay đổi hoàn toàn từ nhận thức, quan niệm sống đến hành xử theo hướng thiện lành. Thế giới mà họ chiêu cảm được bằng kinh nghiệm cận tử đã đánh thức lương tri, phát tâm phục thiện và tin tưởng sâu sắc vào nhân quả thiện ác. Lúc bấy giờ, cảnh giới đan xen hay thế giới đa thù không phải là lý thuyết nữa mà là điều họ đã trải nghiệm. Sứ mạng cao cả nhất đối với họ từ đây cho đến cuối đời là chuẩn bị hành trang thiện lành cho đời sau đồng thời khuyến tấn mọi người sống đạo đức, nhân nghĩa.
Mỗi người tùy theo phước đức hay tội báo của mình mà có một cận tử nghiệp và sự chiêu cảm khác nhau. Cố cư sĩ hiện đời chuyên tâm tu tập, ăn chay, niệm Phật, trì kinh, nghe pháp nên nghiệp cận tử của ông là được theo vị pháp sư mà ông hằng kính ngưỡng vào giảng đường nghe pháp. Và nhờ phước lực huân tu trường chay, trưởng dưỡng lòng từ, không sát hại chúng sanh nên chiêu cảm được gặp vị cao tăng giảng kinh Vu Lan ca ngợi công đức hiếu thuận, trong đó ăn chay không những tiêu trừ nghiệp chướng cho chính mình mà còn có thể góp phần để cứu độ cha mẹ và những thân nhân quá vãng.

Ngày nay, người ăn chay ngày càng đông và mục đích ăn chay của họ cũng khác biệt, có thể ăn chay vì sức khỏe, dưỡng sinh, trị bệnh hoặc vì thương tưởng chúng sanh, trau dồi nhân cách và phát triển từ bi. Dù ăn chay với mục tiêu nào đi nữa cũng góp phần hạn chế bớt sự giết hại, nuôi dưỡng sự sống, bảo vệ môi trường… và giúp người ăn chay hiền thiện hơn. Tuy chúng ta chưa hội đủ duyên lành để cơ cảm và trải nghiệm những giá trị của tu tập ăn chay như cư sĩ Cố Thuận Chi nhưng “giấc mộng” của ông đã nhắc nhở, cảnh tỉnh mọi người hãy tôn trọng sự sống, giảm bớt sự sát hại và nuôi dưỡng lòng từ bằng chính việc thực tập ăn chay trong đời sống hàng ngày.

Thường Tâm

(ST)

xuannam83
09-16-2010, 10:42 AM
Người Tỉnh Thức
Tâm Hòa Thiện Tâm


Với 2010 năm kinh nghiệm tích lũy, những dạng game chiến đấu của tập đoàn satan hiếu thắng, người chơi game càng giết người và thú nhiều được tặng thưởng. Nên ngày càng tác hại cho cả trẻ em lẫn người lớn và đặc điểm nỗi bật là “hiệu nghiệm tức thời và lâu dài”.
http://www.daophatngaynay.com/vn/thumbnail.php?file=images/2010/quy3/tinhthuc_201649530.jpg&size=article_medium

Cũng nhờ 2010 năm tích lũy kinh nghiệm, nhiều loại game tác hại tư tưởng còn được satan và bè lũ sáng tác chế riêng biệt cho cả tu sĩ và giáo sĩ.v.v…

Đặc biệt đối với thanh thiếu niên, tác hại do nhiều loại game chiến đấu càng giết người nhiều thì được tặng thưởng, game chiến đấu tác hại nhiều hơn tác dụng. bọn trẻ bây giờ chơi game êm lắm lang thang trên mạng suốt đêm, nói chuyện điện thoại mãi miết.

Bây giờ giới trẻ chìm sâu vào game bạo lực, các game thủ ở tuổi vị thành niên mất đi cái tôi của các em, các em sống hoàn toàn lệ thuộc vào game, khi chơi các em muốn thể hiện mình theo các nhân vật anh hùng hảo hớn, các em nhập vô đó và dần mất hẳn suy nghĩ thực tế sống trong thế giới ảo, các em mất hết tình cảm, mất liên hệ với thế giới thật, không còn tình cảm với anh em, cha mẹ.

Khi các em trở thành con người trên game chứ không phải là người thật, thực tế cho thấy các em đến bệnh viện điều trị đều có biểu hiện học hành sa sút, cãi cha cãi mẹ, nói dối, trộm cắp để có tiền thỏa mãn cơn nghiện.

Báo giác ngộ người tỉnh thức lời chúa kinh thánh soi dẫn, nên tìm học đạo làm người hiểu biết giác ngộ, tìm học kinh điển liên hoa tâm pháp của người tỉnh thức lời chúa, nghe qua băng “đĩa” của người tỉnh thức…

Hoa thiện tâm đà hòa nhập xã hội thiện hữu tri thức chia sẻ hiểu biết của người tỉnh thức lời chúa…

"Người Tỉnh Thức". Người tỉnh thức thì không còn đau khổ nửa, cho nên người khách lắng lòng hướng về Phật Pháp như một khởi điểm bắt đầu cho cuộc hành trình đời mình vào đất Phật, mà trên đó một ngôi thiên nhỏ được dựng lên với vẻ uy nghi giản dị giửa thiên nhiên hửu tình, bức tượng Đức Bổn Sư hiền từ đang hiện diện trong cõi đời đầy ô trọc và khổ đau. Kề bên bức tượng một vị Bồ Tát Quán Thế Âm với gương mặt đẹp thanh thoát đưa đôi mắt nhìn chúng sanh chơi vơi trong biển khổ như người mẹ nhìn những đứa con tội nghiệp. Trong chiều sâu vực thẩm vọng về đến tận tâm hồn người khách, chầm chậm vang lên từng đợt những âm ba hải triều cuốn hút vổ về tâm tư phiền muộn của khác trần đang tìm về cõi cô sanh.

Tiếng thét cuồn cuộn những cơn sóng của khổ đau bùng lên như phủ ngập không ngừng trên biển Tâm Thức. Người khách cảm thấy thời gian như ngưng đọng lại . Mùa Đông rồi cũng rụi tàn nhường bước cho mùa Xuân mới xuất hiện trở lại trên Địa cầu. Thật vậy,người khách bổng chợt hiểu dần ra đâu là câu hỏi của Bồ Tát Vô Tận Ý đã thỉnh vấn đức Phật trong buổi thuyết pháp Kinh Diệu Pháp Liên Hoa về nhân duyên danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm.

“ HOA ”

Hoa chính vị Bồ Tát hoá thân làm đẹp mắt mọi chúng hửu tình, dẫn đường cho những con người ham chuộng Danh Sắc vào con đường vô Ngã Vẻ đẹp của hoa, vẻ đẹp của hoa là huyền diệu của nhửng tía sáng ánh nắng ban mai kết tinh lại thành màu sắc, hoa dâng hiến cho đời từ bi, thiện mỹ, tặng hết dịu dàng an ủi chúng sanh . Hoa là hỷ xả sau khi mang giọt nước tươi mát của Chân Thiện Mỹ đến rồi đi không một chút bận tâm kiếp sống vô thường của mình , hoa là Bồ Tát dạy con tâm vô trụ, mỗi giây phút cuộc sống trong hiện đời rất qúy, đừng để những giây phút ấy qua đi trong địa ngục khổ đau của giận hờn và lo toan. Mỗi phút giây nấy bừng nở vạn đoá hoa khiêm cung bên lề đường không một người để mắt đến, rực rở trong khu vườn muôn sắc, dù được chăm sóc hay nơi đồng hoang vắng, hoa vẫn bình đẳng trải rộng lòng từ không phân biệt đắn đo về lẻ thâm tình của mình đến với ai và có được tiếp nhận hay không ?

Hoa tâm được bừng nở, đừng để bản ngã của con làm khô cằn mảnh đất vốn đã được gieo hạt giống Chân thiện Mỹ, vì mọi phân định đúng sai, phải trái chính là bản ngã của con đó ! Người có quyền tu thì cũng có kẻ khác có quyền không tu, con không được tự cho rằng mình tu nên mình đúng hoàn toàn, thêm vào đó người tu mà không chuyển nổi tâm kẻ khác theo con đường của Chân thiện Mỹ.

Tu Là gì ? Tu là con đang đi tìm đến cách sống tận thiện tận mỹ, xóa bỏ những định luật nhân quả đã cột chặc con người vào vòng quay của nghiệp Luân Hồi, chuyển mệnh đời đến bước an lạc và luôn tự tai. “Hoa thiện tâm”
Giải Thoát là gì ? Là bức phá những vô minh tham dục còn đầy rẩy trong bản tâm, Ngã chấp dạy cho con cách thích nghi trong cuộc đời hư ảo, không hề muốn nhận thấy ánh sáng của chân lý.

Con muốn thấy ánh sáng chân lý đưa con thoát khỏi vô minh phiền não thì con nên học theo hạnh Từ Bi Hỷ Xả của Hoa, hoa phải là tâm của con chư phật mười phương ba đời đều thuyết giải thoát hoá thân sanh vào sen báu chẳng phải là không có nguyên do : Cho nên hoa mang kiếp sống vô thường mà sống đời vĩnh cửu của Đại từ.

Giây phút thế trần qua đi , hoa đem đến giọt nắng cõi trời soi vào mắt thế nhân, khai thị điều thiện cho con mà chính bản tâm con chưa tự chứng, Hoa có thể tàn phai hương sắc trong vô thường sanh diệt như chính bản thân con nhưng mùi hương và vẻ đẹp của hoa không biến mất trong tâm con. Điều thiện có thể mang tướng đến rồi đi mà tâm thức của con không quên việc làm tận thiện mỹ, Hoa thiện nữ Quan thế âm bồ tát hóa sinh trên sen báu liên đài cửu phẩm.

(ST)

xuannam83
09-22-2010, 02:51 PM
RÈN LUYỆN TÂM ĐỂ CÓ HẠNH PHÚC

http://files.myopera.com/labatluong11026668/blog/T%C3%A2m_07.04.09.jpg
CON ĐƯỜNG ĐI TỚI HẠNH PHÚC

Nhận biết trạng tình trạng tinh thần là nhân tố hàng đầu để đạt hạnh phúc, đương nhiên việc này không phủ nhận những nhu cầu căn bản như thực phẩm, quần áo, chỗ ở cần phải có. Nhưng một khi những nhu cầu căn bản đã được đáp ứng, lời nhắn nhủ này thật rõ ràng: Chúng ta không cần nhiều tiền hơn, không cần thành công nhiều hay nổi tiếng hơn, không cần một thân hình tuyệt mỹ, hay cả đến người bạn đường hoàn hảo - ngay bây giờ, chính lúc này, chúng ta có tâm, hoàn toàn là trang bị căn bản mà chúng ta cần để đạt hạnh phúc trọn vẹn.

Trình bày phương pháp hoạt động bằng tâm, Đức Đạt Lai Lạt Ma bắt đầu: "Khi chúng ta nhắc đến 'tâm' hay 'thức', có nhiều trạng thái khác nhau. Giống như những hoàn cảnh hay các vật thể bên ngoài, một số thật hữu ích, một số rất có hại, và một số trung tính. Cho nên khi đề cập đến vấn đề bên ngoài, đầu tiên chúng ta thường cố gắng nhận biết những chất khác nhau này hay chất hóa học nào tốt để ta có thể chú ý phát trưởng, tăng trưởng và sử dụng chúng. Những chất nào có hại thì ta loại bỏ. Cũng giống như vậy, khi chúng ta nói về tâm, có cả hàng ngàn tư tưởng khác nhau hay "tâm" khác nhau. Trong số ấy, một số hữu ích, những cái đó chúng ta phải nắm lấy và nuôi dưỡng. Một số tiêu cực và có hại, những cái đó chúng ta phải cố gắng giảm thiểu.

"Cho nên bước đầu tìm cầu hạnh phúc là học hỏi. Đầu tiên phải biết những xúc cảm và ứng xử tiêu cực có hại cho chúng ta như thế nào và những xúc cảm tích cực có ích ra sao. Chúng ta phải hiểu những cảm xúc tiêu cực này lại không chỉ là rất xấu và có hại cho cá nhân mà còn có hại cho xã hội cũng như tương lai toàn thế giới. Cách nhận thức như thế nâng cao quyết tâm đương đầu và khắc phục chúng. Sau đó sẽ hiểu ra những khía cạnh có lợi của cảm xúc và ứng xử tích cực. Một khi nhận ra điều đó, chúng ta trở nên quyết tâm nuôi dưỡng, phát triển, và làm tăng thêm những cảm xúc tích cực dù khó khăn đến thế nào đi nữa. Hầu như có sự tự nguyện tự phát trong lòng. Cho nên quá trình học hỏi, phân tích những tư tưởng và xúc cảm nào có lợi lạc và có hại, chúng ta dần dần phát triển sự quyết tâm mạnh mẽ thay đổi cảm nghĩ: "Giờ đây chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc của chính tôi, tương lai tốt đẹp của chính tôi, ở trong tầm tay tôi. Tôi không được bỏ lỡ cơ hội đó!"

Trong Phật Giáo nguyên lý nhân quả được chấp nhận như qui luật tự nhiên. Đứng trước thực tế, bạn phải lưu tâm tới qui luật đó. Chẳng hạn, trong kinh nghiệm hàng ngày, nếu có những sự việc nào đó mà bạn không thích, thì phương pháp bảo đảm tốt nhất để việc đó không xẩy ra là phải làm cho những điều kiện nguyên nhân thường gây rủi ro cho sự việc ấy chắc chắn không còn phát sinh nữa. Cũng tương tự như vậy, nếu bạn muốn một sự việc hay điều đã kinh qua xẩy ra, thì điều hợp lý phải làm là tìm và thu thập những nguyên nhân và điều kiện có nguy cơ cho sự việc ấy.

"Việc này cũng đúng với các trạng thái tinh thần và các kinh nghiệm. Nếu bạn ham muốn hạnh phúc, bạn phải tìm ra nguyên nhân gây rủi ro cho điều đó, và nếu bạn không muốn đau khổ, điều phải làm là bảo đảm không để những nguyên nhân và điều kiện gây rủi ro cho điều đó phát sinh nữa. Đánh giá nguyên lý nhân quả rất quan trọng.

"Giờ đây, chúng ta đã nói đến tầm quan trọng tột bậc của nhân tố tinh thần để đạt hạnh phúc. Cho nên nhiệm vụ kế tiếp là quan sát sự đa dạng của các trạng thái tinh thần mà chúng ta kinh qua. Chúng ta cần phải nhận biết rõ ràng những trạng thái tinh thần khác nhau, phân biệt và xếp loại chúng xem chúng có mang đến hạnh phúc hay không."

"Ngài có thể cho một vài thí dụ đặc biệt về những trạng thái tinh thần khác nhau và mô tả cách phân loại chúng?" Tôi hỏi Ngài.

Đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích: "Bây giờ, ví dụ, sân hận, ganh ghét, và nóng giận vân vân ... đều có hại. Chúng ta coi chúng là những trạng thái tiêu cực của tâm vì chúng phá vỡ hạnh phúc tinh thần của chúng ta, một khi bạn ấp ủ cảm nghĩ sân hận hay cảm nghĩ không tốt với ai, một khi lòng bạn tràn ngập hận thù hay cảm xúc tiêu cực, thì người khác hình như cũng thù nghịch với bạn. Cho nên kết quả là sợ hãi nhiều hơn, sự ức chế và lưỡng lự nhiều hơn, và cảm giác bất an. Những thứ này phát triển, và thấy cô đơn ở giữa một thế giới bị coi là thù nghịch. Tất cả những cảm nghĩ tiêu cực này phát triển vì cảm nghĩ thù hận. Mặt khác những trạng thái tinh thần như ần cần tử tế, và tình thường chắc chắn là tích cực. Chúng rất hữu dụng..."

"Tôi đúng là hiếu kỳ" Tôi cắt ngang " Ngài nói có hàng ngàn trạng thái tâm khác biệt. Ngài có thể định nghĩa thế nào là một người tâm lý lành mạnh hay thích ứng tốt không? Chúng ta phải sử dụng định nghĩa này làm nguyên tắc chỉ đạo để quyết định trạng thái tinh thần nào cần phải trau dồi và trạng thái nào cần phải loại bỏ."

Ngài cười, rồi với nét khiêm nhường nổi bật của Ngài, Ngài trả lời: "Là một chuyên gia tâm thần học, ông phải có một định nghĩa hay hơn về người có tâm lý lành mạnh."

"Nhưng tôi muốn đây là quan điểm của Ngài"

"Được, tôi coi một người có lòng trắc ẩn, nồng nhiệt, tốt bụng là lành mạnh. Nếu bạn duy trì được cảm xúc tình thương, lòng từ ái, thì điều gì đó tự động mở cánh cửa bên trong bạn. Nhờ đó bạn có thể giao tiếp với người khác dễ dàng hơn nhiều. Và tính niềm nở hầu như tạo ra sự chân thật cởi mở. Bạn sẽ thấy rằng tất cả mọi con người đều giống bạn, cho nên bạn sẽ dễ dàng liên hệ với họ. Điều này cho bạn tình thân hữu nghị. Rồi bạn ít cần phải che đậy sự việc hơn, và kết quả là cảm nghĩ sợ hãi, sự nghi ngờ, và bất an tự động bị xua tan. Ngoài ra nó cũng tạo cảm nghĩ tin cẩn đối với những người khác. Mặt khác, thí dụ, bạn tìm được một người rất giỏi và bạn biết rằng bạn có thể tin vào khả năng của người ấy. Nhưng nếu bạn cảm giác người đó không tử tế, rồi bạn phải kìm nén cái gì đó. Bạn cảm thấy "Ồ, tôi biết người đó có thể làm được việc, nhưng thực sự tôi có thể tôi tin người ấy không?" cho nên bạn bao giờ cũng có một sự e sợ nào đó hồ như tạo ra sự xa cách người đó.

"Cho nên, dù sao, tôi vẫn nghĩ là trau dồi trạng thái tinh thần tích cực như ân cần và tình thương nhất định dẫn đến tâm lý lành mạnh và hạnh phúc hơn".

KỶ LUẬT TINH THẦN
Nghe Ngài nói tôi thấy một cái gì đó rất hấp dẫn về phương pháp để đạt hạnh phúc của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Điều này tuyệt đối thực tiễn và hữu lý: Nhận biết và trau dồi những trạng thái tinh thần tích cực, nhận biết và loại bỏ những trạng thái tinh thần tiêu cực. Mặc dù đề xuất của Ngài bắt đầu bằng cách lý giải theo hệ thống các loại trạng thái tinh thần mà ta kinh qua lúc đầu tôi thấy hơi vô vị, tôi dần dần bị kích thích bởi sức mạnh của sự hợp lý và lập luận của Ngài. Và tôi thích thực tế hơn là xếp loại những trạng thái tinh thần dựa xúc cảm, hay ham thích dựa trên trên cơ sở cmột phán xét đạo đức nào đó bị áp đặt từ bên ngoài như " Tham là một tội ác" hay "Sân hận là tội lỗi", Ngài xếp loại xúc cảm là tích cực hay tiêu cực chỉ dựa trên cơ sở chúng có dẫn đến hạnh phúc cơ bản của chúng ta hay không.

Tiếp tục đối thoại với Ngài vào buổi chiều hôm sau, tôi hỏi "Nếu hạnh phúc đơn giản chỉ là vấn đề trau dồi trạng thái tinh thần tích cực hơn nữa như lòng tốt và vân vân... tại sao lại có quá nhiều người không hạnh phúc?"

"Muốn đạt được hạnh phúc chính đáng, nó đòi hỏi phải thay đổi cách nhìn, cách suy nghĩ, và đó không phải là một vấn đề đơn giản". Ngài nói." Cần phải áp dụng nhiều nhân tố khác nhau từ nhiều hướng khác nhau. Bạn không nên có khái niệm, chẳng hạn như, chỉ có một chìa khóa, một bí quyết và nếu bạn có giải pháp đúng, mọi việc đều tốt đẹp. Nó cũng tương tự như chăm sóc thích hợp thân thể, bạn cần nhiều thứ vitamin và chất dinh dưỡng, không phải chỉ một hay hai. Cũng giống như thế, muốn đạt hạnh phúc, bạn cần có nhiều cách giải quyết và nhiều phương pháp để đối phó và khắc phục một loạt trạng thái tinh thần tiêu cực thay đổi và phức tạp. Và nếu bạn đang tìm cách khắc phục một số cách suy nghĩ tiêu cực, thì không thể nào có thể hoàn tất được chỉ bằng cách áp dụng một tư tưởng đặc biệt nào đó hay một rèn tập kỹ thuật nào đó một hay hai lần. Sự thay đổi cần phải có thời gian. Ngay cả đến thể chất thay đổi cũng cần phải có thời gian. Chẳng hạn, khi bạn di chuyển từ vùng khí hậu này đến vùng khí hậu khác, có thể cần thời gian mới thích nghi được với môi trường mới. Cũng như vậy, thay đổi tâm bạn cần phải có thời gian. Có nhiều nét đặc điểm tinh thần tiêu cực, cho nên bạn cần phải chăm chú và phản ứng từng nét đặc điểm một. Điều này không dễ dàng. Cần phải áp dụng đi áp dụng lại hàng loạt kỹ thuật khác nhau và có thì giờ để tự bạn quen dần với sự thực hành. Đó là tiến trình học hỏi.

"Nhưng tôi nghĩ rằng với thời gian bạn có thể có những sự thay đổi tích cực. Mỗi ngày, ngay khi bạn thức dạy, bạn có thể phát triển một động cơ suy nghĩ tích cực thành thực."Tôi sẽ sử dụng ngày hôm nay theo một đường lối tích cực hơn. Tôi không nên phí phạm ngày hôm nay. Và buổi tối trước khi lên giường, kiểm lại xem bạn đã làm được những gì, hãy tự hỏi "Tôi đã sử dụng ngày hôm nay theo như đã trù tính chưa? Nếu như mọi việc diễn ra đúng, bạn nên vui mừng. Nếu không đúng, hãy hối tiếc việc bạn đã làm và tìm ra lỗi lầm ngày đó. Cho nên, nhờ những phương pháp như vậy, bạn có thể dần dần củng cố khía cạnh tâm tích cực của bạn. "Giờ đây, thí dụ, trường hợp của riêng tôi, là một nhà sư Phật Giáo, tôi tin tưởng vào Phất Giáo, và nhờ kinh nghiệm bản thân mà tôi biết sự tu tập Phật Giáo giúp cho tôi rất nhiều. Tuy nhiên vì thói quen, qua nhiều tiền kiếp, một số sự việc có thể phát sinh như nóng giận và luyến ái. Cho nên bây giờ những gì tôi cần làm trước nhất là học về giá trị tích cực của sự tu tập, rồi xấy dựng quyết tâm, và rồi cố gắng thi hành chúng. Lúc đầu việc tiến hành tu tập tích cực còn không đáng kể, nên ảnh hưởng tiêu cực vẫn còn mạnh. Tuy nhiên, cuối cùng, khi bạn càng ngày càng củng cố được sự tu tập tích cực, ứng xử tiêu cực tự động giảm thiểu. Cho nên, thực tế là thực hành "Pháp" là một cuộc chiến không ngưng ở bên trong, thay thế tính nết hay thói quen tiêu cực trước đây bằng phản xạ tính nết mới tích cực."

Chữ Pháp có nhiều nghĩa rộng mà không có chữ Anh nào tương đương. Chữ này thường được dùng để nói về giáo lý hay học thuyết của Đức Phật, gồm có truyền thống kinh điển cũng như lối sống và sự hiểu biết tinh thần do áp dụng giáo lý. Đôi khi người Phật Tử dùng chữ này trong ý nghĩa tổng quát hơn - có nghĩa là tu tập tinh thần hay tôn giáo trong luật tinh thần phổ biến thông thường, hay bản chất thực sự của hiện tượng - và sử dụng thuật ngữ Buddhadharma (Phật Pháp) để tham chiếu cụ thể hơn về nguyên tắc và sự tu tập của Phật Đạo. Tiếng Dharma trong tiếng Phạn bắt nguồn từ gốc từ nguyên có nghĩa là "giữ" và trong phạm vi vấn đề này nó có nghĩa rộng hơn là hành xử hay hiểu biết dùng để "giữ người ta lại" hay bảo vệ người ta khỏi bị khổ đau và nguyên nhân của nó.

Tiếp tục Ngài nói: "Dù bạn đang hoạt động nào hay sự tu tập nào, thì cũng không có gì là khó khăn nhờ sự làm quen và rèn luyện liên tục. Nhờ rèn luyện chúng ta có thể thay đổi, chúng ta có thể tự biến đổi. Trong phạm vi tu tập Phật Giáo, có nhiều phương pháp giữ cho tâm bình tĩnh khi nhiều chuyện rắc rối xẩy ra.

Nhờ tu tập lặp đi lặp lại những phương pháp này, chúng ta có thể đi đến chỗ xáo trộn nào đó vẫn có thể xẩy ra nhưng tác động tiêu cực vào tâm vẫn còn trên bề mặt, giống như làn sóng nhấp nhô trên mặt biển nhưng không có tác động sâu xuống nhiều. Mặc dù kinh nghiệm cá nhân tôi rất ít ỏi, tôi thấy nó rất đúng trong sự tu tập của cá nhân tôi. Cho nên, khi tôi nhận được một số tin tức bi thảm, vào lúc đó tôi có thể chứng nghiệm một vài xáo trộn trong tâm, nhưng rồi nó cũng qua đi rất mau. Hay tôi có thể khó chịu và bực tức, nhưng rồi nó cũng biến đi rất nhanh. Không có tác động vào tâm khảm. Không sân hận. Việc này đạt được nhờ tu tập dần dần, không thể chỉ qua một đêm mà thành công được". Nhất định là không. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã rèn tập tâm từ khi Ngài bốn tuổi.

Huân tập tâm có phương pháp - sự vun trồng hạnh phúc, sự thay đổi đích thực nội tâm bằng cách chọn lựa và tập trung một cách có mục đích vào trạng thái tinh thần tích cực và chống lại trạng tinh thái thần tiêu cực - có thể thực hiện được vì chính cấu trúc và chức năng của bộ não. Chúng ta sinh ra với bộ não được kết nối về mặt di truyền với một số mô hình hành xử có thiên hướng bẩm sinh chúng ta có khuynh hướng tìm cách phản ứng lại môi trường để sinh tồn về mặt tinh thần cảm xúc và thân thể. Những tập hợp chỉ dẫn căn bản được mã hóa trong vô số hoạt hóa mô hình tế bào thần kinh bẩm sinh, sự phối hợp đặc biệt của tế bào não phát ra đáp ứng bất cứ sự việc, kinh nghiệm, hay suy nghĩ nào. Nhưng kết nối trong não không phải là tĩnh, không phải là cố định không thay đổi được. Bộ não của chúng ta có khả năng thích ứng. Các nhà khoa học thần kinh đã chứng minh bằng tài liệu một sự việc có thật là bộ não có thể lập mô hình mới, những phối hợp khác hẳn của các tế bào thần kinh và thần kinh truyền tải (hóa chất chuyển thông tin giữa những tế bào thần kinh) đáp ứng dữ kiện mới truyền vào. Thực ra, bộ não của chúng ta dễ uốn nắn, thay đổi, cấu hình lại kết nối cho phù hợp với tư tưởng và kinh nghiệm mới. Do học tập, chức năng của chính tế bào thần kinh cá nhân thay đổi, cho phép những tín hiệu điện chạy theo chúng dễ dàng hơn. Các khoa học gia gọi khả năng thay đổi vốn có của bộ não là " tính mềm dẻo"

Khả năng thay đổi kết nối của bộ não để phát triển những liên hệ thần kinh mới, đã được chứng minh trong các cuộc thí nghiệm như một thí nghiệm của các Bác Sĩ Avi Karni và Leslie Underleider tại Viện Tấm Thần Quốc Gia. Trong cuộc thí nghiệm này, các nhà nghiên cứu đã để các đối tượng thí nghiệm thi hành một nhiệm vụ đơn giản về dấy thần kinh vận động, dùng bài tập gõ nhẹ ngón tay xuống, và xem những phản ứng của các bộ phận của não liên quan đến tác động ấy bằng máy cắt lớp não MRI. Những đối tượng thí nghiệm thực hành bài tập ngón tay hàng ngày trong bốn tuần, càng ngày càng hữu hiệu hơn và nhanh hơn. Cuối cùng sau giai đoạn bốn tuần, chụp cắt lớp não được làm đi làm lại cho thấy khu vực não dính líu tới nhiệm vụ này đã mở rộng, cho thấy thực hành đều đặn và lặp đi lặp lại một nhiệm vụ đã tổ chức được những tế bào thần kinh mới và thay đổi mối liên hệ thần kinh đầu tiên dính líu vào nhiệm vụ này.

Nét đặc biệt đáng chú ý này của bộ não có vẻ là cơ sở tâm lý cho khả năng thay đổi tâm. Bằng cách vận động tư tưởng và thực hành cách suy nghĩ mới, chúng ta có thể tái định hướng các tế bào thần kinh và thay đổi cách hoạt động của bộ não. Đó cũng là cơ sở cho khái niệm thay đổi bên trong bắt đầu bằng học hỏi (nhập liệu mới ) và kéo theo kỷ luật dần dần thay thế những "tính nết tiêu cực " (tương đương với mô hình hoạt hóa tế bào thần kinh riêng của chúng ta bằng "tính nết tích cực" (hình thành mạch thần kinh mới). Nhu vậy, khái niệm huân luyện tâm để đạt hạnh phúc trở thành khả năng có thể làm được thực sự.

KỶ LUẬT ĐẠO ĐỨC
Trong lần thảo luận sau này đề cập đến việc huân luyện tinh thần để đạt hạnh phúc, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhân mạnh "Tôi nghĩ rằng cách ứng xử đạo đức là một nét đặc thù khác thuộc loại kỷ luật nội tâm dẫn đến cuộc sống hạnh phúc. Ta có thể gọi nó là kỷ luật đạo đức. Những đại đạo sư tinh thần như Đức Phật khuyên chúng ta thực hiện những hành động thiện và tránh vui thích những hành động bất thiện. Liệu hành động của chúng ta là thiện hay bất thiện điều đó tùy thuộc vào hành động hay hành vi ấy phát sinh từ một trạng thái tâm thức có kỷ luật hay không có kỷ luật. Người ta cho rằng tâm kỷ luật dẫn đến hạnh phúc và tâm vô kỷ luật dẫn đến đau khổ, và thực tế người ta nói rằng đưa kỷ luật vào tâm là bản chất giáo lý của Đức Phật.

"Khi tôi nói kỷ luật, tôi tmuốn nói đến kỷ luật tự giác, không phải là kỷ luật do một người nào đó bên ngoài áp đặt cho bạn. Tôi nói đến thứ kỷ luật được áp dụng để khắc phục những đức tính tiêu cực. Một băng đảng tội phạm có thể cần kỷ luật để ăn cướp thành công, nhưng thứ kỷ luật ấy thật vô ích.

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngưng lại một lúc dường như để phản ảnh tập trung tư tưởng của Ngài. Hoặc có lẽ chỉ là Ngài tìm từ bằng tiếng Anh. Tôi không biết. Nhưng nghĩ về cuộc đàm thoại buổi chiều hôm đó khi Ngài ngừng lại, một cái gì đó về toàn bộ cuộc nói chuyện liên quan đến tầm quan trọng về học tập và kỷ luật bắt đầu làm cho tôi thấy khá nhạt nhẽo khi nó tương phản với những mục tiêu cao quý của hạnh phúc thực sự, tăng trưởng tinh thần và sự thay đổi hoàn toàn nội tâm. Dường như sự tìm cầu hạnh phúc bằng cách này hay cách khác là một tiến trình tự phát.

Đưa ra vấn đề, tôi xen vào "Ngài mô tả những xúc cảm ứng xử tiêu cực là "bất thiện" và ứng xử tích cực là "thiện". Hơn nữa, Ngài nói tâm không được huân luyện hay vô kỷ luật nói chung đưa đến kết quả ứng xử tiêu cực hay bất thiện, cho nên chúng ta phải học và rèn luyện mình nhằm tăng trưởng ứng xử tích cực. Cho đến bây giờ mọi điều đều tốt đẹp.

"Nhưng điều làm cho tôi băn khoăn là sự xác định của Ngài về ứng xử tiêu cực hay bất thiện là những ứng xử dẫn đến khổ đau. Và Ngài định nghĩa một ứng xử thiện dẫn đến hạnh phúc. Ngài cũng bắt đầu với tiền đề căn bản là tất cả chúng sanh với mong muốn tránh khổ đau và đạt hạnh phúc - sự ham thích này là bẩm sinh; điều này không cần phải học. Vậy thì câu hỏi là: Nếu tự nhiên là chúng ta mong muốn tránh khổ đau thì tại sao chúng ta không càng ngày càng bị đẩy lui một cách tự nhiên bởi ứng xử tiêu cực hay bất thiện khi trở về già? Và nếu là tự nhiên muốn có hạnh phúc thì tại sao chúng ta không hàng ngày càng ngả về ứng xử thiện một cách tự động và tự nhiên để rồi được hạnh phúc hơn khi đời ta tiến về phía trước? Tôi muốn nói là nếu những ứng xử thiện tự nhiên dẫn đến hạnh phúc và chúng ta muốn có hạnh phúc, liệu điều đó có xẩy ra như một tiến trình tự nhiên không? Tại sao chúng ta cần nhiều đến giáo dục, huân luyện và kỷ luật để tiến trình ấy xẩy ra?

Lắc đầu, Ngài Đạt Lai Lạt Ma trả lời " Ngay cả đến trong những điều kiện thông thường, trong đời sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta coi giáo dục là một nhân tố rất quan trọng để bảo đảm một cuộc sống thành công và hạnh phúc. Và kiến thức không thể có được một cách tự nhiên. Chúng ta phải rèn luyện, chúng ta phải trải qua một loại chương trình huân luyện có hệ thống và vân vân.. Và chúng ta coi giáo dục và huân luyện thông thường này là hết sức khó, nếu không tại sao các học sinh lại cần đến nhiều kỳ nghỉ như vậy? Tuy nhiên chúng ta biết loại giáo dục đó rất quan trọng nhằm bảo đảm một cuộc sống thành công và hạnh phúc.

"Cũng giống như vậy, muốn làm việc thiện cũng không đến một cách tự nhiên mà chúng ta phải có ý thức rèn luyện để hướng tới nó. Đúng vậy, nhất là trong xã hội hiện đại, bởi vì có một khuynh hướng tin rằng vấn đề việc thiện và bất thiện - làm gì và không nên làm gì - được coi là trong phạm vi hoạt động của tôn giáo. Theo truyền thống tôn giáo được coi là có trách nhiệm của tôn giáo qui định cách ứng xử nào là thiện và bất thiện. Tuy nhiên trong xã hội ngày này, tôn giáo đã mất uy tín và ảnh hưởng của nó ở một mức nào đó. Và đồng thời, không có sự lựa chọn nào, như đạo lý thế tục xuất hiện để thay thế vào. Cho nên dường như ít có sự lưu tâm đến sự cần thiết phải có lối sống thiện. Chính vì điều này mà tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải gắng sức nhiều và có ý thức làm việc tiến tới đạt loại kiến thức này. Thí dụ, mặc dù cá nhân tôi tin tưởng bản chất con người chúng ta căn bản là hòa nhã và giàu lòng thương, nhưng tôi cảm thấy không đủ vì bản chất tiềm ẩn của chúng ta, chúng ta cũng phải phát triển sự đánh giá cao và tỉnh thức về sự thật đó. Và thay đổi cách nhận thức chính mình, nhờ học tập và hiểu biết, có thể có tác động thực sự vào cách chúng ta tương tác với những người khác và cách chúng ta sống hàng ngày ".

Vờ không đồng ý để nêu ra vấn đề, tôi phản kháng " Tuy nhiên Ngài đã sử dụng sự tương đồng của hệ thống giáo dục và rèn luyện lý thuyết thông thường. Điều đó là một việc. Nhưng nếu Ngài nói chuyện về cách ứng xử nào đó gọi là thiện hay tích cực, dẫn đến hạnh phúc, và những ứng xử khác dẫn đến khổ đau thì tại sao phải học nhiều đến thế mới nhận biết ra chúng và phải rèn luyện quá nhiều mới thực hiện được cách ứng xử tích cực và loại bỏ ứng xử tiêu cực? Tôi muốn nói là nếu bạn đưa tay vào lửa, bạn sẽ bị bỏng. Bạn rụt tay lại, bạn đã biết cách ứng xử này dẫn đến khổ đau. Bạn đâu cần học hay rèn luyện nhiều mới biết đừng đụng vào lửa nữa.

"Vậy thì, tại sao tất cả những cách ứng xử hay cảm xúc dẫn đến khổ đau lại không như vậy? Chẳng hạn, Ngài cho rằng nóng giận và sân hận rõ ràng là những cảm xúc tiêu cực và cuối cùng dẫn đến khổ đau. Nhưng tại sao ta phải được giáo dục về những hậu quả có hại của nóng giận và sân hận để loại bỏ chúng? Vì nóng giận trực tiếp gây ra cảm xúc khó chịu cho con người, chắc chắn là dễ cảm thấy trực tiếp cái khó chịu ấy, tại sao ta không tự nhiên và tự động tránh nó trong tương lai?

Khi Đức Đạt Lai Lạt Ma chú ý nghe những lập luận của tôi, đôi mắt thông minh của Ngài như mở rộng ra, như thể Ngài hơi ngạc nhiên, hoặc thậm chí thích thú về tính ngấy thơ trong câu hỏi của tôi. Rồi với một chuỗi cười lớn, đầy thiện chí Ngài nói:

"Khi bạn nói về kiến thức dẫn đến tự do hay giải pháp của một vấn đề, bạn phải hiểu rằng có nhiều mức độ khác nhau. Thí dụ, con người ở vào Thời Đại Đồ Đá không biết nấu thịt nhưng vẫn có nhu cầu sinh học về ăn, cho nên họ ăn giống như thú hoang. Khi con người tiến bộ, họ học cách nấu và nêm các loại gia vị khác nhau làm cho đồ ăn ngon hơn và làm thành nhiều món. Và ngay cả thời đại ngày nay, nếu chúng ta bị bệnh đặc biệt nào đó và nhờ kiến thức chúng ta biết được loại đồ ăn nào không tốt cho chúng ta, thì dù chúng ta thích ăn món đó, nhưng chúng ta cũng tự kiềm chế không ăn. Cho nên rõ ràng là mức độ kiến thức càng tinh vi thì chúng ta sẽ đương đầu với thế giới tự nhiên càng hiệu quả.

"Bạn cần có khả năng xét đoán hậu quả trong tương lai gần và xa về cách ứng xử của bạn và cân nhắc cả hai. Thí dụ, khắc phục nóng giận, mặc dù thú vật cũng chứng nghiệm nóng giận, nhưng chúng không biết nóng giận là tai hại. Tuy nhiên con người ở một mức độ khác, khác ở chỗ bạn có sự tự ý thức để bạn ngẫm nghĩ và quan sát khi nóng giận phát sinh, nó làm hại bạn. Cho nên bạn có sự phán xét nóng giận là tiêu cực. Bạn cần phải biết suy luận. Cho nên không phải là đơn giản như đưatay vào lửa, và để rồi bị bỏng, và để rồi biết không bao giờ làm điều đó trong tương lai nữa. Học vân và kiến thức về những gì dẫn đến hạnh phúc và những gì gây khổ đau càng tinh vi thì bạn sẽ có nhiều kết quả hơn trong việc đạt hạnh phúc. Cho nên, chính vì điều đó tôi nghĩ rằng giáo dục và kiến thức là rất quyết định." Tôi cho là Ngài cảm thấy tôi vẫn phản kháng khái niệm về giáo dục đơn giản là một phương cách để thay đổi nội tâm, Ngài nhận xét " Một vấn đề trong xã hội hiện nay là thái độ của chúng ta hướng về giáo dục như thể nó chỉ làm cho bạn tài giỏi hơn. Đôi khi dường như những người ít học, ít tinh vi hơn về đào tạo giáo dục, thì họ lại càng chất phác và ngay thật hơn. Mặc dù xã hội chúng ta không nhân mạnh vào việc này, nhưng việc sử dụng kiến thức và giáo dục lại quan trọng nhất là giúp chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của việc làm các hành động thiện và đưa kỷ luật vào tâm chúng ta. Sử dụng thích hợp trí thông minh và kiến thức sẽ đem lại sự thay đổi từ bên trong để phát triển lòng tốt".

Nguồn:Quangminh.org.au

xuannam83
09-24-2010, 02:57 PM
ĐỐI ĐẦU VỚI KHỔ ĐAU

http://hphotos-snc3.fbcdn.net/hs296.snc3/28438_136309276383709_117687358245901_398584_15658 17_n.jpg

Vào thời Đức Phật, một phụ nữ tên Kisagotami đau khổ vì đứa con duy nhất của bà bị chết. Không thể chấp nhận sự việc ấy, bà chạy gặp hết người này đến người khác để tìm thuốc cứu đứa bé sống lại. Người ta đồn Đức Phật có loại thuốc đó.

Kisagotami liền tìm đến Đức Phật, bà cung kính chào Ngài và thưa: "Thưa Ngài, có phải Ngài có thể làm ra thứ thuốc cứu được đứa con của tôi phải không?"

Đức Phật trả lời: "Ta biết thứ thuốc đó, nhưng muốn làm ra thứ thuốc đó, ta cần phải một số chất liệu."

Nhẹ người, bà hỏi: "Ngài cần chất liệu gì?

"Mang cho ta một nắm hạt cải"

Người đàn bà này hứa sẽ mang đến cho Ngài nhưng khi bà sắp sửa đi, Ngài nói thêm " Ta cần hạt giống cải lấy từ một gia đình không có con cái, chồng vợ, cha mẹ, hay người làm đã chết"

Bà ta đồng ý và bắt đầu đi đến hết nhà này đến nhà kia để tìm xin hạt cải. Nhà nào cũng đồng ý cho bà hạt giống, nhưng khi bà hỏi trong nhà này có ai đã chết không, thì bà không thể tìm ra nhà không có ai chết - nhà này thì con gái chết, nhà kia thì người làm chết, nhà nọ thì chồng hay cha mẹ chết. Kisagotami không thể tìm được một nhà nào thoát khỏi sự đau đớn của cái chết. Thấy không phải chỉ mình bà đau khổ, bà đã thôi không giữ thi hài của đứa con và quay về với Đức Phật, với tâm lòng đại bi Ngài nói: "Không phải chỉ mình bà mất con, chết là một qui luật đối với tất cả chúng sanh, không có cái gì trường tồn".

Cuộc tìm kiếm đã dạy cho bà biết không ai thoát khỏi khổ đau và mất mát. Không phải chỉ mình bà chịu bất hạnh khủng khiếp đó. Hiểu thấu bản chất vấn đề cũng không loại bỏ được đau khổ không tránh được do mất mát, nhưng nó giảm bớt đau đớn do cố gắng chống lại thực tế buồn thảm của cuộc đời.

Mặc dù đau đớn và khổ đau là hiện tượng phổ biến của con người, nhưng không có nghĩa là chúng ta dễ dàng chấp nhận chúng. Con người đã chế ra một kho tàng rộng lớn những chiến lược để tránh phải chịu đau khổ. Đôi khi chúng ta dùng những phương tiện bên ngoài như hóa chất - làm giảm hay dùng thuốc cho những cảm xúc đau đớn bằng thuốc men hay rượu cồn. Chúng ta còn có một loại cơ cấu bên trong - phòng thủ tâm lý, thường là vô thức, làm vật đệm cho chúng ta không cảm thấy xúc cảm quá đau đớn và buồn bã khi chúng ta đối đầu với khó khăn. Đôi khi những cơ cấu phòng thủ này rất thô sơ, như dễ dàng từ chối không công nhận đang có khó khăn. Có những lúc, chúng ta có thể mơ hồ công nhận chúng ta có khó khăn nhưng lại vùi đầu vào nhiều trò giải trí hay tiêu khiển để khỏi bận tâm đến nó. Hay chúng ta có thể đoán già đoán non không thể chấp nhận chúng ta gặp khó khăn, vô tình đổ lỗi cho họ và trách cứ họ về sự đau khổ của chúng ta."Vâng, tôi khổ sở, nhưng không phải là tôi có khó khăn, mà các người cũng có khó khăn. Nếu không phải là ông chủ chết tiệt đó lúc nào cũng làm tôi gặp khó khăn (hoặc "đối tác phớt lờ tôi"... ) thì tôi sẽ không sao cả".

Khổ đau chỉ có thể tạm thời tránh được. Nhưng giống như bệnh nan y không thể chữa khỏi hẳn được (hoặc có lẽ thuốc men chỉ chữa được trên bề mặt nhưng lại che dấu triệu chúng không chữa khỏi được căn bệnh cơ bản) chứng bệnh cứ nhức nhối và nặng thêm. Cảm giác phân khích do ma túy hay rượu tất nhiên làm giảm đau một lúc, nhưng tiếp tục dùng chúng, thân thể sẽ suy tàn và phương hại đến xã hội có thể gây nên nhiều đau khổ còn hơn cả sự bất mãn càng ngày càng lớn hay đau khổ nhiều về tình cảm dẫn chúng ta đến những chất say ấy ngay lúc đầu. Sự phòng thủ tâm lý bên trong như sự phủ nhận hay sự ức chế có thể che chở và bảo vệ chúng ta không cảm thấy đau khổ lâu hơn một chút, nhưng vẫn không làm cho khổ đau biến mất. Randall mất người cha bị bệnh ung thư hơn một năm qua. Anh rất gần gũi với người cha, và vào lúc ấy ai cũng ngạc nhiên thấy anh vững vàng trước cái chết của cha anh đến như thế. Anh giải thích bằng một giọng nói trầm tĩnh: "Đương nhiên tôi buồn, nhưng tôi thực sự không sao cả, tôi sẽ rất nhớ ông, nhưng dòng đời vẫn trôi chảy. Dầu sao tôi cũng không thể tập trung vào việc nhớ ông ngay bây giờ, tôi phải thu xếp tang lễ và trông nom tài sản của ông cho mẹ tôi...Nhưng tôi sẽ không sao cả," anh làm mọi người yên tâm. Tuy nhiên một năm sau, ngay sau ngày giỗ của cha anh, Randall bắt đầu rơi vào tình trạng buồn phiền nghiêm trọng. Anh đến gặp tôi và giải thích: "Tôi không hiểu nổi cái gì sinh ra sự buồn phiền này. Hiện giờ mọi việc đều tốt đẹp. Không thể là do cái chết của cha tôi, ông mất đã hơn một năm rồi tôi đã chấp nhận cái chết của ông. Tuy nhiên chỉ cần chữa bệnh chút ít, vấn đề đã trở nên rõ ràng, trong lúc cố kìm nén cảm xúc, để "đứng vững" anh chưa bao giờ đối phó đầy đủ với cảm giác mất mát và đau buồn. Những cảm giác đó tiếp tục phát triển và cuối cùng hiện nguyên hình là trạng thái buồn nản quá sức chịu đựng bắt buộc anh phải đối phó.

Trong trường hợp của Randall, bệnh trầm cảm của anh tan đi khá nhanh khi chúng ta tập trung vào sự đau đớn và cảm nghĩ mất mát của anh, và anh hoàn toàn có thể đương đầu và trải qua sự đau buồn của anh. Tuy nhiên, đôi khi, vô tình là những chiến lược nhằm để tránh vấp vấn đề của chúng ta phải khó khăn lại càng làm trầm trọng thêm - ăn sâu vào cơ cấu ứng phó và khắc sâu vào cá tính của chúng ta và rất khó trục xuất nó ra khỏi. Ví dụ đa số chúng ta có người bạn bè, người quen hay người nhà tránh khó khăn bằng cách đổ cho người khác và trách cứ họ - buộc tội người khác mà thực ra chính mình là người có lỗi. Chắc chắn đây không phải là một phương pháp hữu hiệu để loại bỏ khó khăn, tuy nhiên, nhiều người đã phải sống một đời bất hạnh chừng nào mà họ còn tiếp tục theo kiểu ấy.

Đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra chi tiết cách giải quyết vấn đề khổ đau của con người - cách giải quyết cơ bản là bao gồm niềm tin vào khả năng thoát khỏi khổ đau nhưng bắt đầu bằng sự chấp nhận khổ đau là một sự thật tự nhiên trong cuộc sống của con người, và can đảm đương đầu với các khó khăn gặp phải.

Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, khó khăn nhất định phát sinh. Những khó khăn lớn nhất trong đời sống là những khó khăn không thể tránh được phải đương đầu như già, bệnh và chết. Cố gắng tránh các khó khăn hay đơn giản là không nghĩ đến chúng chỉ có thể dịu đi tạm thời, nhưng tôi nghĩ có một cách giải quyết vấn đề tốt hơn. Nếu bạn trực tiếp đối đầu với khổ đau, bạn sẽ ở trong một vị thế tốt để đánh giá đúng chiều sâu và bản chất của vấn đề. Nếu bạn ở trong một trận đánh chừng nào mà bạn vẫn không hiểu tình trạng kẻ địch và khả năng chiến đấu của địch, bạn sẽ hoàn toàn không sẵn sàng và tê liệt bởi sợ hãi. Tuy nhiên nếu bạn biết rõ khả năng chiến đấu của đối thủ, loại vũ khínào kẻ địch sử dụng vân vân..., bạn sẽ ở trong một vị thế tốt hơn nhiều khi bạn lấm trận. Cũng giống như vậy, nếu bạn phải đương đầu với những khó khăn thay vì tránh chúng, bạn sẽ ở trong một vị thế tốt hơn để đuơng đầu với chúng."

Cách giải quyết những khó khăn này rõ ràng hợp lý, nhưng nhân mạnh vấn đề thêm một chút nữa, tôi hỏi: "Vâng, nhưng ngộ nhớ có lúc Ngài phải trực tiếp đối đầu với hó khăn, mà không tìm ra được giải pháp thì sao?" Thật khó mà dối phó ".

"Nhưng tôi nghĩ rằng tốt hơn vẫn là phải đương đầu với nó". Ngài trả lời với một tinh thần thượng võ."Thí dụ như, bạn có thể coi những vấn đề già và chết là tiêu cực, không ai mong muốn, và cố gắng quên chúng đi. Nhưng cuối cùng, những chuyện ấy vẫn đến. Và nếu bạn tránh không nghĩ đến chúng, vào một ngày nào đó, một trong những chuyện đó xẩy ra, bạn sẽ bị xốc nguyên nhân của tình trạng khó chịu tinh thần không chịu đựng nổi. Tuy nhiên, nếu bạn bỏ chút ít thì giờ nghĩ về tuổi già, cái chết, và những điều bất hạnh khác, tâm bạn sẽ vững vàng hơn khi những chuyện đó xẩy đến vì bạn đã quen thưộc với những vấn đề ấy và các loại đau khổ và đã lường trước chúng sẽ xẩy ra.

"Đó là lý do tại sao tôi tin là rất hữu ích khi tự mình chuẩn bị trước để không bị ngỡ ngàng trước những khổ đau mà bạn phải gặp. Lại sử dụng phép so sánh với trận chiến một lần nữa suy ngẫm về khổ đau có thể được coi như cuộc tập trận. Người chưa bao giờ nghe nói về chiến tranh, súng ống, bom đạn và vân vân sẽ hết sức sợ hãi khi ra chiến trường. Nhưng qua các tập luyện quân sự, tâm bạn có thể làm cho tâm trí bạn quen với những gì có thể xẩy ra, cho nên nếu chiến tranh nổ ra, nó sẽ không quá khắc nghiệt đối với bạn"

"Vậy thì, tôi có thể hiểu cách làm quen với những loại khổ đau mà chúng ta gặp phải có một tác dụng giảm bớt sợ hãi, nhưng hình như là đôi khi không có sự chọn lựa nào khác ngoài khổ đau có thể xẩy ra trong một số tình thế khó xử. Làm sao chúng ta có thể tránh lo lắng trong những trường hợp ấy?"

"Hãy thí dụ một trường hợp khó xử?

Tôi ngừng lại để cân nhắc ." Như thế này, thí dụ, một người đàn bà mang thai và qua xét nghiệm nước ối (amniocentesis) người ta phát hiện ra đứa trẻ sẽ bị khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng. Họ nhận ra đứa trẻ sẽ bị tàn tật nặng về tinh thần hay thân thể. Cho nên, hiển nhiên là người đàn bà sẽ hết sức lo ấu vì không biết phải làm gì. Bà ta có thể chọn cách làm điều gì đó trước tình trạng ấy và có thể phá thai, để đứa trẻ khỏi phải suốt đời đau khổ nhưng người đàn bà đó sẽ bị dày vò bởi cảm nghĩ mất mát lớn lao và đau đớn và có thể trải qua những cảm nghĩ khác như tội lỗi. Hoặc, bà ta có thể chọn cách để sự việc đi theo tiến trình tự nhiên và đứa bé ra đời. Nhưng rồi bà ta sẽ phải đối đầu suốt cuộc đời khó khăn và đau khổ cho chính mình và đứa con."

Đức Đạt Lai Lạt Ma chăm chú lắng nghe khi tôi nói. Bằng một giọng có phần đăm chiêu, Ngài trả lời, " Cách giải quyết những vấn đề này dù là theo cách nhìn Tây Phương hay Phật Giáo thì những loại tình trạng khó xử này quả là rất khó khăn, rất khó khăn. Bây giờ theo thí dụ của ông về quyết định phá thai vì khuyết tật bẩm sinh - không ai thực sự biết rút cục là cái gì có thể tốt hơn. Thậm chí nếu đứa trẻ sinh ra tật nguyền, rút cục điều đó có thể là tốt hơn cho người mẹ, hay cho gia đình hay chính đứa trẻ. Nhưng cũng có thể là tính đến hậu quả về lâu về dài sau này, tốt hơn là nên phá thai, vì rút cục điều đó có thể là tích cực. Nhưng ai là người quyết định đây? Quả là khó khăn. Thậm chí từ quan điểm Phật Giáo, loại phán xét đó vượt quá khả năng lý trí của chúng tôi." Ngài ngưng một chút và thêm, "tuy nhiên tôi nghĩ hoàn cảnh và niềm tin của họ sẽ đóng một vai trò trong cách ứng phó loại tình trạng khó khăn của những người đặc biệt này."
Chúng tôi ngồi im lặng.

Lắc lắc cái đầu, cuối cùng Ngài nói, "Bằng cách suy ngẫm về các loại khổ đau mà ta đề cập đến, bạn có thể chuẩn bị tinh thần trước những vấn đề đó ở một mức độ nào đó, bằng cách tự mình nhớ đến những sự việc mà bạn có thể tình cờ biết về những loại tình trạng khó xử trong đời. Cho nên bạn có thể chuẩn bị tinh thần trước. Nhưng bạn đừng nên quên sự thật là điều này không làm nhẹ bớt tình hình. Nó có thể giúp bạn có tinh thần để đối phó, giảm thiểu sợ hãi vân vân... nhưng tự nó không giảm bớt khó khăn. Chẳng hạn, nếu một đứa trẻ bị khuyết tật bẩm sinh sẽ ra đời, dầu cho trước đó tinh thần bạn có mạnh thế nào đi nữa, bạn vẫn phải tìm cách đối phó vấn đề. Cho nên. việc này vẫn còn khó khăn."

Trong khi Ngài nói, giọng ngài có vẻ buồn bã.- hơn là một nốt nhạc mà có lẽ là một hợp ấm. Nhưng bên dưới giai điệu này, không phải là một giai điệu vô vọng. Trọn một phút Đức Đạt Lai Lạt Ma ngưng nói, nhìn chằm chằm qua cửa sổ như thể tìm cái gì ngoài thế giới bao la, rồi lại tiếp tục, "Thực ra không có gì có thể tránh khỏi sự thật khổ đau là một phần trong đời sống. Và đương nhiên chúng ta có khuynh hướng tự nhiên không thích khổ đau và khó khăn. Nhưng tôi nghĩ rằng người bình thường không quan niệm chính bản chất của cuộc sống có đặc tính khổ đau..".Đức Đạt Lai Lạt Ma bỗng nhiên bắt đầu cười "Tôi có ý nói là vào ngày sinh nhật của bạn, người ta thường nói,"Chúc Ngày Sinh Nhật vui vẻ" khi thực tế là ngày sinh nhật là ngày sự ra đời khổ đau của bạn. Nhưng không ai nói "Chúc Mừng sinh nhật khổ đau " Ngài đùa.

"Chấp nhận khổ đau là một phần của cuộc sống hàng ngày, bạn có thể bắt đầu xét đến những nhân tố thường gây cho bạn cảm nghĩ không thỏa mãn và bất hạnh tinh thần. Nói chung, chẳng hạn, bạn cảm thấy vui sướng nếu bạn hoặc người thân của bạn nhận được những lời khen, danh tiếng, của cải, và những chuyện thích thú khác. Và bạn cảm thấy không hạnh phúc, và bất mãn, nếu bạn không đạt được những thứ ấy hay nếu địch thủ của bạn lại có những thứ ấy. Tuy nhien nếu bạn nhìn vào cuộc sống thường ngày, bạn thường thấy có quá nhiều các nhân tố và hoàn cảnh gây đau đớn, khổ sở và cảm tưởng bất toại nguyện, trong khi những hoàn cảnh đem niềm vui và hạnh phúc thì lại tương đối hiếm. Đó là điều mà ta phải chịu đựng dù thích hay không thích. Vì đó là thực tế của cuộc sống của chúng ta, thái độ đối với khổ đau của ta cần được thay đổi. Thái độ đối với khổ đau trở nên rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến cách ta phải đối phó với khổ đau khi nó phát sinh. Bây giờ, thái độ thông thường của chúng ta vốn rất ghét và không chịu dược đau đớn và đau khổ của chúng ta. Tuy nhiên nếu chúng ta có thể thay đổi thái độ của chúng ta đối với khổ đau, áp dụng một thái độ để ta chịu đựng được nó tốt hơn, như vậy nó có thể giúp chúng ta nhiều trong việc chống lại những cảm tưởng bất hạnh, bất toại nguyện và bất mãn về tinh thần

"Cá nhân tôi, sự tu tập giúp chịu đựng khổ đau mạnh và có hiệu quả nhất là thấy và hiểu khổ đau là bản chất tiềm ẩn của samsara (luân hồi) khỏi cuộc sống chưa giác ngộ. Bây giờ khi bạn kinh qua đau đớn về thể xác hay những vấn đề khác, đương nhiên ngay lúc ấy bạn có cảm nghĩ, " ôi chao, nỗi đau này quá khó chịu' Có một cảm giác không chấp nhận liên quan đến khổ đau đó, hồ như cảm nghĩ, 'ôi, tôi không thể chịu đựng được'. Nhưng vào lúc ấy, nếu bạn nhìn vào tình huống dưới một góc độ khác, và nhận ra rằng chính xác thân này, Ngài đập tay lên để biểu thị là có cơ sở thực sự của khổ đau thì bạn sẽ bớt cảm nghĩ không chấp nhận - cái cảm nghĩ dường như bạn không đáng phải đau khổ, và bạn là nạn nhân. Cho nên một khi bạn hiểu và chấp nhận thực tế, thi việc chịu đựng khổ đau chỉ là một điều bình thường tự nhiên .

Samsara (Tiếng Sanskrit, luân hồi) mà đặc điểm của nó là tình trạng cuộc sống có chu kỳ sống, chết và tái sanh vô tận. Từ này cũng nhắc đến tình trạng cuộc sống hàng ngày của chúng ta có đặc tính là khổ đau. Tất cả chúng sanh đều ở trong trạng thái đó, bị đẩy tới bởi những dấu ấn của nghiệp từ những hành động quá khứ và những trạng thái "ảo tưởng" tiêu cực của tâm, cho đến khi ta loại bỏ được tất cả những khuynh hướng tiêu cực trong tâm và đạt được tình trạng giải thoát.

"Vì thế, thí dụ, khi đối phó với vấn đề khổ đau mà người dân Tây Tạng đã phải chịu đựng, ở một mức độ nào đó bạn có thể nhìn vào tình thế và cảm thấy choáng váng, băn khoăn lo lắng."Làm sao điều đó có thể xẩy ra trên thế gian này ?" Nhưng từ một góc cạnh khác bạn cũng có thể suy ngẫm về sự thật là Tây Tạng cũng ở trong luân hồi", Ngài cười, "như hành tinh này và toàn thể giải Ngân hà". Ngài lại cười. "Vì vậy nên, dầu sao, tôi cũng nghĩ là cách bạn nhận thức cuộc sống nói chung đóng một vai trò trong thái độ đối với khổ đau. Chẳng hạn, nếu cách nhìn căn bản của bạn là rằng đau khổ là tiêu cực và phải cố tránh với bất cứ giá nào, trong một ý nghĩa nào đó, đây là dấu hiệu thất bại, như vậy nó sẽ thêm phần lo ấu và kém sức chịu đựng khi bạn gặp hoàn cảnh khó khăn, một cảm giác bị áp đảo. Mặt khác, nếu cơ bản là bạn nhìn nhận khổ đau là một phần tất yếu trong cuộc sống của bạn, thì chắc chắn điều đó làm cho bạn chịu đựng được nhiều hơn những nghịch cảnh của cuộc đời. Và không có sức chịu đựng nào đó đối với khổ đau, đời sống của bạn trở nên khổ sở, tựa như bạn trải qua một đêm bất hạnh. Đêm ấy dường như bất tận và dường như không bao giờ chấm dứt."

"Dường như đối với tôi khi Ngài nói về bản chất tiềm ẩn của cuộc sống có đặc điểm là khổ đau, căn bản là bất toại nguyện, có vẻ là một quan điểm khá bi quan, thực sự làm nản lòng". Tôi nhận xét.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhanh chóng làm sáng tỏ: "Khi tôi nói đến bản chất bất toại nguyện của cuộc sống, ta cần hiểu rằng đây là bối cảnh chung của Đạo Phật. Những suy ngẫm đó phải được hiểu trong bối cảnh thích hợp, trong khuôn khổ Đạo Phật. Nếu quan điểm khổ đau phải được nhìn nhận trong bối cảnh thích hợp, tôi đồng ý là có một nguy cơ hoặc thậm chí có khả năng hiểu lầm cách giải quyết này là khá bi quan và tiêu cực. Do đó, quan trọng là phải hiểu được lập trường căn bản của Phật Giáo đối với toàn bộ vấn đề khổ đau. Chúng ta thấy trong những lời giáo huân trước công chúng của Đức Phật, vấn đề đầu tiên Ngài dạy là nguyên tắc của Tứ Diệu Đế, Đế thứ nhất là chân lý về khổ đau. Nơi đây nhân mạnh về sự hiểu biết bản chất khổ đau của cuộc sống.

"Vấn đề phải nhớ là lý do tại sao phải suy ngẫm về khổ đau lại quá quan trọng là vì có khả năng thoát ra, có sự lựa chọn. Có khả năng thoát khỏi. Bằng cách loại bỏ nguyên nhân của khổ đau, có thể đạt được tình trạng giải thoát, tình trạng thoát khỏi khổ đau. Theo tư tưởng Phật Giáo,nguyên nhân căn bản của khổ đau là do vô minh, tham ái và sân hận. Những điều này được gọi "tam độc của tâm". Những từ này có ý nghĩa rộng đặc biệt trong văn cảnh Phật Giáo. Thí dụ, 'vô minh' không có nghĩa là thiếu tin tức được dùng theo nghĩa quen thuộc hàng ngày mà là nói đến nhận thức sai lầm căn bản về bản chất thực sự của cái ngã và tất cả các hiện tượng. Bằng cách phát triển tuệ giác vào bản chất thực sự của thực tế và loại bỏ trạng thái phiền não của tâm như tham và sân, ta có thể thanh lọc hoàn toàn tâm, thoát khỏi khổ đau. Trong phạm vi Phật Giáo, khi suy nghĩ về cuộc sống hàng ngày của một người có đặc điểm là khổ đau, điều này khuyến khích ta nên tu tập để loại bỏ nguyên nhân căn bản gây khổ đau. Mặt khác không có hy vọng, hay không có khả năng thoát khổ chỉ suy ngẫm khổ đau không thôi sẽ chỉ làm tư tưởng trở nên bệnh hoạn, và đúng là tiêu cực."

Nghe ngài nói, tôi bắt đầu cảm thấy cách suy nghĩ về "bản chất khổ đau" của chúng ta đóng một vai trò trong việc chấp nhận một đời sống không tránh được phiền não và thậm chí có thể có được một phương pháp có giá trị khi đặt những vấn đề hàng ngày của chúng ta vào một cách đáng giá đúng mức Và tôi bắt đầu nhận thức khổ đau được nhìn nhận ra sao trong một phạm vi rộng hơn là một phần của con đường tinh thần lý tưởng hơn nhất là về mô hình Phật Giáo công nhận khả năng thanh lọc tâm và cuối cùng đạt được tình trạng không còn khổ đau. Nhưng, không muốn nhìn vào những suy đoán triết lý to lớn, tôi tò mò muốn biết cách Đức Đạt Lai Lạt Ma đối phó với khổ đau ở mức độ cá nhân hơn, làm sao Ngài có thể đối phó khi mất một người thân chẳng hạn.

Khi lần đầu tôi viếng thăm Dharamsala nhiều năm trước đây, tôi có cơ hội biết Lobsang Samk, người anh của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Tôi rất thích ông ấy và rất buồn nghe tin ông chết đột ngột mấy năm trước đây. Biết Đức Đạt Lai Lạt Ma và ông rất gần gũi tôi nói " Tôi tưởng tượng cái chết của anh Ngài Lobsang làm Ngài rất đau đớn."

"Vâng"

"Tôi không biết làm sao Ngài có thể đối phó được việc đó?".

"Đương nhiên, tôi rất buồn, rất buồn khi biết tin anh tôi chết " Ngài nói một cách thanh thản.

"Và làm sao Ngài đối phó với cảm nghĩ buồn rầu đó? Tôi muốn nói là có cái gì đặc biệt đã giúp Ngài vượt qua?"

"Tôi không biết", Ngài nói có vẻ nghĩ ngợi. "Tôi cảm thấy buồn rầu mất vài tuần, nhưng dần dần cảm nghĩ đó qua đi. Nhưng vẫn còn cảm nghĩ ân hận".."

"Ân hận?"

"Đúng, tôi đi vắng lúc anh tôi chết, và tôi nghĩ nếu tôi ở nhà, có lẽ tôi có thể làm cái gì đó được để giúp anh tôi. Cho nên tôi có cảm giác ân hận".

Cả một đời suy ngẫm về sự khổ đau không thể tránh được của con người có thể đóng một vai trò trong việc giúp Đức Đạt Lai Lạt Ma chấp nhận sự mất mát, nhưng nó không tạo ra con người lạnh lùng vô cảm với sự cam chịu không gì lay chuyển trên khuôn mặt khổ đau. Sự buồn rầu trong giọng nói của Ngài cho thấy Ngài là người có xúc động con người sâu sắc. Đồng thời, tính bộc trực và cung cách chân thật của Ngài, hoàn toàn không chút than van hay tự cáo buộc tạo ra ân tượng không thể nhầm lẫn được về một con người chấp nhận hoàn toàn sự mất mát.

Vào ngày hôm ấy, cuộc nói chuyện của chúng tôi diễn tiến tốt đẹp cho mãi đến tận chiều. Luồng sáng vàng xuyên qua cửa chớp gỗ, đang từ từ tiến qua căn phòng tối. Tôi cảm thấy một bầu không khí u sầu tràn ngập căn phòng và biết cuộc thảo luận đã đến lúc chấm dứt. Nhưng tôi hy vọng sẽ hỏi Ngài cho chi tiết hơn về vấn đề mất mát, để xem Ngài có thể cho thêm lời khuyên về cách tiếp tục sống bình thường trước cái chết của một người thân, hơn là chỉ chấp nhận điều không tránh được về khổ đau của con người.

Trong khi tôi sắp sửa mổ rộng vấn đề, Ngài có vẻ hơi bối rối, và tôi nhận thấy vẻ mệt nhọc quanh mắt Ngài. Ngay lúc đó, người thư ký của Ngài lặng lẽ vào phòng và nhìn tôi, đã nhiều năm rèn kuyện trong thực tiễn, điều đó cho biết đã đến giờ tôi phải ra về.

"Vâng...", Đức Đạt Lai Lạt Ma nói một cách xin lỗi, "có lẽ chúng ta nên chia ra... tôi cảm thấy hơi mệt.'

Ngày hôm sau, trước khi tôi có cơ hội trở lại đề tài trong buổi thảo luận riêng với Ngài, vấn đề đã được đưa ra trong bưổi nói chuyện trước công chúng của Ngài. Một cử tọa, rõ ràng đang đau đớn, hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma, "Ngài có ý kiến gì về cách ứng xử trước một sự mất mát to lớn, như mất một đứa con chẳng hạn?"

Bằng một giọng từ tốn dịu dàng, Ngài trả lời, "Ở một mức độ nào đó tùy theo niềm tin riêng của con người. Nếu tin có tái sanh, theo nghĩ thì có cách giảm thiểu phiền não hay lo lắng. Họ có thể được an ủi về thực tế là người thân yêu của họ sẽ tái sanh.

"Với những người không tin có tái sanh, tôi nghĩ rằng vẫn có một số cách đơn giản giúp cho đối phó với sự mất mát. Trước tiên, họ có thể suy nghĩ rằng nếu họ lo lắng quá nhiều, bị áp đảo bởi cảm giác mất mát và phiền muộn, và nếu họ tiếp tục cảm thấy bị áp đảo không những điều đó trở thành rất tiêu cực và có hại cho chính họ, suy yếu sức khỏe của họ mà còn không có lợi ích gì cho người chết.

"Thí dụ, chính trường hợp của tôi, tôi đã bị mất vị gia sư kính yêu nhất của tôi, mẹ tôi và một trong những anh em tôi. Khi họ qua đời, dĩ nhiên tôi cảm thấy rất buồn, rất buồn. Nhưng tôi luôn luôn nghĩ rằng lo lắng quá cũng không ích gì, và nếu tôi quả thật thương yêu những người ấy, thì tôi phải làm tròn những mong ước của họ bằng môt tâm tư bình thản. Cho nên tôi nỗ lực làm như vậy. Vì thế tôi nghĩ rằng nếu bạn mất một người rất thân với bạn, đó là cách thích hợp nhất để giải quyết điều đó. Bạn thấy đây cách tốt nhất để giữ kỷ niệm về người ấy, tưởng nhớ tốt nhất, là hãy xem liệu bạn có thể thực hiện những ước muốn của người ấy hay không.

Lúc đầu, đương nhiên, cảm nghĩ đau buồn và lo ấu là sự phản ứng tự nhiên của con người trước sự mất mát. Nhưng nếu bạn để cho những cảm nghĩ mất mát và lo lắng tồn tại dai dẳng, sẽ có nguy cơ là, nếu không kiềm chế được những cảm nghĩ ấy chúng sẽ hồ như dẫn đến tự kỷ. Một tình trạng nơi mà chính bạn trở thành trọng điểm. Và khi việc đó xẩy ra, bạn bị tràn ngập bởi cảm nghĩ mất mát, và bạn cảm thấy chỉ có một mình bạn phải chịu đựng điều đó. Sự suy nhược phát sinh. Nhưng thực tế có nhiều người cũng phải chịu đựng cùng một loại kinh nghiệm như vậy. Vậy, nếu bạn thấy mình lo lắng quá nhiều, điều tốt cho bạn là nghĩ đến những người khác cũng trong cùng hoàn cảnh hay những trường hợp còn bi thảm hơn. Một khi bạn nhận thức như vậy, bạn sẽ không còn cảm thấy bị lẻ loi, như thể bạn đã tự mình nhắm vào để thoát ra. Điều đó có thể giúp cho bạn một phần nào an ủi.

Mặc dầu tất cả chúng sinh đều phải trải qua đau đớn và khổ đau, tôi thường cảm thấy những người được nuôi dưỡng trong một số nền văn hóa Đông Phương, hình như chấp nhận và chịu đựng khổ đau tốt hơn. Một phần là do niềm tin của họ, nhưng có lẽ là vì khổ đau được thấy rõ rệt ở những quốc gia nghèo như Ấn Độ hơn là ở các quốc gia giàu có hơn Đói kém, nghèo nàn, bệnh tật và chết chóc diễn ra hàng ngày ngay trước mắt. Khi già cả và bệnh tật, họ không bị gạt ra lề đường, không bị đưa vào viện dưỡng lão để được trông nom bởi những nhà y tế chuyên môn - họ vẫn ở lại trong cộng đồng và được săn sóc bởi gia đình. Những ai va chạm hàng ngày với thực tế của cuộc sống, không thể dễ dàng phủ nhận là đời sống có đặc tính khổ đau, và đó là một phần tất yếu của cuộc sống.

Khi xã hội Tây Phương đạt được khả năng hạn chế khổ đau do điều kiện sống khó khăn gây ra, dường như đã mất đi khả năng đối phó với khổ đau còn lại. Những cuộc nghiên cứu của các khoa học gia xã hội đã nhân mạnh là hầu hết những người dân trong xã hội tân tiến Tây Phương hay có niềm tin là thế gian này là một nơi tốt đẹp để sống, cuộc sống đó hầu như là công bằng, và họ là những người tốt đáng được hưởng những điều tốt đẹp ngẫu nhiên đến với họ. Niềm tin này đóng một vai trò quan trọng dẫn dắt một cuộc sống hạnh phúc và giàu có hơn. Nhưng khi sự phát sinh khổ đau không thể tránh được đã xói mòn niềm tin ấy và sẽ gây khó khăn để tiếp tục sống hạnh phúc và thực tế. Trong bối cảnh ấy, một chân thương tương đối nhẹ cũng có thể gây tác động tâm lý to lớn khi ta mất tin tưởng vào niềm tin căn bản về thế gian này là công bằng và rộng lượng. Kết quả là khổ đau tăng mạnh.

Chắc chắn là với sự tiến bộ kỹ thuật, mức tiện nghi vật chất chung đã cải thiện rất nhiều tại xã hội Tây Phương. Chính vì vấn đề đó mà sự thay đổi chủ yếu về nhận thức xảy ra vì khổ đau trở nên kém rõ ràng hơn, nó không còn được coi là bản chất căn bản của chúng sinh - nhưng đúng hơn là một sự bất thường, một dấu hiệu cho thấy cái gì đó đã sai lầm nghiêm trọng, một dấu hiệu của "sự thất bại" trong hệ thống nào đó, một sự vi phạm vào quyền được bảo đảm hạnh phúc!

Kiểu suy nghĩ như vậy nảy sinh những nguy hiểm ẩn tàng. Nếu chúng ta nghĩ rằng khổ đau là cái gì trái với tự nhiên, một thứ gì đó mà ta không phải nếm trải, thì đi tìm ai đó chịu trách nhiệm về cái khổ đau của chúng ta sẽ không bức thiết lắm. Nếu tôi không hạnh phúc, thì tôi phải là 'nạn nhân' của một người nào đó hay của một cái gì đó - môt khái niệm rất thông thường ở Tây Phương. Kẻ đối xử không công bằng có thể là chính phủ, hệ thống giáo dục, cha mẹ lộng hành, một gia đình tài quí, giống khác, hay người bạn đời không cẩn trọng. Hoặc chúng ta có thể tìm sự trách cứ vào bên tôi: Có cái gì sai, tôi là nạn nhân của bệnh tật, có lẽ là do gien khiếm khuyết. Nhưng nguy cơ tiếp tục tập trung vào việc định rõ sự khiển trách giữ lập trường của nạn nhân, là nhớ mãi khổ đau của chúng ta - với cảm nghĩ giận dữ, thất vọng và phẫn uất dai dẳng.
Đương nhiên, sự mong muốn thoát khỏi khổ đau là mục tiêu chính đáng của mỗi người. Nó là kết quả tất yếu vì chúng ta mong ước được hạnh phúc. Vì vậy nên, hoàn toàn chính đáng khi chúng ta tìm ra nguyên nhân của bất hạnh phúc, và làm tất cả những gì có thể được để làm nhẹ bớt các vấn đề, tìm kiếm giải pháp ở tất cả mức độ - toàn cầu, xã hội, gia đình, và cá nhân. Nhưng chừng nào chúng ta còn xem khổ đau là một trạng thái trái tự nhiên, một hoàn cảnh khác thường mà ta sợ hãi, cố né tránh và không chấp nhận, chúng ta sẽ không bao giờ nhổ được gốc rễ của khổ đau để bắt đầu một cuộc sống hạnh phúc hơn.

Nguồn:Quangminh.org.au