PDA

View Full Version : Học thuật tử vi



manutd
03-14-2007, 10:56 AM
Thấy anh Thành thắc mắc về 9 sao lưu gồm Thiên khốc, thiên hư, bạch hổ, thái tuế, thiên mã, đà la, kình dương, lộc tồn, tang môn.

Ngoài ra, còn nhiều sao lưu khác như lưu tuần, triệt, khôi việt, hồng đào...Lại còn lưu tứ hoá.:smile 62:

Đây là vấn đề lớn, hiện vẫn còn nhiều tranh cãi trên các diễn đàn lý số. Từ từ chúng ta sẽ bàn.

mantud xin khởi đầu bằng những cái cơ bản đã.

manutd
03-14-2007, 11:02 AM
ĐỜI NGƯỜI MƯỜI HAI BẾN NƯỚC - THÂN CƯ BẾN NÀO?

Khi nói đến Dịch Lý, Tử Vi, Phong Thủy và Tướng Mệnh thì hầu hết người Á Đông chúng ta ai cũng công nhận đó là những khoa học huyền bí rất có giá trị của người Trung Hoa từ hơn bốn ngàn năm về trước. Nói là có giá trị vì những khoa học này tuy gọi là huyền bí nhưng lại rất sát thực với cuộc sống hiện tại và giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong những sinh hoạt hằng ngày. Chẳng hạn, khoa Phong Thủy giúp cho chúng ta khi đang sống trên đời biết chọn lựa, điều chỉnh, sửa đổi cho tốt đẹp hơn căn nhà chúng ta đang ở, cơ sở thương mãi chúng ta đang điều hành, và khi chúng ta buông tay từ giã cõi đời thì cũng biết chọn lựa một nơi để yên giấc ngàn thu. :smile 5:

Quan niệm này rất quan trọng đối với người xưa, vì đây không phải cho chính bản thân chúng ta nữa mà cho con cháu chúng ta sau này. Chẳng hạn, vua Gia Long khi còn tại vị, ngài đã đíùch thân chọn địa điểm để xây lăng cho mình, bởi vậy, những triều vua về sau, tuy không có mấy ai tài giỏi như vua Gia Long, lại thêm lịch sử đã có nhiều biến chuyển, nhưng nhà Nguyễn vẫn kéo dài được hơn 150 năm. Khoa Tướng Mệnh giúp chúng ta biết người, biết ta trong vấn đề dùng người, kết bạn hoặc trong những việc giao dịch hằng ngày rất dễ dàng, chỉ qua một cái bắt tay nhau, đối diện nhau trong vài giây phút hoặc trao đổi với nhau vài câu chuyện mà có thể tránh được cái ân hận “lầm người” như chúng ta thường thấy. Còn thâm sâu hơn, như khoa Tử Vi Đẩu Số cũng giúp cho chúng ta biết mình, biết người một cách tường tận từ những chi tiết nhỏ nhặt cho đến tổng quát cả một đời người...:byebye:

Những khoa học huyền bí nêu trên tuy có đối tượng khác nhau, nhưng mục đích giống nhau, ví dụ, đối tượng của khoa Phong Thủy là nơi chúng ta ở, lúc sống là nhà, là cơ sở làm ăn, lúc chết là mộ phần, còn đối tượng của khoa Tử Vi Đẩu Số là con người, và cuộc đời của chúng ta, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết. Còn điểm tương đồng là những lãnh vực mà các khoa này diễn đạt và chi phối trong cuộc sống hằng ngày của một đời người. Chẳng hạn, khoa Phong Thủy chia căn nhà của chúng ta ra làm 8 cung, mỗi cung là biểu tượng một lãnh vực trong đời sống hằng ngày của chúng ta, đó là các cung Quan Lộc, cung Học Vấn, cung Gia Đạo, cung Tài Lộc, cung Địa Vị, cung Tình Duyên, cung Tử Tức và cung Quý Nhân, mỗi cung là mỗi hướng của căn nhà. Khoa Tử Vi cũng diễn đạt đời người qua 12 cung, cung Mệnh, cung Phụ Mẫu, cung Phúc Đức, cung Điền Trạch, cung Quan Lộc, cung Nô Bộc, cung Thiên Di, cung Tật Ách, cung Tài Lộc, cung Tử Tức, Cung Phu Thê, và cung Huynh Đệ. Trong ba bộ môn, Tử Vi, Phong Thủy và Tướng Mệnh, thì Tử Vi là khoa nặng về thiên mệnh hơn cả. Khi nghiên cứu về khoa Tử Vi Đẩu Số, chúng ta sẽ thấy rằng, một người sinh ra đời vào giờ nào, tháng nào và năm nào thì cuộc đời của người này đã được an bài từ giây phút đó.

Bởi vậy, chúng ta có thể nói, đời người mười hai bến nước, Thân cư bến nào thì cuộc đời của mình sẽ có sắc thái của bến mà thuyền đời mình đã buông neo.

Khi nói khoa Tử Vi chia cuộc sống của một người thành 12 lãnh vực là chúng ta chưa diễn đạt rõ trong 12 lãnh vực này thì lãnh vực nào sẽ nỗi bật nhất trong cuộc đời của người ấy? Khoa Tử Vi diễn đạt điều này bằng cung thứ mười ba, đó là cung Thân. Cung Thân không có một vị trí nhất định trong Thiên Bàn của lá số như 12 cung đã nêu trên, mà vị trí của cung Thân tùy thuộc vào giờ sinh của mỗi người và cung Thân chỉ đóng vào 1 trong 6 cung chính yếu là cung Mệnh, cung Phúc Đức, cung Quan Lộc, cung Tài Lộc, cung Thiên Di và cung Phu Thê mà thôi. Điều này phản ảnh một nhân sinh quan hợp lý của xã hội phong kiến: cuộc đời một người lúc sinh ra đã bị chi phối bởi số mệnh của mình (Thân cư Mệnh hay còn gọi là Thân Mệnh đồng cung), khi ra đời thì bị chi phối bởi xã hội (Thân cư Thiên Di), bởi công danh sự nghiệp (Thân cư Quan Lộc hay Thân cư Tài Lộc), bởi vợ chồng (Thân cư Phu Thê) và bởi phúc đức của chính mình tạo ra hoặc thừa hưởng của ông bà cha mẹ (Thân cư Phúc Đức), chứ không bị chi phối bởi con cái (Tử Tức), anh chị em (Huynh Đệ) hoặc bạn bè hay người ăn người làm của mình (Nô Bộc)...

:97: Khoa Tử Vi Đẩu Số cũng cho rằng, trong 13 cung của một lá số thì cung Mệnh và cung Thân là hai cung quan trọng nhất. Cung Mệnh nói lên nét tổng quát cả cuộc đời của người đó và nhấn mạnh giai đoạn khởi đầu của cuộc đời gọi là tiền vận, tức là từ lúc sinh ra cho đến đoạn đời trong khoảng 30 đến 36 tuổi và cung Thân là bức tranh của đoạn đời còn lại hay còn gọi là hậu vận.
Bởi sự quan trọng của cung Thân như vậy, cho nên một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là: “Thân cư cung nào thì cung đó sẽ là lãnh vực sinh hoạt chính yếu trong cuộc đời của người đó”. Như chúng ta đã nói ở trên, Thân chỉ ở vào 1 trong 6 cung chính và Thân an theo giờ sinh, cho nên những người sinh vào giờ Tý hay giờ Ngọ thì Thân đóng ở cung Mệnh, gọi là Thân cư Mệnh, hay Thân Mệnh đồng cung, những người sinh vào giờ Sửu hay giờ Mùi thì Thân cư Phúc Đức, những người sinh vào giờ Dần hay giờ Thân thì Thân cư Quan Lộc, những người sinh vào giờ Mão hay giờ Dậu thì Thân cư Thiên Di, những người sinh vào giờ Thìn hay giờ Tuất thì Thân cư Tài Lộc và những người sinh vào giờ Tỵ hay giờ Hợi thì Thân cư Phu Thê.

Từ ý nghĩa căn bản đó của khoa Tử Vi, khi biết một người sinh vào giờ nào, chúng ta có thể phác họa được một nét tổng quát về cuộc đời của người này sẽ như thế nào, và đó chính là một trong những sự kỳ diệu của khoa Tử Vi Đẩu Số, một trong những khoa học huyền bí của người Trung Hoa đã có từ hơn bốn ngàn năm trước. Và kỳ sau, chúng ta sẽ nói về những nét đặc điểm và ý nghĩa về cuộc đời của những người có số Thân cư Mệnh, hay còn gọi là mẫu người Thân Mệnh Đồng Cung, tức là những người sinh vào giờ Tí, giờ theo đồng hồ là từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng, hay những người sinh vào giờ Ngọ, từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều.

Thân cư Phu Thê
Dù trong thời đại nào, dù phương Đông hay phương Tây thì gia đình vẫn luôn luôn là nền tảng của xã hội. Trong khoa Tử Vi Đẩu Số gia đình được thể hiện qua hai cung Phu Thê và Tử Tức. Hai cung này nói lên những vấn đề vợ chồng, con cái của mỗi người. Chúng ta vẫn thường nghe câu: “Sau lưng một người đàn ông thành công là một người đàn bà đảm đang tài giỏi.” Có phải vì vậu mà cung Phu Thê của người đàn ông có tầm quan trọng không kém gì hai cung chính là Quan Lộc và Tài Bạch? Còn đối với phụ nữ thì cung Phu Thê lại càng quan trọng hơn. Sự đánh giá này rất hợp lý với thời phong kiến xa xưa. Trong xã hội phong kiến, người đàn bà chỉ là cái bóng mờ, hầu như không có những sinh hoạt nào ngoài xã hội. Và cuộc đời của họ như thế nào cũng do cung Phu Thê của họ định đoạt mà thôi. Thật đúng với ý nghĩa “xuất giá tùng phu”

Ngày nay, người đàn bà đã ra ngoài xã hội, đã có vai trò và vị trí không thua kém gì người đàn ông. Nhưng dù sao, đối với quan niệm của người Á Đông chúng ta thì không phải vì vậy mà sự quan trọng của cung Phu Thê bị giảm đi. Trong thực tế hai chữ “gia đạo” lúc nào cũng là nền tảng của cuộc sống con người trong bất cứ thời đại nào hay xã hội nào. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ ràng và đậm nét trong mẫu người Thân cư Phu Thê.

Những người sanh vào giờ Tỵ (từ 9am tới 11am) hoặc giờ Hợi (từ 9pm tới 11 pm) thì Thân sẽ nằm vào cung Phu Thê. Người ta cho rằng dằn ông có Thân cư Phu Thê là số được nhờ vợ và nể vợ. Đàn bà có Thân cư Phu Thê là số nhờ chồng và nể sợ chồng. Điều này không đúng, chúng ta sẽ bàn đến sau.

Mẫu người Thân cư Phu Thê có nhiều nét đặc biệt, nhất là trên lãnh vực tình cảm. Người Thân cư Phu Thê thường gặp người chồng/vợ mình trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Họ gặp nhau và có tình cảm với nhau như đã quen biết nhau từ kiếp trước, nay lại gặp nhau đễ xây tiếp lâu đài tình ái còn đang dang dở, hoặc trả tiếp cho xong cái duyên nợ chưa tròn, tùy theo lá số của mỗi người.

Từ nét đặc biệt đó mà người Thân cư Phu Thê có một cuộc sống ràng buộc nhau rất mật thiết. Sự ràng buộc chặc chẽ này có thể do từ tình cảm tốt đẹp mà họ có được, nhưng cũng có thể là vì hoàn cảnh mà họ phải chịu trói buộc với nhau. Hình ảnh bị trói buộc với nhau vì hoàn cảnh điển hình nhất mà chúng ta đã thấy trong thời gian trước đây đó là hình ảnh của cựu Tổng Thống Bill Clinton. Dù đang gặp một hoàn cảnh đắng cay, hay có thể nói là “còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi” Nhưng họ vẫn ở bên nhau, xuất hiện bên nhau trên truyền hình, trước công chúng đễ diễn tiếp cho xong vỡ tuồng mà họ phải diễn.

Nói một cách khác, trong lĩnh vực tình cảm, người Thân cư Phu Thê thường có một cuộc sống khắn khích với nhau, cho dù trong những trường hợp cuộc sống không được hạnh phúc hay gặp những hoàn cảnh ngang trái, dường như có một sợi dây vô hình nào đó cứ buộc chặc họ lại với nhau, không chia ly dễ dàng như những người khác.

Ngoài sự ràng buộc trong vấn đề tình cảm, người Thân cư Phu Thê còn có sự ràng buộc trong lãnh vực nghề nghiệp. Hầu hết họ và vợ/chồng của họ là những người làm cùng ngành nghề hay cùng chung một cơ sở thương mại với nhau. Có thể không cùng nghề nghiệp nhưng công việc của hai người luôn có sự liên hệ và hợp tác hổ trợ cho nhau.

Ngoài ra, người Thân cư Phu Thê thường có thêm một nghề tay trái nữa. Nghề tay trái này lúc đầu chỉ như một cái thú tiêu khiển của đương số, hoặc cũng có thể như một nghiệp mà họ phải theo đuổi. Dần dần có thể trở thành một lãnh vực sinh hoạt không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của họ. Cũng có một số người thành công, thành danh bởi nghề tay trái này hơn là nghành nghề chính của họ. Bây giờ chúng ta có thể trở lại với hai nghi vấn mà chúng ta đã đề cập lúc mở đầu:

* Có phải những người Thân cư Phu Thê là có số nhờ chồng/vợ hay không?

Đối với người Á Đông chúng ta thì chuyện “xuất già tùng phu” là một quan niệm bình thường. Do đó, nếu một người đàn bà có số Thân cư Phu Thê mà cuộc đời phải nương tựa vào chồng của mình thì đó là một điều hợp tình hợp lý. Nhưng đối với nam giới, nhất là trong xã hội phong kiến trọng nam kinh nữ, mộ người đàn ông có Thân cư Phu Thê là bị phán ngay là số nhờ vợ thì cũng tội nghiệp cho đương số.

Để giải đoán cho phân minh, chúng ta phải cân nhắc giữa cung Phu Thê và cung Mệnh của đương sự. Chẳng hạn, người có Thân cư Phu Thê, nếu Mệnh của đương số yếu hơn cung Phu Thê (Mệnh nhược Thê cường) có nghĩa là người vợ của đương số có khả năng hơn chồng về mọi mặt từ trong nhà cho đến những giao tiếp ngoài xã hội. Như vậy chúng ta có thể nghĩ rằng những gì tạo dựng nên trong cuộc sống chung của hai người thì phần lớn đều do tay của người vợ. Đối với người đàn bà có Thân cư Phu Thê, vì bối cảnh xã hội ngày nay có khác, hai chũ “tùng phu” không còn nữa cho nên chúng ta cũng phải cân nhắc như vậy.

Ngược lại nếu cung Mệnh của đương số tốt đẹp, sáng sủa hơn cung Phu Thê (Mệnh cương, Thê nhược) thì đây không phải là số nhờ chồng/vợ. Trường hợp này thông thường thì hai người cùng làm chung một ngành nghề hay cùng chung một cơ sở làm ăn, họ cùng góp sức tạo dựng với nhau trong cuộc sống chung, dĩ nhiên họ cũng có những sự ràng buộc chặc chẽ với nhau nhu đã bàn ở trên.

* Có phải người Thân cư Phu Thê là số nể, sợ vợ/chồng hay không?

Để trả lời vấn đề này, chúng ta cũng phải cân nhắc vấn đề mạnh và yếu giữa cung Mệnh và cung Phu Thê của đương số. Nếu Mệnh nhược Phu cường thì phải nể, sợ chồng là điều đương nhiên rồi. Chẳng hạn, lá số của một ông chồng có bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương thủ Mệnh, là bộ sao tiêu biểu cho văn cách nhưng cung Phu The lại có bộ sao Sát Pha Liêm Tham là biểu tượng cho võ cách. Trường hợp này việc điều hành từ trong ra ngoài cũng nhu vai trò chánh yếu trong gia đình đều do người vợ một tay thao túng hết. :chair[1]:

Điều này chúng ta cũng thấy rõ những đấng mày râu tuy cung Mệnh không thua kém gì cung Phu Thê nhưng cung Phu Thê lại có các sao như Thái Âm, Hóa Quyền tọa thủ hoặc hợp chiếu thì đấy cũng là hội viên cùng hội với Thúc Sinh rồi.:byebye:

manutd
03-14-2007, 11:05 AM
anh Thành đọc tham khảo nhé !

manutd
03-14-2007, 11:08 AM
Các sao tự hóa - Cách an và ý nghĩa
(Trích Việt Báo Online)

Sau sáu năm rưỡi ở Á Châu, người viết học hỏi được một số bí quyết tử vi mới lạ, cần trình bày rõ trước khi bàn các lá số. Trong số này xin nhấn mạnh bí quyết của sao tự hóa. :chair[1]:

Sao tự hóa nghĩa là sao hóa do ảnh hưởng ngay trong cung nó đóng. Cách định các sao tự Hóa gồm hai bước như sau:

Bước 1: Ðịnh can của mỗi cung:

Coi Giáp = 1, Ất= 2, Bính = 3, Ðinh= 4, Mậu= 5, Kỷ= 6, Canh= 7, Tân= 8, Nhâm= 9, Quý= 10...;

Lấy can năm sinh nhân hai cộng 1 thì được can của cung Dần, rồi từ can cung Dần theo thuận chiều kim đồng hồ mà định can các cung khác.

Như trường hợp Bill Clinton năm sinh là Bính Tuất (1946) nên can là Bính = 3. Ta được 3x2+1 = 7 = Canh, do đó các cung là Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ, vân vân...;

Bước 2: Ðịnh sao tự hóa cho mỗi cung

Sau khi lấy xong lá số tử vi theo phương pháp bình thường (hoặc sau khi định xong 14 chính tinh và Xương Khúc Tả Hữu) thì định được sao tự Hóa theo y hệt như bài thơ Lộc Quyền Khoa Kỵ dưới đây (các bạn nghiên cứu tử vi nên ráng thuộc lòng):

Giáp Liêm Phá Vũ Dương
Ất Cơ Lương Tử Nguyệt
Bính Ðồng Cõ Xương Liêm
Ðinh Nguyệt Ðồng Cơ Cự
Mậu Tham Nguyệt Hữu Cơ
Kỷ Vũ Tham Lương Khúc
Canh Nhật Vũ Âm Ðồng
Tân Cự Nhật Khúc Xương
Nhâm Lương Vi Phụ Vũ
Quý Phá Cự Âm Tham

Chú ý: Hữu=Hữu Bật, Vi=Tử Vi, Phụ=Tả Phụ

Điểm khác biệt là:

1. Dùng can của cung (tính từ bước 1) thay vì can của năm.

2. Sao phải ở trong cung mới có thể hóa được. Các sao ngoài cung không kể. Thí dụ: Lá số của Bill Clinton. Cung phụ mẫu can Quý, trong cung lại có sao Thái Âm nên Thái Âm tự hóa Khoa (ta viết t-Khoa cạnh Thái Âm). Chú ý rằng cùng cung không có sao nào tự hóa Lộc, Quyền, hoặc Kỵ. Ngoài ra 11 cung còn lại không có cung nào có sao tự hóa.

Sao tự hóa là yếu tố "cùng tắc biến" của khoa tử vi, nên hết sức quan trọng. Xem chúng y hệt như sao hóa bình thường (t-Lộc như Hóa Lộc, t-Quyền như Hóa Quyền, t-Khoa như Hóa Khoa, t-Kỵ như Hóa Kỵ).

Tiến Sĩ Đằng Sơn (tức VDTT của tuvilyso).

manutd
03-14-2007, 11:13 AM
:smile 27: Làm sao để giải được lá số tử vi?

Để giải đoán lá số tử vi, cần thực hiện qua các bước sau:
1. Quan sát và phân tích bố cục của các cung và các sao:
+ Thế đứng của các chính tinh: Sao nào đi với sao nào để thành cặp, vị trí của các cặp sao Âm Dương, Tử Phủ, Thất Sát, sao chủ mệnh. Miếu hãm của các sao.

+ Thế đứng của các ngôi: mệnh tài quan nằm ở đâu, phu thê ở đâu...:97:
+ Quan sát bố cục của các trung tinh, phụ tinh:
Trung tinh gồm các sao như: Khôi Việt Tả Hữu Tứ Hoá, Xương Khúc, Thanh Long, Quang Quý, Thiên Hình Thái Tuế, Kiếp sát, Lộc tồn, Lục sát ( Kình Đà Linh Hoả Không Kiếp), Thiên Mã.

Tuy nói là trung tinh, nhưng nhiều khi nó quyết định cục diện của lá số còn mạnh hơn cả chính tinh.

Kế đó phải kể tới vòng Tràng sinh, rồi Khốc Hư, Tang Hổ, các sao chỉ bộ phận trong cơ thể để đoán biết về đặc điểm ngoại hình, bệnh tật.

Từ sự quan sát bố cục lá số này, cần phải rút ra được:
- Điểm nổi bật nhất của lá số: Mấu chốt nằm ở cung nào, sao nào, cách cục nào
- Chỗ tốt ở đâu, chỗ xấu ở đâu.( Các ưu điểm và nhược điểm)
- Mức độ tốt xấu của từng yếu tố, ví dụ mức độ thành công về sự nghiệp, mức độ hạnh phúc trong gia đình...Nếu không nhận biết được mức độ thì không thể có kết luận khi giải số.

2. Xem xét riêng lẻ từng cung, từng sao
Về các cung: đầu tiên là cung mệnh, sau đó là cung hạn. Các cung còn lại thì tuỳ vào vấn đề muốn biết mà xem xét kỹ lưỡng hơn: ví dụ muốn hỏi về con cái thì căn cứ chính là cung Mệnh và cung Tử. Nhiều quan niệm coi cung Phúc là quan trọng khi xét bất cứ yếu tố nào của lá số, theo tôi thì không hẳn.:24[1]:

Về các sao: Phải xem chính tinh trước khi xem trung tinh và phụ tinh, nhất là chính tinh thủ trong những cung quan trọng đối với vấn đề cần luận đoán.
Từ chính tinh mà đánh giá tác dụng của trung tinh, cũng như từ sự kết hợp của chính tinh, phụ tinh, cung, ta mới xét đến các tiểu tinh ( phụ tinh).

Ví dụ: Tả Hữu phò tá cho Tử Phủ, Tam Minh phò tá cho Nhật Nguyệt. Tôi giỏi phải gặp vua hiền, mọi thứ phải đặt đúng chỗ của nó thì mới có tác dụng.
Ở bầu thì tròn ở ống thì dài, đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy, nên không phải chỉ một sao hay một cung quyết định lá số hay một vấn đề, mà là tương tác phối hợp giữa các sao, các cung.

Tương tự như vậy, cung mệnh và cung hạn phải được tính làm đầu trong mọi luận giải.

Nếu không xác định được thứ tự ưu tiên, thứ tự quan trọng thì việc giải đoán tử vi sẽ rơi vào một mớ bòng bong, và dẫn đến mất độ chính xác.

3. Tập trung vào từng câu hỏi, từng vấn đề.
Nghĩa là phải xác định được câu hỏi là gì để tập hợp và xử lý dữ liệu. Chỉ một câu hỏi nhưng có khi phải xem xét cả một lá số.
Sự tập trung và dứt khoát trong giải quyết vấn đè sẽ giúp luận giải được chính xác, vi tế hơn.

4, Định giờ sinh
Thực ra đây là thao tác quan trọng hàng đầu trước khi trả lời bất cứ câu hỏi nào đặt ra cho một lá số. Tuy nhiên vì việc làm này không phải dễ, nên tạm thời PC không trình bày trong khuôn khổ cuốn sách.
Với các bạn đọc có trình độ , hoàn toàn các bạn có thể xác định được và nên xác định giờ sinh. Sau khi trải qua ba bước noí trên, thì có thể xác định được tới 70% giờ sinh đã chọn là đúng hay sai.
Thao tác định giờ sinh được dựa chủ yếu trên:
- Hình dáng của đương số
- Đặc trưng về thân nhân
- Các sự kiện quan trọng trong từng niên hạn ( năm), nguyệt hạn (tháng)
Người giải đoán số cần có kinh nghiệm và sự nhạy cảm cần thiết. Có lúc chỉ nhờ có 1 sự kiện, một dấu vết để biết là có đúng giờ đó hay không.

1. Biểu tượng
a, Chính tinh
- Âm dương biểu tượng cho đôi mắt, thần thái, khả năng tình dục, sự thể hiện tình cảm và nhân sinh quan.Có cả khả năng điều hoà nữa.
- Tử Phủ biểu hiện dáng người, cân nặng, thế đi đứng, oai phong.Lục phủ ngũ tạng.
- Tham Lang thể hiện nhu cầu vật chất, nhu cầu tình dục, lòng tham. Phần thân dưới, những bộ phận nở nang như mông, ngực.
- Thiên Cơ thể hiện trí tuệ, khả năng tính toán, tổ chức.Tượng là cái trán, phần mày mắt.
- Vũ Khúc: Khả năng nghệ thuật, tài chính. Cái mũi, phần lườn, cánh tay.
- Cự Môn: Khả năng kháng cự, khả năng ngôn ngữ.Miệng, hậu môn, bộ phận dưới.
- Liêm trinh: Lập trường, cá tính, uy nghiêm. Phần xương cốt trên khuôn mặt, thần thái uy nghiêm trên toàn bộ cơ thể.
- Thiên tướng: Khả năng lãnh đạo, sai khiến người khác, năng lực quân sự. Cái đầu.
- Thiên đồng: Lượng mỡ trong người, phần dưới hai gò má ( thịt bao xương quai hàm), cái bụng.
- Thiên Lương: Lương tâm. Cột sống. Nhân trung.
- Thất sát: Tính cương quyết, dám làm dám chịu, có thể trả đũa hay sát phạt. Hàm răng. Xương và tính chất của bàn tay.
- Phá quân: Tính quật cường, làm phản, lập dị. Ấn đường và hai chân mày.

2. Trung tinh, phụ tinh
- Tả Hữu:Khả năng nhường nhịn, vị tha, thích ứng. Đôi vai, đôi tay.
- Hoá Khoa: Tư duy tri thức .Bộ não, sự đầy đặn rộng rãi của trán.
- Hoá Quyền: Khả năng quyết định, làm chủ. Gò má.
- Hoá Lộc: Khả năng buôn bán, kiếm lợi từ thiên hạ.Tóc, râu
- Hoá Kỵ: Tính đố ky, nghi ngờ, đối nghịch. Cái lưỡi, đôi môi.
- Khôi Việt: Vẻ sang trọng. Khu vực đầu mặt.
- Xương Khúc: Tình cảm, năng lực tưởng tượng. Xương, khớp.
- Kình Dương, Mộc dục: Bộ phận sinh sản của nam nữ.
- Thai: Tử cung
......
2. Cách cục
a. Giàu:
- Thái Âm, Vũ Khúc, Tham Lang, Thiên Phủ, Hoá Lộc, Thiên Mã, Lộc tồn được sinh vượng hay đóng tại mệnh mà hợp cách.
- Các sao tài tinh nói trên hội tụ cùng nhau.
- Tham ngộ Hoả Linh
- Tài, Phúc, Điền tốt.
- Riêu Lộc Trù đều vượng và bổ trợ cho mệnh.

b. Sang
- Âm Dương Xương Khúc Khôi Việt Khốc Hư đắc địa, phối hợp.
- Chính tinh hãm mà nhiều phụ tinh mạnh mẽ hỗ trợ, đặc biệt là Tam hoá.
- Vô chính diệu đắc cách: có trụ cột ( triệt tuần hay hung tinh đắc), có cát tinh chầu.
- Thanh Long Lưu hà, Thanh Long Hoá Kỵ, Tứ Linh đắc thời, đắc địa.
- Tử Vi, Phá Quân có nhiều trung tinh phò tá hợp cách.
- Sinh Vượng ở nơi vô chính diệu hay đất thuỷ mộc.
c. Uy quyền
- Thiên Tướng, Vũ Khúc, Thất Sát có khí thế mà ứng với mệnh hay hạn.
- Cô, quả, đẩu quân, thái tuế
- Hoá Quyền.
- Mã Khốc Khách, Hoa cái.
- Khôi Việt vượng và có cặp.

d. Hạnh phúc
- Đào Hồng Hỉ, Thiên Trù, Hoa cái, Thanh Long, Thiên Riêu, Âm Dương, Long Phượng,Thai Toạ, Quang Quý.Những sao này chỉ niềm hạnh phúc trong tâm hồn. Nếu chúng đóng tại cường cung, nếu được sinh vượng và hội cùng nhiều cát tinh thì hạnh phúc được hưởng sẽ rõ nét, ngược laị thì dễ bất hạnh.
-Cung Mệnh và cung Phúc có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trạng thái tâm lý chính của đương số. Hai cung này tốt thì dù đời có nhiều gian khổ, đương số vẫn cảm nhận được nhiều hạnh phúc.

e. Sức khoẻ, tuổi thọ
- Cách xấu: Xương Khúc với Hoá Kỵ, Cơ với Hoả Linh, Lương Tham với Kình, Nhật Nguyệt với Kình Đà Riêu Kỵ, vô chính diệu mà không có người trông giữ ( triệt tuần, thanh long, lục sát vượng), Tử Phủ với kiếp không thêm sát tinh...
- Cách tốt: Chính tinh miếu địa, sát tinh không khắc với chính tinh và bản mệnh. Vòng tràng sinh tốt. Phúc tinh được vượng và ở cường cung.
- Sao Bệnh, Tuyệt, Kiếp sát và Hoá Kỵ đặc biệt không tốt cho sức khoẻ. Có nó thì tiêu chí bệnh tật tai nạn rõ nét, và dai dẳng.:chair[1]:

1. Cung mệnh
Mệnh cung là chủ thể của cả lá số tử vi. Phái tử vi phúc tông cho rằng cung Phúc là quan trọng nhất, nhưng không phải vậy. Cung Mệnh mới là cái gốc để xét đoán mọi vấn đề trong lá số.
* Khi quan sát cung Mệnh người ta xét các yếu tố sau:
- Vị trí của cung mệnh trên lá số: nằm ở cung nào trong số 12 cung từ Tí đến Hợi. Nhị hợp, tam hợp, xung chiếu, giáp các cung nào.
- Các sao đóng trong mệnh, chiếu hợp vào mệnh. Có xem xét cả miếu vượng của sao.
- Tương tác giữa các sao có ảnh hưởng, giữa sao với cung mệnh, giữa cung mệnh với bản mệnh ( gồm mệnh nạp âm, can chi tuổi).
* Thông tin có được từ cung Mệnh:
- Cách cục chính của đương số
- Hình
dáng, tính cách, tài năng
- Một phần sự thành công trong cuộc đời: về tiền tài địa vị hay hôn nhân, thậm chí cả con cái.
- Mối tương quan giữa bản thân đương số với thân nhân và với xã hội xung quanh.

* Thế nào là một cung mệnh tốt?

Cung Mệnh tốt là một cung mệnh thể hiện sự cường vượng, nhưng lại có sự hài hoà với các cung khác. Mệnh nam thì cần chỉ huy được các cung khác, thu hút được nguồn lực từ tam phương tứ chính., còn mệnh nữ chủ yếu cần nhu thuận, giúp đỡ cho các cung khác đặc biệt là cung chồng và cung con, tức cung Phu và cung Tử.

Như vậy một cung Mệnh tốt thường sẽ có:
- Chi của cung hoà hợp với bản mệnh: tương sinh hay ngang hoà với mệnh nạp âm. Nếu chi của cung
trùng với chi của tuổi, thì rất tốt trong việc hỗ trợ cho những người mệnh yếu. Đây cũng là một chỉ dấu thuộc quý cách.
- Sao chính tinh thủ mệnh được sinh vượng, có ứng hợp với bản mệnh thì càng tốt.
- Cung mệnh hội tụ được các quý cách, phú cách. ( Tham khảo các sách tử vi đã xuất bản).
Vì có ảnh hưởng tới nhiều cung trong lá số nên mệnh mà có Thất Sát thì thường có tính khắc với thân nhân.

2. Cung Phúc
Người ta thường coi cung Phúc là nói về họ hàng của đương số, và phúc phần của đương số.

Tôi trong nghiên cứu thấy rằng ý nghĩa về họ hàng không được chính xác lắm. Vì trong một họ có người giàu người nghèo, người tốt kẻ xấu, chênh lệch đã rất nhiều. Anh em lá số còn khác nhau huống chi cả dòng họ.

Ý chủ yếu của cung Phúc là thể hiện sự may mắn, được che chở hay không. Nếu một cung Phúc tốt thì đương số dễ gặp thuận lợi, an nhàn, được quý nhân giúp đỡ. Phúc vì tam hợp với Phu Thê nên tất nhiên có ảnh hưởng quan trọng tới người chồng, người vợ. Ngoài ra cung Phúc còn có ý nghĩa hỗ trợ để xem về con cái và bản mệnh thọ yểu của chính đương số.

Những sao đóng trong cung Phúc có ý nghĩa chỉ ra hạnh phúc và phúc đức của đương số phụ thuộc vào điều gì. Như cung Phúc có Đào Hồng sinh vượng thì hạnh phúc có được về tình duyên là rất đáng kể. Nếu Hoá Kỵ ở cung Phúc thì thường phải lao tâm khổ tứ, trắc trở tình duyên.

3. Cung Tài
Cung này chủ tiền bạc và các vấn đề liên quan tới tiền bạc của đương số. Nó không phải là cung duy nhất quyết định giàu nghèo như nhiều người lầm tưởng.

Nó cũng có thể là một cung chỉ tài năng, năng lực và công việc. Bởi vì những thứ này đều liên quan chặt chẽ tới tiền bạc. Ý nghĩa tài bạch không chỉ là tiền, mà bao hàm cả tài năng, năng khiếu.

Cung Tài tốt thì nên có tài tinh như Vũ Khúc Thái Âm Song Lộc, Trù Riêu, Linh Hoả hợp cách.... Có hung tinh cũng có thể tốt chứ không phải luôn luôn xấu, có điều hung tinh thì kiếm tiền hay dựng nghiệp sẽ vất vả hơn người khác.Thêm các sao có tính tích trữ, che giấu thì thường là tốt hơn, vì lộ ra thì dễ bị tranh cạnh.

Tài cung toàn sao rực rỡ sáng sủa nhưng lại không có tài tinh, tài tinh
trong lá số bị phá hãm, thì chỉ giàu bề ngoài mà thực chất nghèo, hay ít của chìm.

4.Cung Phu hay Thê
Cung này chỉ người hôn phối. lại chỉ cả tính chất, kết quả của mối quan hệ giữa đương số với người khác pháì.

Cho nên một cung Phu Thê quá xấu thì kết hôn mấy lần vẫn chẳng được hài lòng. Còn cung Phu Thê tốt thì tuy vẫn có thể hai lần kết hôn, nhưng lấy được người ưng ý, cảm nhận được hạnh phúc và thuận lợi trong hôn nhân.
Cung Phu Thê không thể xem tách biệt mà phải kết hợp cùng cung mệnh, Nhật Nguyệt và các sao tình duyên để đoán.Tuy nhiên cung này đặc biệt có ý nghĩa khi luận hạn, hay xác định các điểm đặc biệt, sự kiện đặc biệt về người hôn phối, như năm kết hôn....

Hôn nhân ngoài đời rất đa dạng, từ nguyên nhân và hoàn cảnh lấy nhau lẫn đời sống gia đình. Do vậy nếu nhìn một cung Phu Thê xấu cũng chưa đoan quyết được là bỏ nhau, hay sát phu sát thê. Có thể chỉ đơn giản là lúc kết hôn bị nhiều phản đối, chung sống đồng sàng dị mộng.... Người phụ nữ ngoại tình có thể là rất tồi tệ đối với người đàn ông này, nhưng lại là chấp nhận được trong mắt người đàn ông khác.:23[1]:

Cho nên ý nghĩa của cung Phu Thê biến chuyển linh hoạt, tuỳ vào phối hợp trong lá số mà xác quyết.

5. Cung Tử tức
Tử tức cung không những chỉ về con mà còn nói lên khả năng sinh sản, sinh dục nói chung. Vì lẽ đó mà khi các sao Thiên Hình Kiếp sát xuất hiện, thì người mẹ dễ phải mổ xẻ lúc lâm bồn.

Cung này được phép tốt hơn cung mệnh hay bất cứ cung nào trong lá số, theo đúng tinh thần của câu : "con hơn cha là nhà có phúc". Cung Tử tức tốt có nghĩa là các sao đúng cách cục, thể hiện ý nghĩa thấp nhất là con cái dễ nuôi, có hiếu, cao hơn thì là con cái phú quý làm rạng rỡ tổ tông.

Quan niệm truyền thống thường ưa có quý tinh và phúc tinh trong cung mệnh. Quyền tinh, sát tinh nếu xuất hiện nhiều thì có thể là hoạ, có thể là phúc, vì nó nếu không chỉ việc khó nuôi con, con hư hỏng thì đe doạ đến một cung mệnh yếu đuối: đây là đứa con khắc cha mẹ.

Quý tinh là gì? Là Nhật Nguyệt sáng sủa, tam hoá, long phượng, cái mã, khôi việt... Phúc tinh thì có Đồng Lương, Thiên phủ, Tứ đức, Quan Phúc, Quang
Quý...

6. Cung Điền trạch
Có câu: An cư thì mới lạc nghiệp. Ấy vậy mà người ta lại cứ đi coi Điền là một nhược cung.

Cung Điền chỉ nhà cửa, tài sản lớn, sự nghiệp lớn . Thời nào thì thời, quan to tất cái nhà thường cũng phải to, còn người nghèo thì nhà rách vách nát, thậm chí không có nhà . Thế nên cứ ngắm cung Điền thì biết được nhiều việc về sự giàu có hay nghèo hèn. Các ông quan to, giám đốc, lãnh đạo cung Điền phải rất tốt, nếu không thì khó mà tạo dựng được sự nghiệp, có tạo được thì cũng chỉ là danh tiếng suông, không có thực lực.

Cung Điền hay nhất là có tài tinh, có sao chủ sự sang trọng đẹp đẽ như Long Phượng Thai Toạ. Ngoài ra nên có sao chủ sự uy nghiêm, sự hỗ trợ, sự bảo vệ, như Tả Hữu, Quan Phúc... để ý nghĩa về sự nghiêp được tốt đẹp.
Người có cung Điền tốt thì trong sự nghiệp có thể có những đầu tư vào lĩnh vực lớn như xe hơi, bất động sản. Cung điền suy yếu thì dù các cung khác có tốt, cũng chỉ nên làm các lĩnh vực gắn với sản phẩm nhỏ.

7. Cung Quan Lộc
Cung này ý nghĩa chính yếu nhất là nói lên công việc của đương số, những công việc mà đương số có duyên làm, có thể làm. Ngoài ra còn có ý nghĩa chỉ cấp trên, cơ quan.

Đương nhiên một cung Quan tốt thì công việc dễ dàng, thuận lợi. Có nhiều sao chủ quyền quý tài năng thì chuyên môn cao, có thể có khả năng lãnh đạo. Ý nghĩa quyền chức không thực sự quyết định tại đây. Chính vì vậy ta thấy ngoài đời có nhiều người chẳng giỏi về chuyên môn nhưng vẫn có ghế, có quyền thế đàng hoàng, đó là vì các cung như Điền, Di, Mệnh, Nô phối hợp tốt. Trường hợp Quan tốt và các cung kia cũng tốt thì địa vị có được do thực taì. Quan tốt cũng thường là công chức, làm cho chính quyền, nhà nước. Còn Quan không tốt thì là dân tự do nhiều hơn, và vẫn có thể thành đạt.

Tuỳ vào ngũ hành, tính lý và biểu tượng của các sao trong các cung Mệnh Tài Quan mà quyết định về nghề nghiệp, cung Phu Thê có thể bổ túc thêm với ý nghĩa tạo cách cục, hay chế hoá cho Quan Lộc.

Cung Quan còn thể hiện những gì đương số nhận được từ xã hội, từ người trên, cấp trên, cái này người ta gọi là " được lộc". Chữ Lộc ở đây không chỉ có nghiã hẹp là tiền tài.

8. Cung Thiên Di
Cung này chỉ khả năng thích ứng với xã hội và hoạt động trong xã hội . Với ý nghĩa đó thì nó sẽ gồm cả: khả năng kết giao bè bạn, lãnh đạo, thích ứng hay chỉ huy hoàn cảnh.... Và như vậy rõ ràng là một cung Di tốt sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của cuộc đời. Người Di tốt thì khả năng giao tế đa số tốt.

Trong một ý nghĩa nhỏ hơn, nó chỉ chung về các hoạt động di chuyển, di cư của người đó trong đời. Vì vậy có vai trò quan trọng khi điểm hạn và xem có sống xa quê hay không.

Cũng từ các lý luận trên, ta suy ra cung Di tốt là cung Di có nhiều sao chủ sự linh hoạt, bén nhạy, mềm mỏng. Vậy thì Khôi Việt, Nhật Nguyệt, Tấu thư, Xương Khúc, Hoá Khoa ... hẳn nhiên là tốt. Một cung Di quá tốt cho đương số lời khuyên: li hương lập nghiệp. Mã Khốc Khách Lộc Trường Sinh là một cách tốt đặc biệt cho cung Di. :byebye:

9. Cung Tật ách
Có quan điểm cho là Tật ách thể hiện bản chất con người , còn cung Mệnh chỉ là vỏ ngoài. Lý luận này có nhiều điểm mâu thuẫn.

Rõ ràng có những người thể hiện không khác nhiều với bản chất.

Do đó cung Tật ách chỉ là chỉ chung về bệnh tật tai ách mà thôi. Ngay cả đám ma thế nào cũng chưa chắc được, cái chết và đám ma không nhất thiết nằm ở cung Tật ách. Tuy cung này không phải là cường cung, nhưng vì bệnh tật và tai ách gây ra nhiều khổ cực, lo lắng cho đương số, nên cung Tật xứng đáng được xem xét kỹ càng.

Trong cung này, quyền tinh quý tinh gì cũng chẳng quan trọng, chỉ quan trọng về các sao biểu tuợng cho bộ phận cơ thể và các phúc thiện tinh. Dĩ nhiên ai cũng muốn khoẻ mạnh và ít tai tật. Vậy thì trong cung này, cần nhất là sự sinh vượng và tránh sát tinh. Chính tinh vượng địa, Quang Quý Quan Phúc Tứ Đức lúc nào cũng được chào đón. Triệt Tuần tại một cung Tật vô chính diệu cũng là cách tốt.

Muốn đoán cụ thể hơn thì từ tượng hình của các sao mà luận, không có gì phức tạp.

Có một vai trò bổ sung khác của cung Tật. Nếu cách của cung Mệnh là người che giấu, hay là người giả dối, thì người ta có thể suy ra tính cách bản năng của anh ta trong cung Tật ách. Nhưng ý nghĩa này rất mờ nhạt, hiếm khi phải sử dụng.

10. Cung Phụ mẫu
Phụ mẫu cung chủ yếu chỉ vai trò của cha mẹ trong đời sống của đương số, nói hình tượng hơn là ta nhìn cha mẹ của đương số qua lăng kính của chính đương số . Chứ không nhất thiết là nó có thể cho thấy chính xác cuộc đời của cha mẹ.

Trường hợp cung Phụ mẫu rất đẹp thì thường là cha mẹ khá, tất nhiên phải phối hợp với Nhật Nguyệt . Nhưng khi cung Phụ mẫu xấu thì chưa chắc cha mẹ đã kém, mà chỉ là đương số không nhận được hỗ trợ của cha mẹ, không được hưởng lộc hay tình yêu từ song thân. Còn có ý nghĩa khác: khắc phụ mẫu.

Nằm trong tam hợp Tử Phụ Nô, xung chiếu với Tật ách, Phụ mẫu có tác dụng phối hợp để luận giải những cung này.

11. Cung Huynh đệ
Huynh đệ cung chỉ số lượng anh em, sơ lược về cuộc đời của anh em và quan hệ của anh em với đương số. Cung này không quan trọng lắm.Nếu có nhiều cát tinh có khi còn là ý nghĩa xấu, bởi như vậy là mất hết tinh hoa của các cung khác.

12. Cung Nô Bộc
Cung này chỉ bạn bè, người dưới quyền, vợ bé. Hoàn toàn không có ý nghĩa: nếu cung Nô vượng cung mệnh suy tức là mình làm tôi tớ cho người khác.
Việc mình làm thuê hay mình hèn kém là do các cung Mệnh Tài Quan Điền Di chi phối, chứ không phải từ cung Nô.

Cung Nô cần nhất là tính hoà thuận, hỗ trợ, nên có Tả Hữu là hợp nhất, không nên gặp hung sát tinh và các sao chỉ bất hoà như Hoá Kỵ, Phá Điếu. Cung này mà nhiều sao tình duyên chứng tỏ đời sống tình ái phong phú, nhiều chi nhiều nhánh, hoặc phóng túng .

1. Thái Dương, Thái Âm
Sao Thái Dương chủ về người cha, người chồng, con trai, yếu tố dương trong cơ thể đương số. Ngược lại Thái Âm chủ người mẹ, người vợ, con gái, yếu tố âm.
Âm Dương cả bộ cho biết hệ thần kinh, khả năng điều hoà, thích ứng, mối quan hệ vợ chồng, đồng thời còn là biểu tượng của đôi mắt.
Trong số các chính tinh thì Âm Dương có vẻ ngoài dễ nhìn nhất. Nét đẹp của Âm Dương sáng sủa, thanh tú. Nếu cùng với các cát tinh, đào hoa tinh thì nghiêng nước nghiêng thành.
Hai sao Âm Dương nếu được sinh vượng, hội cùng nhiều cát tinh phò tá là một sự may mắn lớn. Trong trường hợp này thì dù công danh tiền bạc, thân nhân hay hạnh phúc nói chung của cuộc đời đều được thêm phần tốt đẹp.Người có Âm Dương như vậy không bao giờ là kẻ bần cùng, cuộc sống được mức trung bình trở lên.

2. Hoá Khoa
Thật chẳng ngoa khi các nhà nghiên cứu đi trước tôn xưng Khoa tinh là Đệ nhất giải thần. Nhiều sao lúc cát lúc hung, nhưng riêng Hoá Khoa lúc nào cũng ban phúc. Đã có Hoá Khoa ở Quan hay Mệnh, hay Di, thì bất luận phú quý hay không, đều là người có trình độ, có hiểu biết, tính tình không đến nỗi tồi tệ.

Nếu Hoá Khoa được hợp cách, kết hợp cùng các sao tốt và cách cục tốt, thì nó đưa đương số đến tuyệt đỉnh vinh quang. Ý nghĩa của Khoa tinh không thiên về quyền chức, mà thiên về sự sang cả, học vấn, sự thông thái, thuộc hàng quý nhân văn chức trong xã hội. Sự thành công của Hoá Khoa trong trường hợp này là thành công đi kèm với công nhận và nổi tiếng, chứ chẳng thể là trọc phú hay anh hùng áo vải.

Cũng chính vì vậy mà Khoa tinh không nên bị hãm địa hay gặp Triệt Tuần, để đảm bảo tài năng được thi thố và thừa nhận, thi cử dễ dàng.

Khoa tinh còn biểu thị cho khả năng nghiên cứu chuyên môn, cho người đa tài, hiểu rộng, có tầm ảnh hưởng đến nhiều người.Khi giải hoạ nhờ Hoá Khoa, tai nạn được giải đi do chính nỗ lực hay phúc đức của đương số tạo ra, chứ không phải do tiền bạc, do người thân, v.v...Vì lẽ đó Khoa tinh đồng thời cũng đem lại tính cách tự chủ, có lập trường, có tự trọng mà không phải là ương ngạnh.

4. Thanh Long
Tuy thường bị là một sao nhỏ nhưng Thanh Long lại khá quan trọng .
Nguyên do là sao này chỉ khả năng linh tính, giác quan thứ 6. Nó đồng thời biểu tượng cho quyền uy của người lãnh đạo, của bậc thần linh, với biểu tượng con rồng. Những phản vi kỳ cách nhiều trường hợp là do thanh long, những điểm xấu được giải hoá một cách khó hiểu cũng lại do Thanh Long.
Bạn cứ kiểm lại những lúc mình may mắn do được linh tính, do trực giác, thì sẽ biết tác dụng của Thanh Long hữu ích như thế nào.

5. Đào Hồng
Hai sao này luôn phải để ý trong quá trình giải số. Vì tình yêu và hôn nhân quyết định một phần lớn cảm giác hạnh phúc hay bất hạnh trong đời người . Đào Hồng vừa chỉ tình cảm, cách yêu của chính đương số, vừa là hình bóng của người yêu đương số.
Đào Hồng tốt nhất là tránh xa sát tinh, được sánh cùng cát tinh. Đào Hồng không nên tụ cùng các sao tình ái, tính dục khác vào một chỗ, vì sự thái quá này sẽ gây nên tai hoạ hay dâm dục. Các sao đó là: Mộc dục, Thai, Thiên Hỉ, Thiên Riêu, Tham Lang, Kình dương, chính tinh hãm đặc biệt là Thiên Đồng hãm. Thái Âm hãm, Thất sát hãm.

6. Quang Quý
Tương đương với Hoá Khoa về tính cứu giải, nhưng Quang Quý hiệu lực khác biệt ở chỗ nó thể hiện bàn tay của đấng linh thiêng, trời phật, thể hiện công đức tích tụ lâu dài mà có, ngoài ra tượng trưng rõ ràng nhất cho thần phật.
Quang Quý chỉ thực sự tác dụng nếu đi kèm với hình tượng thần phật hay hoạt động tích phúc trong thực tế. Liên hệ tới việc cầu cúng, làm lễ tại chùa để xin lộc, hay giải nạn.
Quang Quý còn mang ý nghĩa ơn huệ, ưu ái, ưu tiên.

7.Hoá Kỵ
Sao này đúng là "đáng gờm" mỗi khi mở số ra. Về mặt xã hội, Hoá Kỵ chủ thị phi miệng tiếng, tai bay vạ gió. Về tình cảm Hoá Kỵ là sự bất hoà, cãi vã, bực dọc ngấm ngầm về nhau. Về sức khoẻ, Hoá Kỵ biểu trưng cho bệnh tật, đau ốm lâu dài, tiêu hoá kém. Nếu cách cục xấu thì còn bị bệnh tật về mắt, phụ nữ kinh nguyệt kém .Về tính cách, Hoá Kỵ phần nhiều đa nghi, thủ đoạn.
Chỉ được mỗi một cái là nó không tác dụng nhiều lên nhan sắc. Có Hoá Kỵ vẫn có thể xinh đẹp như thường.

Hoá Kỵ không nên gặp Nhật Nguyệt, Liêm Trinh, Cự Môn. Nên gặp Thiên Tướng, Thanh Long, Lưu Hà, Hoá Khoa thì mới có thể cứu giải.
Gặp cách tốt thì Hoá Kỵ là người kín đáo, giỏi tính toán hoạch định, biết nghề y dược, có thể có thành tựu lớn trong nghiên cứu, tham mưu, luật pháp.

ngoctuan
03-14-2007, 11:41 AM
bác manutd rành tử vi quá ta

manutd
03-14-2007, 01:50 PM
Ngọc Tuấn thân mến, mình chỉ mới võ vẽ thôi. Mới học mà. Thấy anh em đang cần thì cũng xắn tay áo lên. Ngại lắm, trên mạng bao nhiêu bậc anh tài, mình cứ múa rìu thì là ngu đấy.

Ngọc Tuấn cố gắng post bài cho diễn đàn nhé. Thân ái !

ngoctuan
03-14-2007, 02:25 PM
Vâng, em đang tập post lên đây, chắc nhờ bác khongtu chỉ gúp. Phải cố tham gia thôi, đứng ngoài không yên được. Thấy các bác làm việc có ý nghĩa quá, tích cực quá

manutd
03-14-2007, 03:01 PM
spam bài nhé ! Ngọc Tuấn xoá bớt đi nào.

nvthanhelec
03-14-2007, 09:20 PM
Bài viết của chauanh quá hay phải khong manutd, rất súc tích, lại dễ hiểu nửa. Thank manutd rất nhiều !

manutd
03-14-2007, 10:48 PM
Châu anh là một nữ kiệt của nhantrachoc. những khi manutd gặp khó khăn đều nhờ cô ấy giúp đỡ. cô ấy quả là rất nhiệt tình. hiếm có người nào được như vậy. giọng điệu trên diễn đàn, nhiều lúc hơi chanh chua nhưng cái Tâm thực sự thì rất tốt. Phải thừa nhận, Châu anh đã xây dựng nhantrachoc đi theo một hướng hoàn toàn khác biệt so với phần còn lại của lý số. Một diễn đàn trẻ và rất năng động.

Biết tử vi là đã có 1 tấm bản đồ. Nếu thông hiểu cả Kinh dịch, Chu dịch, bát tự, tử bình, độn giáp, nhân tướng học, chỉ tay, tính danh học, phong thuỷ huyền môn...chúng ta có một bức tranh hoàn chỉnh và rộng lớn về cuộc đời chúng ta, về thế giới này, trong hiện tại và tương lai. Thế nhưng, đã có ai làm được điều đó. Hoạ chăng là Khổng Minh tái thế ?

manutd
03-17-2007, 10:45 AM
Luận về Hoả Linh, Không Kiếp:

1/ Hoả Linh
Hoả tinh vốn là sao Hoả thuộc bộ Lục sát tinh, cam đảm, dũng mãnh, nóng nảy, táo bạo, liều lĩnh, đắc địa ở các cung ban ngày Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ và gặp nhiều cát tinh thì mới tốt, phú quý vô cùng. Nếu gặp chính tinh chỉ huy đắc địa và hợp mệnh thì cũng cam đảm, nghiêm túc, hay ghen, táo bạo, liều lĩnh.

Theo người viết thì Hỏa tượng lửa dưới đất, Linh tượng lửa trên trời, lửa do sấm sét tạo ra. Là sát tinh, chủ sát phạt (TTL). Hãm địa thì thâm trầm, nham hiểm, hay giết chóc, sát phạt, đốt phá, cô bần, gây tại họa, bệnh tật, giảm thọ nên còn gọi là Đoản Thọ sát tinh nhưng nếu nhập miếu lại giúp ích lớn lao.

Hỏa Linh hợp với người sinh ở phương Đông và Nam, không hợp với người sinh ở phương Tây và Bắc, nghĩa là hợp với người tuổi Dần Mão (Đông) và Tỵ Ngọ (Nam), không hợp với người tuổi Thân Dậu (Tây) và Hợi Tí (Bắc). Người tuổi Dần Mão, Tỵ Ngọ gặp Hỏa Linh đắc địa thì càng tốt hơn, nếu gặp Hỏa Linh hãm địa thì cũng đỡ lo ngại. Người tuổi Thân Dậu, Hợi Tí nếu gặp Hỏa Linh đắc thì cũng tốt nhưng giảm đi, còn nếu gặp Hỏa Linh hãm địa thì càng xấu hơn. Người tuổi Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) thì luận bình thường.

Cần chú ý rằng Hỏa Linh dù đắc hay hãm mà gặp Tham Lang, nhất là sáng sủa, thủ đồng cung thì rất tốt đẹp. Trong trường hợp này thì các đặc tính hãm địa bị mất đi, trái lại lại còn trở nên tốt đẹp, mọi việc trong đời đều vừa lòng, được hưởng giàu sang trọn đời. Mệnh an tại Tứ Mộ có Hỏa Linh thủ gặp Tham, Vũ đồng cung (Tham Lang Thìn Tuất, Tham Vũ Sửu Mùi) thì rất rực rỡ tốt đẹp. có cách này thì chắc chắn xuất Tướng nhập Tướng, văn võ toàn tài, có uy quyền hiển hách, danh tiếng lừng lẫy, và được hưởng giầu sang trọn đời.

Khi luận giải Hỏa Linh cần chú ý các trường hợp ngoại lệ như sau:
Các tuổi Dần Mão, Tỵ Ngọ thì hợp với Hỏa Linh, các tuổi Thân Dậu, Hợi Tí thì không hợp với Hỏa Linh. Khi hợp thì tốt càng tốt thêm, xấu thì bớt xấu. Khi không hợp thì tăng xấu, giảm tốt
Tham Lang dù hãm hay đắc gặp Hỏa Linh đồng cung, dù Hỏa Linh hãm địa, cũng biến xấu thành tốt, chủ về phú quí, uy quyền. Chú ý rằng phải tọa thủ đồng cung thì mới là đúng cách, còn nếu chiếu thì Hỏa Linh hãm địa lại phối hợp với Sát Phá gây tác họa
Tử Phủ có thể giảm bớt tính hung của Hỏa Linh hãm địa. Các bộ sao giải họa của Không Kiếp và Kình Đà thì có thể vận dụng linh hoạt cho Hỏa Linh như Tứ Linh, Quang Quí, Khoa, Tuần Triệt, Quan Phúc...

Các chính tinh sáng sủa, ngoại trừ Cơ Lương, không đáng lo ngại khi gặp Hỏa Linh hãm địa, đặc biệt là Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm sáng sủa. Tử Phủ sáng sủa thì giải được Hỏa Linh hãm địa.

Hỏa Linh đắc địa thì tốt đẹp, nếu hãm địa thì rất xấu xa, nhất là khi đi với các chính tinh hãm địa, đặc biệt là Sát, Phá, Liêm, Cự Môn, Cơ, Lương hãm hoặc các hung tinh hãm địa khác như Không Kiếp, Kình Đà, Thiên Hình. Riêng Cơ Lương dù đắc hay hãm cũng tối kỵ gặp Hỏa Linh đắc hãm nhất là thủ đồng cung, rất hung. Nhật Nguyệt cũng kỵ gặp Hỏa Linh hãm địa nhưng không tối kỵ như Cơ Lương.

Tham Lang cải hóa được sự xấu của Hỏa Linh hãm địa khi đồng cung. Tham Lang khi đồng cung với Hỏa hoặc Linh thì cả hai trở nên tốt đẹp, bất kể Tham hãm hay Hỏa Linh hãm. Nếu Tham sáng sủa thì tốt hơn Tham hãm địa. Tham gặp Hỏa là Phú ông cách, chủ về giàu có. Tham gặp Linh là Tướng Tướng chi danh cách, chủ uy quyền, hiển đạt về võ nghiệp. Tham Lang cư Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi, nghĩa là Tham Lang Thìn Tuất, Vũ Tham Sửu Mùi đồng cung với Hỏa hoặc Linh thì tốt đẹp nhất, giàu có và quyền cao chức trọng, ở Thìn Tuất tốt hơn Sửu Mùi.

Tử Tham Mão Dậu đồng cung với Hỏa Linh thì cũng đẹp nhưng kém tốt hơn hai trường hợp trên). Tham Lang Tí Ngọ tuy hãm nhưng gặp Hỏa Linh đồng cung cũng khá. Riêng Liêm Tham tại Hợi thì gặp Hỏa Linh thì cũng còn tốt nhưng kém nhất trong các trường hợp trên. Nếu gặp xấu thì do tác họa của Liêm Trinh hãm địa chứ không phải là do Tham Lang. Liêm Tham tại Hợi có Hỏa Tuyệt đồng cung Hình hội họp thì có uy quyền danh tiếng. Có người cho rằng cho là Liêm Tham đồng cung tại Hợi thì gặp Linh Tuyệt hội họp đồng cung thì là người nghèo khó, và nếu gặp Kình Dương Không Hư Mã thì cả đời nếu không chết sớm thì cũng cô đơn bần hàn

Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân, Cự Môn hãm địa rất kỵ gặp Hỏa Linh hãm địa, ngoại trừ trường hợp Liêm đồng cung với Tham tại Tỵ Hợi (do ảnh hưởng của Tham Lang), Phá đồng cung với Vũ tại Tỵ Hợi (do ảnh hưởng của Vũ Khúc) thì không xấu. Hỏa Linh hãm cũng kỵ gặp Kình Dương hãm hoặc Thiên Hình hãm. Hỏa Linh hãm gặp thêm Không Kiếp hãm địa thì càng nguy khốn. Kình Dương đắc địa có Hỏa Linh đồng cung thì rất tốt. Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung tại Tứ Mộ thì uy quyền xuất chúng, TVT cho rằng Mệnh có Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung thì có uy quyền khiến mọi người nể sợ, tuổi Thìn Tuất là thuợng cách, tuổi Sửu Mùi là thứ cách (chú ý tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi thì hợp với Kình Dương)Nếu lại gặp thêm Tham, Vũ đồng cung thì danh tiếng lừng lẫy khiến quân giặc ở biên cương phải khiếp sợ
Hỏa Linh hãm kết hợp với Kình Dương hãm thì gia tăng sự xấu xa. Mệnh có Hỏa Linh Kình hãm hội họp thì hạ cách, công danh trắc trở, tiền bạc thiếu thốn và hay mắc tai nạn. TVT cho rằng Mệnh mờ ám xấu xa lại gặp Kình Linh tọa thủ thì cuộc đời khổ sở, nghèo khổ, không thể quí hiển, nhất là nữ giới tối kỵ cách này.

Hỏa Linh hãm gặp Mã thì đề phòng hỏa hoạn hoặc bị phỏng tay chân (Hỏa Linh miếu gặp Mã thì gọi là Chiến binh Mã, là cách vẫy vùng mọi nơi)
Hỏa hãm, Hình, Thiên Mã thì gặp nguy hiểm, bị hình thương về tay chân như bị phỏng
Mệnh hay Tật Ách có Linh hãm gặp Mã Đà hay Kình thì có tật chân tay hoặc bị què tay cụt chân
Tật Ách hoặc hạn đến cung Tật Ách có Hỏa Linh hãm gặp Kiếp Không hãm thì họa đến liên miên
Linh, Hình hãm gặp Thiên Việt thì bị hình thương vì sét đánh
Mệnh Hỏa Hình hãm địa thì phải đề phòng tai nạn về lửa, bị phỏng
Đà La Địa Kiếp hãm hội họp mà còn gặp Linh hãm thi rất xấu
Tang Môn ngộ Hỏa hãm tại Điền hoặc hạn thì bị hỏa tai (cháy nhà)
Hỏa Linh hãm, Long Trì, Mộc Dục hội họp thì phải đề phòng tai nạn về lửa, bị phỏng nước sôi
Hạn gặp Linh Xương ở Thìn Tuất thì đi đến đường cùng phải nhảy sông tự tử hoặc phải đề phòng tai nạn sông nước. TVT cho rằng hạn gặp Linh Xương ở Thìn Tuất, người tuổi Nhâm, Tân, Ất nên đề phòng tai nạn sông nước
Tử Tức có Thai ngộ Hỏa Linh hãm thì sinh quái thai
Mệnh có Đào Hồng gặp Không Kiếp Đà Linh hãm thủ chiếu thì chết non

Nhật Nguyệt gặp Hỏa Hình hãm thì thân hình gầy gò, ốm yếu, mình hạc sương mai
Nhật Nguyệt hãm địa gặp Đà La, Linh Tinh, Hóa Kỵ đều hãm thì bị mù mắt, mắt mờ
Phá Quân Hỏa Linh đều hãm địa ở cung Mệnh hay Thân thì bán sạch của cải do tổ tiên để lại.

Liêm Phá tại Dậu hãm địa gặp Hỏa Tinh hãm địa đồng cung thì tự tử, thắt cổ, đâm đầu xuống sông mà chết.
Liêm Sát đồng cung ngộ Hỏa hãm hoặc Phá Liêm hãm ngộ Hỏa hãm thì bị hỏa tai (tai nạn về lửa) hoặc bị cháy nhà
Liêm Trinh hãm địa (tức là Liêm Phá Mão Dậu, Liêm Tham Tỵ Hợi) gặp Kình Đà Linh Hỏa hãm thì hay mắc tù tội và thường bị đói khát khổ sở. Riêng Liêm Tham Tỵ Hợi nếu có Hỏa hay Linh thủ đồng cung thì cũng tốt, chỉ sợ Hỏa Linh hãm chiếu mà thôi
Liêm Trinh hãm gặp Tứ Sát (Kình Đà Hỏa Linh) hãm thì hay bị bắt bớ giam cầm

Thất Sát hãm gặp Tứ Sát (Kình Ðà Hỏa Linh) thì hoặc có tật ở lưng như bị gù lưng, hoặc hay bị chết trận
Thất Sát hãm địa gặp Hỏa tinh và Kình hội họp thì là người nghèo hèn
Hạn gặp Thất Sát Kình Dương Linh Tinh và Lưu Bạch Hổ thì phải gian nan về hình ngục

Phá Quân Thìn Tuất gặp Kình, Đà, Hỏa Linh thì là kẻ gian trá, gian phi trộm cắp
Mệnh có Phá Quân hãm gặp Hỏa Linh hãm hội họp thì bôn ba nay đây mai đó, lao khổ, bán sạch của cải do tổ tiên để lại

Quan Lộc có Phá hãm địa gặp Hao Kình Linh thì ly hương ăn xin tại xứ người
Mệnh có Phá Quân hay Thất Sát rất sợ gặp Hỏa, Hao, Việt, Hình hội họp, về già khó tránh được tai nạn khủng khiếp

Mệnh có Cự Hỏa, Linh đều hãm gặp hạn xấu thì chết đường, chết xa quê hương
Cự Hỏa Kình Dương hội họp khi gặp hạn xấu thì tự tử như thắt cổ mà chết
Cự Môn Hỏa Kình Ðà hội họp gặp thêm ác tinh thì tự tử như gieo mình xuống sông tự tử hoặc thắt cổ
Cự Môn gặp Tứ Sát (Kình Ðà Hỏa Linh) thì cuộc đời vất vả, dễ mắc ác tật hoặc phải bị tai nạn, theo TVT thì tai nạn về máy móc

Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh hãm địa xâm phá (giảm tốt rất nhiều)
Thiên Cơ hãm gặp Hỏa Linh thì bị ngớ ngẩn như bị ma ám ảnh, tà ma nhập
Thiên Lương có Hỏa chiếu thì gặp tai ương làm hại người hại của

Nói chung khi giải đoán thì linh hoạt, tùy theo ý nghĩa sao đi kèm mà luận giải, ví dụ như Liêm Trinh hãm địa là tù tinh, gặp Hỏa Linh thì liên quan đến tù tội, Phá Quân là hao tinh, gặp Hỏa Linh hãm thì hao tán, tan cửa nát nhà, nghèo khổ. Thất Sát là sát tinh, gặp Hỏa Linh thì mắc tai nạn, Cự Môn là ám tinh, gặp Hỏa Linh thì mọi sự trục trặc, lâm vào chỗ cùng quẫn. Kình Dương hóa khí là Hình. Hỏa Linh gặp Kình hãm hoặc Thiên Hình thì bị hình thương, có Thiên Mã thì liên quan đến chân tay...

Mệnh có Hỏa Linh Kình hãm địa hội họp thì hạ cách, công danh trắc trở, tiền bạc thiếu thốn và hay mắc tai nạn
Hỏa Linh Kình Dương vi hạ cách (TTL)

Mệnh có Linh Mã gặp Kình hay Đà thì chân tay bị tàn tật. Theo TTL thì Linh Mã cần đồng cung
Linh phùng Mã, nhi ngộ Kình Đà, hữu tật tứ chi (TTL)

Mệnh có Linh Hỏa Riêu hãm hội họp thì bụng dạ yêu ma
Linh Hỏa gặp Thiên Riêu đất hãm,
Ấy mình hay bụng dạ yêu ma (B108)

Mệnh, hạn có Hỏa Linh, Long Trì, Mộc Dục thì phải đề phòng tai nạn về lửa và nước sôi
Hỏa Linh Trì (Long Trì) Mộc (Mộc Dục) sáng soi,
Lánh mình lửa cháy nước sôi chớ gần
Hỏa, Trì (Long Trì) Mộc Dục thấy liền,
Nước sôi lửa cháy phải khuyên giữ mình (B111)
Hỏa Linh Long Mộc (Mộc Dục) một nhà,
Lánh mình lửa cháy cùng là nước sôi

Mệnh Thân đồng cung an tại Tỵ Ngọ hoặc Hợi VCD rất sợ gặp Mã Hình Linh Kiếp hội họp ví như hoa nở đã gặp mưa gió vùi dập nên rất xấu xa, nếu giàu sang thì chết sớm, nghèo hèn thì sống thọ
Mệnh Thân đồng tọa như Hỏa cung hoặc lâm Hợi địa đồng cung VCD khủng kiến Mã Hình Linh Kiếp thủ chung hoa khai ngộ vũ, mãn thế phi bần tắc yểu (23)

Mệnh có Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ chiếu thì chết non
Nhan Hồi yểu tử do hữu Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ Mệnh (19)
Nhan Hồi yểu tử (chết yểu) do hữu (do có) Kiếp Không Đào Hồng Đà Linh thủ Mệnh (8, TTL)

Mệnh có Kình Đà Hỏa Linh hội họp nếu gặp nhiều sao sáng sủa thì có tài lộc, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa thì cùng khổ, hoặc mắc tai họa mà chết thảm thương
Kình Đà Hỏa Linh hội họp phùng cát phát tài, hung tắc kỵ (18, TTL)

Mệnh an tại Tứ Mộ có Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung thì có uy quyền hiển hách, nếu lại gặp thêm Tham hay Vũ đồng cung (Tham Lang Thìn Tuất, Tham Vũ Sửu Mùi) thì danh tiếng lừng lẫy khiến quân giặc ở biên cương phải khiếp sợ.
Kình Dương Hỏa Tinh uy quyền xuất chúng, đồng hành Tham Vũ uy yểm (uy áp) biên di (42, TTL, B75)

TVT giải rằng Mệnh có Kình Dương Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung thì có uy quyền khiến mọi người nể sợ, tuổi Thìn Tuất là thuợng cách, tuổi Sửu Mùi là thứ cách (chú ý tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi thì hợp với Kình Dương)
Dương (Kình Dương) Hỏa đồng cung, oai quyền áp chúng (16)

Mệnh có Kình, Đà, Linh, Hỏa hội họp thì có tật tại lưng hay bị gù lưng, nếu các sao trên lại hãm địa thì suốt đời cùng khổ cô đơn, hoặc bị chết một cách thê thảm
Kình, Đà, Linh, Hỏa thủ Thân Mệnh, yêu đà bối khúc chi nhân (17, TTL)

Kình Dương Hỏa Linh hãm địa thì rất xấu. TVT giải rằng Mệnh mờ ám xấu xa lại gặp Kình Linh tọa thủ thì cuộc đời khổ sở, nghèo khổ, không thể quí hiển, nhất là nữ giới tối kỵ cách này
Kình Dương Hỏa Linh vi hạ cách

Đà La Địa Kiếp hãm hội họp mà còn gặp Linh Tinh thì rất xấu, gặp họa bất ngờ
Đà La Địa Kiếp (hãm) chiếu phương,
Linh Tinh lại gặp bất tường chẳng sai

Mệnh Hỏa Hình thì phải đề phòng hình thương vì lửa, bị phỏng
Khôi, Xương ở Mệnh bậc lành,
Hỏa Hình đóng Mệnh giữ mình lửa than

Hỏa Linh ở vượng địa gặp Thiên Hình hãm gặp sát tinh thì càng thêm bần tiện
Hỏa Linh vượng cùng Hình xung hãm,
Mà Sát gia, bần tiện thêm càng (B102)

Mệnh hay Thiên Di có Mã gặp Hỏa hãm địa thì không nên đi xa bất lợi. TVT ghi thêm gặp Linh Tinh thì cũng vậy
Chích Hỏa (Hỏa Tinh) phần Thiên Mã bất nghi xuất hành (hay viễn hành)
Hỏa ngộ Mã phải oan gia,
Lánh nợ lửa cháy mới hòa khỏi tai

Thiên Mã gặp Hình Hỏa thì nguy hiểm, bị phỏng về tay chân hoặc bị hình thương khi đi xa
Hình Hỏa kị phần Thiên Mã

Mã gặp Hỏa Linh đắc địa thì tung hoành ngang dọc
Mã ngộ Linh, Hỏa miếu cung,
Chiến Binh Mã ấy vẫy vùng nơi nơi
Mã ngộ Linh Hỏa miếu cung,
Chiến binh Mã ấy vẫy vùng mọi nơi.

2/ Không Kiếp
Đây là hai hung tinh đứng đầu trong tất cả các hung tinh, khi hãm địa thì sức tác họa rất ghê gớm. Một lá số khi có Không Kiếp hãm địa tại các cường cung thì giảm tốt rất nhiều. Có vài ngoại lệ cần chú ý:

Không Kiếp giảm tác họa cho người sinh năm Tỵ Hợi, tháng Tỵ Hợi (tháng 4, 10) và giờ Tỵ Hợi. Nếu kết hợp hai hoặc ba yếu tố trên như sinh năm Hợi giờ Tỵ chẳng hạn thì họa càng giảm nhiều. Vấn đề Không Kiếp giảm tác hại đối với trường hợp này có nhiều quan điểm khác nhau.

Tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi (hành Thổ) thì hợp với Không Kiếp, nếu gặp Không Kiếp miếu tại Tỵ Hợi thì sẽ phát nhanh về tài danh nhưng không tàn, nếu gặp Không Kiếp hãm thì cũng đỡ tác họa hơn. Các tuổi khác gặp Không Kiếp miếu thì hoạch phát hoạch phá, không bền, nếu hãm thì tác họa mạnh mẽ.

Mệnh Thổ cũng hợp với Không Kiếp hơn các Mệnh khác, Không Kiếp giảm tác họa đối với Mệnh này, nhưng nếu so với hai trường hợp trên thì yếu hơn, giảm không quá 50%. Mệnh Hỏa thì cũng được giảm chút ít phần tác họa nhưng không bằng Mệnh Thổ

Trường hợp Mệnh VCD nếu Hỏa Mệnh hoặc Kim Mệnh có Tam Không thủ chiếu (Tuần, Triệt và Địa Không đóng tại Mệnh và hai cung chiếu về) thì giàu có nhưng không bền. Theo QXT thì Tam Không là Thiên Không, Địa Không và Tuần Không. Thật ra khởi đầu thì có ba sao là Tuần Không, Triệt Không và Thiên Không (bộ Thiên Không Địa Kiếp). Sau đó Thiên Không này đổi thành Địa Không và thêm sao Thiên Không đồng cung với Thiếu Dương thành ra Tam Không phải là Tuần Không, Triệt Không và Địa Không.

Không Kiếp hãm địa giảm tác họa cho người sinh năm Tỵ Hợi, tháng Tỵ Hợi (tháng 4, 10), giờ Tỵ Hợi, người tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi (hành Thổ) và người Mệnh Thổ. Ví dụ như Tử Tức có Không Kiếp nhưng nếu Mệnh Thổ thì tác họa này giảm bớt Một điểm cần nghiên cứu là theo quan sát thì nhận thấy Địa Không còn giảm một phần tác họa khi đóng tại cung Thổ là Thìn Tuất Sửu Mùi

Ân Quang Thiên Quí đồng cung với Không Kiếp thì giải họa rất mạnh, họa tuy vẫn đến nhưng vẫn qua được, nếu kết hợp được với yếu tố năm tháng giờ Tỵ Hợi thì có khi không có họa xảy ra

Tuần Triệt giải họa Không Kiếp hãm rất mạnh, họa tuy có xảy ra nhưng cũng qua. Triệt tại bản cung thì không sợ tai họa do Không Kiếp chiếu về. Tuần cũng có tác dụng như vậy nhưng yếu hơn. Mệnh Thân có Không Kiếp thủ chiếu mà gặp Triệt Tuần thì không sợ tai nguy.

Nói chung Không Kiếp hãm địa thì gây ra tác hoại xấu nhất so với các chính phụ tinh hãm khác, nếu hội tụ với các bộ sao xấu khác thì sẽ gia tăng sự xấu xa và như vậy rất khó cứu giải. Tùy theo ý nghĩa của các bộ sao đi kèm hoặc cung tọa thủ mà ảnh hưởng xấu sẽ nghiêng về mặt đó. Gặp tài tinh như Hóa Lộc, Lộc Tồn, Thiên Phủ thì là cách bị họa về tiền tài như bị sang đoạt, lừa gạt, cướp giật, bị phá sản, tiền phú hậu bần, trở nên nghèo hèn. Gặp quyền quí tinh như Hóa Quyền, Quốc Ấn thì quyền hành chức tước bị tiêu tan, bị ngưng chức, cách chức. Gặp hình tinh như Thiên Hình, Kình Dương hãm địa thì bị hình tù, bị đánh đập. Gặp tù tinh như Liêm hãm địa thì bị tù tội, gặp đào hoa tinh như Hồng Loan, Đào Hoa thì tình duyên bị trắc trở nặng, tình đến nhanh đi nhanh, hoặc tử biệt, chia ly hoặc tuổi thọ bị chiết giảm.

Tọa thủ tại Mệnh thì là người không thể quí hiển được, cho dù lá số có tốt đến đâu thì chung cuộc cũng thành không và tuổi thọ dễ bị chiết giảm, cuộc đời gặp nhiều sóng gió Không Kiếp hãm địa thủ Thân Mệnh thì bôn ba, rất khó thành công quí hiển, dù được các trung tinh tốt đẹp phù tá mà gặp Kiếp Không thì cũng thành bại bất nhất hay là thất bại vào lúc cuối cùng, ví như vua mất ngôi, quan mất chức. Nếu gặp thì nên an phận, nếu đấu tranh thì chung thân bất mãn, có khi rước vạ vào thân vào lúc chung cuộc. Thật ra thì bản chất là Hỏa mang tính chất đấu tranh thành ra rất khó tránh nghiệp đấu tranh, ngay cả các bậc tăng đạo cũng còn tơ vương rồi hoàn tục.

Tọa thủ tại Tài Điền thì tiền tài, điền sản bị tiêu tan, không thể giữ được, có giàu có thì cuối cùng cũng trở nên nghèo hèn. Tại Quan thì quan trường đầy hung họa, nghề nghiệp không bền vững, bị cách chức, giáng chức, thay đổi nghề nghiệp luôn và bất ngờ. Tại Phối thì tình duyên trắc trở lận đận, vợ chồng tử biệt, chia ly, xa cách nhau lâu ngày hoặc phải lập gia đình nhiều lần hoặc sống đời góa phụ, quả thê. Tại Tật Ách thì có bệnh nan y khó chữa, bệnh nguy hiểm bộc phát bất ngờ, gặp tai nạn nguy hiểm đến tính mạng. Tại Bào thì không anh chị em, có anh chị em cũng như không, anh chị em là mối họa cho bản thân. Tại Tử thì thì dễ bị hư thai, hư thai nhiều lần, khó nuôi con, sinh nhiều nuôi ít, hoặc con cái là cái nợ cho bản thân, con cái chết trước cha mẹ, con cái bị tàn tật, bị mắc bệnh nan y hoặc mắc bệnh gây nhiều hao tổn nhiều tiền tài cho cha mẹ, con cái làm phá sản cha mẹ. Tại Nô thì bạn bè phản trắc, bị họa vì bạn bè.

Tại Di thì ra ngoài dễ gặp nguy hiểm, bị người hãm hại, hoặc bị chết đường, chết vì tai nạn. Tại Phụ Mẫu thì cha mẹ bất toàn, xa cách cha mẹ, cha mẹ là mối nợ cho bản thân, cha mẹ chết sớm...Địa Kiếp thì hung hơn Địa Không. Không Kiếp hãm được coi là một phá cách lớn nhất trong Tử Vi, thay đổi toàn bộ cục diện của lá số tốt, có thể coi như là một nghiệp báo phải trả không thể tránh khỏi. Vì là hung tinh, Không Kiếp hãm không nên hội tụ với các hung sát tinh hãm địa khác như là Kình Đà, Hỏa Linh, Sát Phá Liêm Tham hãm. Bộ sao tốt gặp Không Kiếp hãm địa trở thành xấu, tiền cát hậu hung, sao càng tốt thì trở nên càng xấu ví như ngọc bị rạn nứt, vỡ bể, còn nếu bộ sao xấu gặp Không Kiếp hãm thì lại gia tăng sự xấu lên đến cùng cực. Tất cả các cách cục tốt đẹp trong Tử Vi như Song Lộc, Khoa Quyền Lộc hội củng, Lộc Mã giao trì...khi có sự xuất hiện của Không Kiếp hãm địa, nhất là thủ đồng cung thì đều là phá cách rất lớn. Lộc Tồn, Hóa Lộc, Đào Hoa, Hồng Loan tối kỵ gặp Không Kiếp hãm, nhất là đồng cung

Địa Không gây tác họa biến có thành không. Địa Kiếp là một kiếp nạn, gây tác họa về mọi mặt như tinh thần, bệnh tật, tù tội, chết chóc.

Khi kết hợp với chính tinh, Không Kiếp miếu địa cần đi với hung sát tinh như Sát Phá Liêm Tham thì mới gia tăng hiệu quả (hung tinh sáng sủa đi với hung tinh thì hợp hơn là đi với cát tinh). Không Kiếp miếu giải được tính chất xấu của hung sát tinh hãm địa, gia tăng tính tốt đẹp của hung sát tinh sáng sủa. Mệnh Sát Phá Liêm Tham hãm địa nếu gặp Không Kiếp miếu địa tại đại hạn thì cũng phát trong hạn này.

Không Kiếp miếu địa gặp Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật thì không hiệu quả mấy, tuy vẫn hoạch phát hoạch phá nhưng yếu đi nhiều khi so với Sát Phá Liêm Tham. Không Kiếp hãm địa thì đi với chính tinh nào cũng bất lợi, càng bất lợi khi chính tinh đó lạc hãm hoặc là hung sát tinh. Duy Không Kiếp hãm địa đi với Thiên Tướng thì tác họa có giảm hơn, nhất là Thiên Tướng sáng sủa. Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng tối kỵ gặp Không Kiếp hãm đồng cung, nhất là Tử Vi, Thiên Phủ vì hai sao này là hai sao đứng đầu trong Tử Vi. Sao càng tốt đẹp gặp Không Kiếp hãm thì càng bị phá sự tốt đẹp cho đến không còn gì

Sát Phá Liêm Tham hãm địa kỵ gặp Không Kiếp hãm, gặp Không Kiếp hãm địa thì càng bất lợi thêm. (Sát Phá Liêm Tham hãm gặp Không Kiếp miếu thì cũng khá)
Có quan điểm cho rằng Phá Quân nắm được Không Kiếp. Thật ra Phá Quân miếu vượng đắc gặp Không Kiếp hãm địa đồng cung thì cũng bất lợi, cũng xấu nhưng đỡ xấu hơn các chính tinh khác gặp phải mà thôi. Phá Quân hãm địa gặp Không Kiếp sáng sủa thì cũng khá. Phá Quân phải sáng sủa thì mới chỉ huy được Không Kiếp sáng sủa. Đây là trường hợp Mệnh Phá Quân sáng sủa gặp hạn Không Kiếp sáng sủa.

Hạn có Không hay Kiếp hãm địa thủ thì bị lâm vào bước đường cùng, sự nghiệp tiêu tan, tán gia bại sản, tính mạng lâm nguy như Sở Vương mất nước, Hạng Vũ chết ở Ô Giang, Thạnh Sùng bị tán gia bại sản. Chú ý rằng tiên quyết đại hạn phải xấu thì mới xảy ra, ví dụ đại hạn xấu có Địa Không thủ, tiểu hạn lại gặp Địa Kiếp.

Đại tiểu hạn gặp Địa Kiếp thì khó tránh được tai họa, gặp Thái Tuế và sát tinh thì có nhiều bệnh tật tai họa xảy ra, gặp Quan Phù đồng cung thì gặp quan tụng.

Để coi về tử vi, đại hạn rất quan trọng, xấu tốt tại cung Mệnh Thân chỉ thể hiện rõ nét tại đại hạn. Mệnh Thân có các hung sát tinh lac hãm, phá cách chỉ ứng mạnh vào đại hạn xấu mà thôi, gặp đại hạn xấu thì sự việc sẽ xảy ra vào tiểu hạn xấu. Câu phú Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng hạn tốt nhấn mạnh yếu tố hạn, ở đây là đại hạn. Hạn mà tốt thì Mệnh Thân xấu thì sẽ vẫn phát, nhưng phát theo chiều hướng của Mệnh Thân, nếu Mệnh Thân tốt thì phát mạnh hơn là Mệnh, Thân xấu. Mệnh xấu, Thân xấu mà gặp hạn xấu thì mới thực xấu. Phú có câu Mệnh xấu, Thân xấu, hạn xấu chung thân khất cái.

Nếu gặp hạn xấu mà Mệnh Thân (và Phúc) tốt thì cũng được phần cứu giải xấu ít nhiều của Mệnh Thân. "nhiều hôi viên có mệnh Không thân Kiếp than thở không ít, người thì cho rằng tại mệnh Không thân Kiếp nên cuộc đời họ chịu nhiều đau khổ, bất hạnh...". Không rõ là chịu nhiều đau khổ, bất hạnh này thì do yếu tố nào, do đại hạn xấu hay là do mệnh Không thân Kiếp, phải coi cụ thể thì mới tìm ra nguyên nhân, biết đâu lại do một yếu tố khác ngoài Không Kiếp, ít nhất "phải tuỳ vào cách cục chính tinh, trung tinh và ngũ hành của lá số" để luận đoán. Không Kiếp giảm tác họa cho người sinh năm Tỵ Hợi, tháng Tỵ Hợi (tháng 4, 10) và giờ Tỵ Hợi. Nếu kết hợp hai hoặc ba yếu tố trên như sinh năm Hợi giờ Tỵ chẳng hạn thì họa càng giảm nhiều. Vấn đề Không Kiếp giảm tác hại đối với trường hợp này có nhiều quan điểm khác nhau.

Có câu "Không Kiếp hà hiềm Ty Hợi" "Không Kiêp Tỵ Hợi vô luận". Có người giải thích vô luận là ai cũng biết, khỏi phải bàn luận. Có người cho rằng vô luận là không tác hại. Có người cho rằng sinh tháng 4 và 10 (tháng Tỵ và Hợi) thì không tác hại. Có người cho rằng Không Kiếp vẫn tác hại như thường. Trường hợp cho rằng vẫn tác hại như thường thì viết ra câu phú trên làm gì cho thừa thãi. Riêng tôi thì cho rằng sinh năm, tháng, giờ Tỵ Hợi thì giảm tác họa, nếu họa xảy ra nặng nề thì nhất định phải có yếu tố khác tham gia vào chứ không chỉ do Không Kiếp này chi phối. Tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi mà không phải mệnh Thổ thì Không Kiếp vẫn giảm tác họa, đương nhiên là không bằng sự kết hợp tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi mà mệnh Thổ ? Địa Không có vẻ còn giảm tác hoạ tại cung Thổ, còn Địa Kiếp thì không rõ, tốt hết khi coi nên để ý thêm để rút ra kinh nghiệm

Nói chung thì để quan sát các trường hợp gia giảm thì phải có nhiều lá số so sánh, ít nhất phải am tường cách cục chính của lá số và cách giải đại hạn. Đó là chưa kể khi rút kinh nghiệm từ nhiều lá số thì phải cần cùng khoảng thời gian và cùng hoàn cảnh xã hội mới hoàn chỉnh (ví dụ như Không Kiếp sinh sống tại VN thì tác họa khác với tại nơi tôi ở, pháp luật có nương tay hơn nhiều). Để nghiên cứu Tử Vi thì phải trước hết nắm vững cách cục, chính phụ tinh phối hợp, sau đó mới nghiên cứu thêm về âm dương ngũ hành.

Chưa nắm vũng cách cục mà đi sâu vào âm dương ngũ hành sẽ đi đến sai sót khi rút kinh nghiệm, đôi khi sự việc xảy ra chỉ do sự phối hợp của tinh đẩu là đủ kết luận, chẳng cần phải đề cập đến yếu tố ngũ hành. Nhìn chung hung sát tinh hãm địa thì cũng phát vào thời loạn, nhiễu nhương, tranh tối tranh sáng, nếu không rơi vào ngoại lệ thì phát để mà phá, phá không còn gì. Hung sát tinh đắc địa thì phát mạnh vào thời bình. Sự phát của hung tinh và cát tinh có khác nhau: hung tinh đắc địa phát dã như lôi, cát tinh đắc địa trầm trầm sự nghiệp.

Không Kiếp miếu địa tại Tỵ, Hợi, đắc địa tại Dần, Thân.

KhongTu
03-18-2007, 10:22 PM
ChauAnh thì năng động rồi, Manutd cũng đâu kém gì năng động và sáng tạo, dấn thân dẫn đến thành công.

manutd
03-20-2007, 10:53 AM
hihi, bác khen em làm em ngại quá. năng động thì không dám, em chỉ thích 2 chữ "sáng tạo" thôi. Khongtu.com của chúng ta đang đi theo 2 chữ này....

CutKit
03-20-2007, 11:01 AM
hihi, bác khen em làm em ngại quá. năng động thì không dám, em chỉ thích 2 chữ "sáng tạo" thôi. Khongtu.com của chúng ta đang đi theo 2 chữ này....

hehe, A manutd đang nở cái mũi kìa

nhưng mà A post một bài hơi dài quá, A post bài theo các mục lớn có được không ah, vì nhìn thấy bài dài là thấy .... mệt, hihi
Với cả post theo các mục thế thì dễ tra cứu hơn
Ck.

manutd
03-20-2007, 11:05 AM
hì hì, bài đó phải nghiên cứu tổng thể, tách ra dễ đọc nhưng không có cái nhìn tổng quát. Cutkit chịu khó vào đây,manutd sẽ cố post lên hàng "độc".

manutd
03-21-2007, 10:43 AM
Thân cư Phúc Đức

Những người sinh vào giờ Sửu (1am đến 3am) và những người sinh vào giờ Mùi (1pm đến 3pm) đều có số Thân cư Phúc Đức. Trước khi nói đến những nét đặc biệt của mẫu người này chúng ta hãy bàn qua vày ý nghĩa căn bản của cung Phúc Đức. Trong những chương trước chúng ta có nhắc đến một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là nếu Thân cư vào cung nào thì cung đó trở thành lãnh vực chính yếu trong cuộc sống của đương số.

Bởi vậy, ý nghĩa đơn giản đầu tiên của cung Phúc Đức là nói về phước đức của đương số có được là do chính bản thân tạo dựng nên hay là do thụ hưởng từ ông bà, cha mẹ, hay của giòng họ nói chung. Cho nên, từ quan niệm đó, khoa Tử Vi xem cung Phúc Đức như nền tảng của một lá số. Nó có thể cứu giải hay làm chiết giảm đi độ số tốt xấu của cung Mệnh hay của một đại hạn, tiểu hạn…Nói một cách khác, cung Phúc Đức cũng như gốc rễ của một cái cây, nếu gốc rễ tốt thì cho dù một vài nhánh cây hư hỏng thì cây cũng có thể ra hoa, kết trái. Nếu gốc rễ đã bị úng thối thì cành cây bên trên dù có xanh tươi thì cũng chẳng được là bao lâu. Cũng có thể đơm hoa kết qủa những cũng không thể tồn tại lâu dài được.

Từ đó chúng ta có một quan điểm đặc biệt đầu tiên của người Thân cư Phúc Đức. Cuộc đời của họ sướng hay khổ, thành hay bại không hoàn toàn do chính khả năng của họ mà phần nào do những trợ lực khác như được người nâng đở, hay thường gặp những vận hội may mắn nào đó. Điều này dễ nhìn thấy ở các lá số Thân cư Phúc Đức mà cung Phúc Đức lại được mọi điều tốt đẹp thì cuộc dời của những người này thường gặp được những may mắn kỳ lạ, giúp họ thành công dễ dàng, hoặc họ có thể vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, tai nạn mà không ai có thể ngờ được. Ngược lại, chúng ta cũng thấy có những người Thân cư Phúc Đức nhưng cung Phúc Đức lại xấu xa mờ ám, cho dù các cung chính yếu Mệnh, Tài, Quan…đều tốt đẹp nhưng chắc chắn cuộc đời của họ vẫn gặp nhiều cảnh thăng trầm.

Như vậy, phải chăng đối với người Á Đông chúng ta thì Phúc Đức là một yếu tố siêu hình đã ảnh hưởng phần nào trong cuộc sống của một đời người?

Một quan niệm khác của khoa Tử Vi đối với cung Phúc Đức là cung này biểu tượng cho cả một giòng họ. Qua cung Phúc Đức mà chúng ta có thể nhìn thấy một cách đại cương về giòng họ của đương sự. Như vậy, những người có Thân cư Phúc Đức thì đặc điểm thứ hai chính là sự liên hệ chặc chẽ của cá nhân đương số với giòng họ của mình. Tùy theo sự tốt hay xấu và ý nghĩa của cung Phúc Đức. Có người tuy khả năng, tài đức không có gì đáng nói cả nhưng vẫn có địa vị chức tước hay bổng lộc nhờ vào sự nâng đở của bà con. Ngược lại, cũng có người được may mắn, có công danh sự nghiệp, giàu sang phú quý, cũng vì cái tình gia tộc mạnh mẽ, họ phải vươn dài cánh tay đễ cưu mang cho cả giòng họ. Đó là trường hợp mà ông bà chúng ta thường nói: “Một người làm quan, cả họ được nhờ.”

Và một điểm đặc biệt sau cùng của mẫu người này là những gì tốt xấu của cung Phúc Đức sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ sau khoản tiền vận, nghĩa là thời điểm đương số thực sự lăn lộn vào đời. Cung đối diện Phúc Đức là Tài Lộc, và đó cũng là cung đầu tiên chịu ảnh hưởng nặng nề những sự tốt, xấu của cung Phúc Đức. Cho nên người Thân cư Phúc Đức sẽ có những thay đổi khá rõ rệt trong khoản thời gian lập thân. Cuộc sống của họ có thể sung sướng hơn nếu cung Phúc Đức tốt đẹp, hoặc cực khổ hơn nếu cung Phúc xấu, nhất là trên vấn đề tiền bạc.

Tóm lại, mẫu người Thân cư Phúc Đức là những người có tinh thần gia đình, gia tộc rất mạnh. Họ thích cuộc sống đại gia đình và giữ được những liên hệ mật thiết với tất cả bà con trong giòng họ dù gần hay xa.   Đây là mẫu người rất nặng tình quê hương. Họ thường lớn lên và sống suốt đời tại nơi chôn nhau cắt rốn của mình chứ không muốn ly hương hay sống rời xa giòng họ của mình.

Đi xa hơn, cung Phúc Đức trên một lá số cũng tương tự như lãnh vực âm trạch của khoa Phong Thủy, tức là chuyên về mộ phần. Qua cung Phúc Đức, chúng ta có thể nhìn thấy những nét tổng thể về mộ phần của một giòng họ, như mộ phần của một người nào phát, mộ phần của ngườ nào hư, hoặc có thể biết được mộ phần của người nào đó trong giòng họ đã kết phát và đang đặc biệt phò trợ cho đương số.

manutd
03-21-2007, 10:45 AM
Thân Cư Tài Lộc

Trong một lá số, cung Quan Lộc và Tài Lộc là hai cung có vị trí hợp chiếu với Mệnh và được xem là hai cùng quan trọng. Chữ Tài Lộc cũng nói lên hết ý nghĩa của cung này. Nếu như cung Quan Lộc diễn đạt con đường công danh, sự nghiệp và cả một phần nào chuyện vợ chồng, thê thiếp thì cung Tài Lộc không chỉ đơn thuần nói về vấn đề tiền bạc mà cũng phần nào phản ảnh lãnh vực nghề nghiệp của mình.

Điều mà chúng ta sẽ thấy trong một vài lá số mà nghề nghiệp của đương sự được mô tả trong cung Tài Lộc còn rõ ràng hơn cung Quan Lộc nữa. Trường hợp này thường thấy trong các lá số của người Thân Cư Tài Lộc mà chúng ta sẽ bàn đến.

Cung Tài Lộc diễn tả vấn đề tiền bạc của một đời người. Có tiền nhiều hay ít, có tiền bằng cách nào, làm ra tiền sớm hay muộn, kiếm tiền dễ dàng hay khó khăn, tiền do chính bàn tay mình tạo dựng nên hay được thụ hưởng di sản của giòng họ. Tiền bạc do lộc của trời như trúng số, hoặc do người khác mang đến. Có tiền rồi giữ được hay không? Hay dễ bị hao tài? Tiền bạc có mang lại hạnh phúc cho đương số hay không, hay có tiền thì có tai họa đi liền theo sau v.v…

Cung Tài Lộc ở vị trí đối diện với cung Phúc Đức cho nên ông bà chúng ta có câu: “Có phúc mới có phần” ngụ ý là số giàu cũng do Phúc Đức. Bởi vậy cung Tài Lộc còng chỉ rõ người có số được hưỡng gia tài, sản nghiệp của ông bà, cha mẹ để lại hoặc tiền tài phải do tự hai bàn tay của mình tạo dựng nên mới có được. Nói một cách khác, tất cả những tốt xấu của cung Phúc Đức dều có ảnh hưởng mạnh mẽ vào cung Tài Lộc hơn những cung khác, và đó cũng là sắp xxếp rất có ý nghĩa của khoa Tử Vi Đẩu Số, một trong những môn học huyền bí của người Trung Hoa đã chịu ảnh hưởng sâu xa triết lý nhà Phật.

Những người sinh vào giờ Thìn (từ7am tới 9am) hay là những người sinh vào giờ Tuất (từ 7pm tới 9pm) thì Thân sẽ rơi vào cung Tài Bạch. Có người nghĩ rằng nếu Thân cư Quan Lộc thi sẽ làm quan, Thân cư Tài Lộc thì sẽ giàu có. Quan niệm này không chính xác bởi vì tuy là số thân cư Quan Lộc nhưng làm quan hay làm người bình dân thì cũng còn tùy vào cung Quan Lộc của đương sự tốt hay xấu. Tương tự, như số Thân cư Tài Lộc, giàu hay nghèo cũng còn tùy vào cung Tài Lộc tốt xấu ra sao. Tuy nhiên, những người Thân cư Tài Lộc, họ có những nét đặc biệt khái quát như sau:

Trước tiên, tiền bạc là vấn đề chủ yếu và là mục đích quan trọng trong cuộc sống của họ. Nói như vậy không có nghĩa là người có Thân cư Tài Lộc quan niệm sống của họ chỉ có tiền mà họ là những người có khả năng làm ra tiền. Làm ra tiền nhiều hay ít, dễ dàng hay khó khăn, và bằng cách nào thì cũng còn tùy vào lá số của mỗi người. Dù nghèo hay giàu, người Thân cư Tài Lộc thấu hiểu giá trịc của đồng tiền và sử dụng đồng tiền ra sao cho xứng đắng với giá trị của nó. Chuyện đáng xài thì xài, chuyện không đáng thì 1 xu cũng không bỏ ra. Mẫu người này quan niệm tiên là cái đích tiên quyết phải có, rồi từ đó xử dụng tiền như một phương tiện để được những mục đích khác mà họ mong muốn.

Người Thân cư Tài Lộc thường có năng khiếu về thương mại, kinh doanh. họ là những người thích hợp để trở thành chủ nhân của những cơ sở làm ăn mua bán và thường trở nên giàu có bằng đường kinh doanh nếu cung Tài Lộc của họ tốt đẹp. Ngược lại, một người có Thân cư Tài Lộc mà cung Tài Lộc lại không được sáng sủa thì họ sẽ là người suốt đời vất vả vì tiền, hay thường gặp những tai họa về tiền bạc. Có thể đến một vận hạn nào đó, họ cũng có cơ hội làm ra tiền nhưng lại không giữ được tiền trong tay.

Cuối cùng, như chúng ta đã nói ở trên, khi Thân cư vào cung Tài Lộc thì Thân sẽ ở vị trí đối diện với cung Phúc Đức. Có nhiều khi nghiên cứu về khoa Tử Vi Đẩu Số thì họ cho rằng cung Thân quan trọng hơn Mệnh vì cung Thân biểu tượng cho trung vận và hậu vận, là khoản thời gian mà chúng ta bắt đầu rời khỏi vòng tay của cha mẹ để lăn lộn vào đời tự lập thân. Và như vậy, những người Thân cư Tài Lộc, cung Thân sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cung Phúc Đức kể từ khi họ bước chân vào đời. Nói một cách khác, hậu vận của một người Thân cư Tài Lộc sẽ ra sao cũng là một phần tùy thuộc vào sự tốt xấu của cung Phúc Đức. Nếu nói theo triết lý của đạo Phật là đương số hưởng được sự tích đức của ông bà, cha mẹ hay là đương số phải trả nghiệp cho ông bà, cha mẹ của mình.

manutd
03-21-2007, 10:50 AM
Thân Cư Quan Lộc

Những người sinh vào giờ Dần (3am tới 5am) hoặc vào giờ Thân (3pm tới 5pm) là những người có số Thân cư Quan Lộc. Như chúng ta đã biết, cung Quan Lộc trong lá số của mỗi người biểu hiện con đường công danh và sự nghiệp của người đó. Hai chữ “Công Danh” và “Sự Nghiệp” nghe có vẽ rộng lớn và mơ hồ qúa. Nếu nói một cách gần gũi và rõ ràng hơn thì cung Quan Lộc diễn tả nghề nghiệp của một người và có thể chỉ rõ một ngành nghề nào đó như y khoa, điện tử, giáo sư, cảnh sát, quân nhân, ngân hàng, ngoại giao, văn học, nghệ thuật, kinh doanh thương mại.…Cung Quan Lộc cũng nói lên sự thành bại trong nghề nghiệp của một người.

Như chúng ta đã nói trước đây, Thân cư cung nào thì cung đó sẽ trở thành lành vực sinh hoạt chính yếu trong cuộc đời của người ấy. Do đó, người Thân cư Quan Lộc ngay từ khi còn trong trường học, họ đã có những ý tưởng rõ ràng về ngành học mà họ chọn lựa vi đó là cửa ngõ đưa họ vào đời, là nghề nghiệp của họ sau này. Họ rất cân nhắc và thận trọng trong việc chọn nghề và thường là những nghề ma họ đã có sẳn năng khiếu và ưa thích.

Người Thân Cư Quan Lộc không thích làm những nghề có tính cách tạm bợ. Cho nên khi họ đã bước vào một ngành nghề nào thì đó sẽ là công việc mà họ sẽ theo đuổi suốt cả một đời. Mẫu người này cho dù làm công hay làm chủ cũng không thích đổi nghề. Nếu đi làm công thì ít khi bị mất việc. Có thể nói, họ là nhũng người mà việc tìm họ chứ họ không phải vất vả đi tìm việc như những người khác.

Thân cư Tào Lộc là mẫu người thừa hành đắc lực nhất. Họ là những nhân viên, những thuộc cấp và là những cộng tác rất có tinh thần và trách nhiệm trong chức vụ của họ. Điều này dễ hiểu vì họ là những người yêu nghề, thích học hỏi.

Người Thân cư Quan Lộc coi sự làm việc như một lạc thú ở đời chứ không phải là một nghề để sinh sống. Họ rất hăng say với công việc.:smile 20:

Những đặc điểm nêu trên là mẫu người Thân cư Quan Lộc mà có cung Quan Lộc tốt đẹp. Ngược lại nếu cung Quan Lộc xấu xa thì đó là hình ảnh của một người chậm công danh, lận đận trên đường công danh, và đây cũng là người sống chết với nghề của mình một cách vất vả, lao đao, hoặc là trường hợp đặc biệt của những người mà chúng ta thường gọi là “sinh nghề, tử nghiệp” chết vì tai nạn nghề nghiệp, thân bại danh liệt, hay bị tù tội vì nghề nghiệp nếu có thêm hung sát tinh, bại tinh hội hợp. Như vậy, quan niệm cho rằng người có Thân cư Quan Lộc sẽ làm Quan là một điều sai lầm. Làm quan hay làm công, thành đạt hay thất bại trong nghề nghiệp cũng phải tùy thuộc vào cung Quan Lộc tốt hay xấu.

Nhìn xa hơn, trong khoa Tử Vi Đẩu Số, sự sắp xếp của 12 cung trên một lá số rất có ý nghĩa. Cung Quan Lộc nằm đối diện với cung Phu Thê cho nên cung Quan Lộc có thể xem như cái bóng phản chiếu chủa cung Phu The vậy. Do đó khoa Tử Vi cho rằng đối với những người có số 2 đời vợ, 2 đời chồng thì cung Quan Lộc là hình ảnh của người vợ hay người chồng thứ hai của đương số.

Điều này rất có ý nghĩa đối với những người Thân cư Quan Lộc, cuộc đời còn lại của họ và cả nghề nghiệp của họsẽ bị ràng buộc một cách chặc chẻ với người vợ/chồng thứ hai. Điều này chúng ta sẽ bàn kỷ hơn trong mẫy người Thân cư Phu Thê.

Riêng đối với nữ Mệnh, các bà có số Thân cư Quan Lộc thì ngoài những nét đặc biệt đã nêu trên, cung Quan Lộc trong trường hợp này còn có ý nghĩa như một cung Phu, và một vas2i trường hợp điển hình mà chúng ta nói đến như: Một người đàn bà có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị Tuần hay Triệt án ngữ thì đường tình duyên cũng trắc trở không khác gì Tuần hay Triệt án ngữ ngay tại cung Phu vậy.

Trong trương hợp như vừa nêu trên, một quan điểm khác của nhà tướng số Thiên Đức trong một bài viết về “Tai Nạn Trinh Tiết” ông khẳng định một cách mạnh mẽ rằng “…bất cứ là lá số của một người phụ nữ nào khi cung Quan Lộc hay cung Thân có Tuần hoặc Triệt, bất luận về yếu tố sao, chắc chắn sẽ không còn là con gái khi về nhà chồng”.:smile 22:

Như vậy theo quan điểm này thì bất cứ cung Thân an tại đâu và bất kể cung Thân hay Quan Lộc cho dù có các sao đoan chính tọa thủ, nếu bị Tuần/Triệt thì hai chữ “trinh tiết” của đương số cầm bằng như không có khi bước lên xe hoa lần đầu trong cuộc đời.

Cũng trong trường hợp nữ Mệnh có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị Tuần/Triệt áng ngữ mà còn gặp nhiều hung tinh hay sát tinh thì đương số nên lập gia đình muộn hoặc lập gia đình với một người đã trải qua một lần đổ vở trên đường tình thì mới có thể tránh được cành cô đơn góa bụa về sau.

Một điểm đặc biệt nữa là đàn bà có số Thân cư Quan Lộc mà cung Quan Lộc bị nhiều hung tinh sát tinh ảnh hưởng thì đó cũng là số của những người có thể gặp những hoàn cảnh hay tai nạn làm mất danh tiết của mình.

Riêng đối với các ông, nếu là những người có quan niệm sống bảo thủ như ông bà của chúng ta ngày xưa, cho rằng người vợ chỉ là người hiền nội, chỉ là người đàn bà ở trong nhà lo việc nhà, săn sóc cho chồng cho con thì mẫu người đàn bà Than cư Quan Lộc hoàn toàn không thích hợp với quý ông có quan niệm “chồng chúa, vợ tôi”. Lý do dễ hiểu là những người đàn bà có Thân cư Quan Lộc có khuynh hướng độc lập rất mạnh.:smile 49: Họ muốn ra đời và muốn có một nghề nghiệp như đàn ông để suốt đời không bị lệ thuộc vào người chồng.

Cuối cùng, trong ý nghĩa về nghề nghiệp, dù nam hay nữ, khi cung Quan Lộc bị Tuần/Triệt thì trong đời của đương số phải thay đổ nghề nghiệp ít nhất 1 lần. Bao nhiêu lần và đổi qua những nganh nghề gì thì còn tùy thuộc vào cung Quan Lộc và toàn bộ lá số. Đặc biệt đối với những người Thân cư Quan Lộc thì nghề nghiệp mà họ thay đổi thường là cùng nghề hay cùng trong một lãnh vực với người chồng hay người vợ thứ hai của đương số.

Tóm lại, cung Quan Lộc biểu hiện cho công danh, sự nghiệp, tiền tài và danh vọng của một người, cho nên những người có số Thân cư Quan Lộc thì những yếu tố trên là mục đích mà họ sẽ mang hết tâm huyết của họ để đạt được.

manutd
03-21-2007, 10:53 AM
Mệnh Thân Đồng Cung

Nếu khoa Phong Thủy chia căn nhà ra làm 8 cung và mỗi cung là lãnh vực trong đời sống con người, và cũng là biểu tượng của mỗi thành viên trong gia đình, thì khoa Tử Vi Đẩu Sốcũng cùng một quan niệm như vậy. Khoa Tử Vi còn chi tiết hơn chia lá số ra thành 12 cung và mỗi cung cũng là một nét sinh hoạt, là một khoản thời gian nào đó của một đời người.:smile 38:

Như chúng ta đã nói ở chương trước, 12 cung của khoa Tử Vi theo thứ tự gồm có Mệnh, Phụ Mẫu, Phúc Đức, Điền Trạch, Quan Lộc, Nô Bộc, Thiên Di, Tật Ách, Tài Lộc, Tử Tức, Phu Thê, và Huynh Đệ. Nhưng thực tế một lá số không chỉ có 12 cung mà còn có một cung thu 13 gọi là cung Thân. Đặc biệt cung Thân không đóng riêng rẽ ở một vị trí nào trên lá số mà nó luôn luôn đóng chung với 1 trong sáu cường cung là Mệnh, Tài, Quan, Phúc, Di hoặc Phu Thê.

Trong 13 cung, cung Mệnh và cung Thân là quan trọng nhất. Đầu tiên là cung Mệnh. Khi nói về chữ “mệnh” chúng ta thấy nó mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Cái ý nghĩa thứ nhất của chữ mệnh đó chính là bản thân của đương số. Xung quanh cuộc đời của cá nhân đương số còn có cha mẹ (Phụ Mẫu), anh em (Huynh Đệ) vợ chồng (Phu Thê) con cái (Tử Tức) rồi tới bạn bè đồng nghiệp, thuộc hạ (No Bộc) và cả cái xã hội mà đương số phải đương đầu va chạm hằng ngày (Thiên Di)

Ý nghĩa thứ hai của chữ “mệnh” là Thiên Mệnh, là số trời, là cái quan niệm mỗi người sinh ra vào giờ nào, ngày nào, tháng nào, năm nào thì cuộc đời đã được an bài sắp đặt sẳn rồi. Bởi vậy Mệnh được xem như nền móng của một căn nhà. Nếu nền móng không vững chắc, kiên cố thì những gì xây dựng trên đó cũng không thể nào tồn tại lâu dài được. Đó là trường hợp của những người có các cung chính như Quan Lộc, Tài Bạch, Diền Trạch v.v… tốt đẹp, sáng sủa, nhưng Mệnh yếu thì tiền tài, danh vọng, của cải cũng chỉ như cái bóng to lớn trên tường mà thôi.

Tuy nhiên, dù là môn khoa học huyền bí nhưng ngoài quan niệm chủ yếu “Thiên Mệnh” khoa Tử Vi không quên một yếu tố thứ hai sẽ dự phần vào đời người, đó là quan niện “nhân định” Vì thế Tử Vi Đẩu Số mới có một cung di động gọi là cung Thân, là cung quan trọng thứ nhì trong một lá số.:smile 52:

Khoa Tử Vi cho rằng cung Mệnh là căn bản của một đời người. Nhưng cung Mệnh ảnh hưởng mạnh mẽ nhất vào giai đoạn của một đời người hay gọi là ”tiền vận”. Tiền vận là khoản thời gian từ lúc sinh ra cho đến khoản 30 tuổi. Nhưng có người tính tiền vận theo Cục. Ví dụ:
Thủy Nhị Cục thì tiền vận từ 1 đến 32 tuổi
Mộc Tam Cục thì tiền vận từ 1 đến 33 tuổi
Kim Tứ Cục     ……………...... 1 đến 34 tuổi
Thổ Ngủ Cục   .................. 1 đến 35 tuổi
Hỏa Lục Cục   ...…………….... 1 đến 36 tuổi.

Chúng ta thấy quan niệm này của Tử Vi rất hợp lý vì con người từ lúcsinh ra cho đến khoản 30 tuổi hầu như sống dưới mái ấm của gia đình, bên cạnh tình thương yêu của cha mẹ, và sự dùm bọc của anh em. Mãi cho đến khi 30 tuổi trở lên là lứa tuổi trung bình cho hầu hết mọi người để tự lập thân, bước chân vào bương trải với đời. Đó là lúc ứng vào cung Thân của lá số.

:boss: Sau tiền vận thì cung Thân ảnh hưởng mạnh mẽ vào khoản thời gian còn lại của cuộc đời, nó bao gồm cả trung vận và hậu vận của mỗi người. Bởi vậy khi nói đến sự quan trọng của cung Mệnh và Thân, chúng ta thấy có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất chú trọng cung Thân hơn cung Mệnh và luận cứ của quan điểm này là trong khỏan tiền vận chúng ta thường sống dưới mái ấm gia đình, trong vòng tay che chở của cha mẹ cho nên nếu cung Mệnh có tốt thì cũng chưa làm nên cơm cháo gì được. Ngược lại nếu cung Thân tốt thì sẽ hữu hiệu hơn cho cái tuổi “tam thập nhị lập” tức là tuổi bắt đầu lăn lộn vào đời lập nghiệp cho nên rất cần có một cung Thân tốt đẹp.

Quan điểm thứ hai thì cho rằng, cuộc đời như một cái cây mà Mệnh là gốc rễ, Thân là những nhánh cây, cành lá. Nếu gốc rễ không vững chắc thì cành lá cũng khó mà xanh tươi, đơm hoa kết qủa được. Người viết đồng tình với quan điểm này. Mệnh ảnh hưởng mạnh mẽ ở tiền vận nhưng vẫn luôn là căn cơ, cốt lỏi là nền tảng của một đời người. Và khi nói về cung Thân, chúng ta phải nhớ một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là khi cung Thân đóng chung với cung nào thì những ý nghĩa tốt xấu của cung ấy sẽ là những nét chính yếu trong cuộc đời của ngưòi ấy. Như vậy thì người có Thân cư Mệnh là mẫu người như thế nào?

Sắc nét đặc biệt đầu tiên của người này là lòng tin vào thiên mệnh rất mạnh. Vì như chúng ta đã nói ở trên, cái ý nghĩa đầu tiên của chữ Mệnh là ý trời = mọi việc đều do Trời định, là định mệnh. Mẫu người này ít tin vào quan niệm “Nhân định thắng thiên” cho nên khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, trắc trở họ thường nhắm mắt buông tay mặt cho số phận xoay dần vì thuyền đời của họ đã lỡ neo vào bến Mệnh rồi, chỉ còn biết trong nhờ đục chịu mà thôi.

Một đặc điểm thứ hai đáng kể của người Thân Mệnh đồng cung là không có những khúc quanh cũng như những biến đổi lớn lao nào trong suốt cuộc đời của họ. Như đã bàn ở trên, Mệnh ảnh hưởng mạnh vào tiền vận. Thân ảnh hưởng mạnh vào trung vận và hậu vận. Bởi vậy khi Thân và Mệnh đồng cung thì Mệnh và Thân đều ảnh hưởng chung vào cả cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc lìa đời. Có nghĩa là nếu đương số giàu có thì suốt đời giàu có, nếu nghèo thì sẽ nghèo suốt đời chứ không giống như những người khác chẳng hạn nếu cung Mệnh xấu thì tiền vận có thể cực khổ nhưng cuộc đời về sau có thể thay đổi khá hơn nếu cung Thân tốt đẹp hơn cung Mệnh. Hay ngược lại nếu cung Mệnh tốt đẹp thì cuộc đời của đương số có thể sung sướng từ lúc lọt lòng mẹ cho đến tuổi lập thân. Rồi sau đó có thể đổi đời, trở nên vất vả, cực khổ nếu cung Thân xấu hơn cung Mệnh.:smile 3:

Và điểm đặc biệt cuối cùng là có người cho rằng nếu Mệnh Thân đồng cung tại tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) và hai cung Tí Ngọ thì đó là những vị trí không tốt cho người Mệnh Thân đồng cung.

Tóm lại, cuộc đời của những người Thân Mệnh đồng cung là một con đường tương đối bằng phẳng. Dù đường đời của họ có đầy hoa lá hay chỉ toàn sỏi đá, chông gai thì cũng không có những khúc quanh đột ngột, hay những biến động lớn làm thay đổi cả cuộc đời.

manutd
03-21-2007, 10:56 AM
Mệnh Vô Chính Diệu

Khoa Tử Vi Đẩu Số đặt căn bản trên 118 vì sao gồm chính tinh và phụ tinh. Những sao này được phân bố trên 12 cung của một lá số theo các quy tắc đã định dựa vào ngày, tháng, năm và giờ sinh của mỗi người. Chính tinh có những đặc tính và ảnh hưởng mạnh mẽ hơn phụ tinh cho nên những cung quan trọng như Mệnh, Tài, Quan, Phúc rất cần có chính tinh tọ thủ, nhất là Mệnh. Tuy nhiên, cũng có những lá số mà Mệnh không có chính tinh nào tọa thủ, hay chúng ta thường gọi là Mệnh Vô Chính Diệu (VCD).

:smile 28: Một cung Mệnh không có chính tinh tọa thủ như căn nhà không có chủ, một bầu trời không có trăng sao cho nên Mệnh VCD phải mượn chính tinh ở cung đối diện làm chính tinh của mình. Vì vay mượn cho nên Mệnh VCD chỉ chịu ảnh hưởng chừng sáu hay bảy phần những tốt xấu của các chính tinh ở cung xung chiếu mà thôi.

Cung xung chiếu Mệnh là cung Thiên Di. Trong những bài trước, chúng ta đã nói cung Thiên Di là bối cảnh sinh hoặt ngoài xã hội của mỗi người. Do đó, khi phải mượn chính tinh ở cung Thiên Di cho Mệnh của mình thì đặc tính đầu tiên của người VCD là tính uyển chuyển, dễ thích nghi với hoàn cảnh.

Phải chăng vì Mệnh không có chính tinh cho nên những người VCD thường là con của vợ hai, hay nàng hầu. Nếu là con của vợ cả thì tuổi trẻ thuở thiếu thời hay bị đau ốm, bệnh tật, khó nuôi. Khi lớn lên thì cuộc đời cũng long đong, vất vả, sớm phải xa nhà, thường sống phiêu bạt nơi đất khách quên người, và tuổi đời không được thọ.

Một đặc điểm quan trọng khác mà người VCD phải lưu ý là vì Mệnh của mình không có chính tinh ví như đoàn quân không có tướng cho nên người VCD khi ra đời dù là làm công hay tự mình làm chủ thì cũng không nên là người đúng đầu trong một đơn vị như chỉ huy trưởng của một quân đội, giám đốc của một cơ sở hành chánh hay một cơ sở thương mại. Người VCD chỉ nên là nhân vật thứ hai như một cái bóng, đúng sau lưng một người khác đễ phò tá, phụ giúp thì thích hợp và thuận lợi cho công việc hơn. Nếu giữ những chức vụ hàng đầu thì thường hay gặp khó khăn trở ngại, nặng nề hơn thì dễ đưa đến sự thất bại hay tai họa xảy đến cho chính bản thân mình hoặc cho đơn vị, cơ sở mà mình chỉ huy, điều hành.

Người VCD tánh tình thâm trầm, khôn ngoan sắc sảo và rất thông minh. Do vậy, những công việc như soạn thảo kế hoạch, tham mưu, cố vấn, quân sư v.v… rất thích hợp với họ, điển hình như Trương Lương, Phạm Lãi, Gia Cát Lượng thời xưa và như Henry Kissinger ngày nay.:smile 17:

Ở đây chúng ta thấy một điều oái ăm cho người VCD. Họ có khả năng dự thảo kế hoạch nhưng chỉ thuận lợi khi họ làm cho người khác, còn đối với bản thân họ thì lại trái ngược. Họ thường khó đạt được những gì mà họ dự tính cho chính mình. Ảnh hưởng này mạnh nhất là trong khoản tiền vận của cuộc đời. Càng lớn tuổi thì ảnh hưởng này càng giảm đi.

Người VCD thường lao đao vất vả trong buổi thiếu thời. Chỉ bắt đầu khá từ trung vận và càng về già thì cuộc sống càng ổn định hơn. Nói chung thì cuộc đời của họ thường chỉ được tốt đẹp vào nửa đời sau mà thôi. Bởi đặc tính đó cho nên trong mỗi hạn, dù tiểu hay đại hạn, thì họ cũng chỉ được tốt đẹp vào nửa hạn sau. Ví dụ: Đại hạn 10 năm tốt đẹp thì 5 năm sau được thuận lợi hơn và nhiều may mắn hơn.

Là mẫu người có tài, có trí họ có thể đạt được những công danh sự nghiệp. Nhưng trong ba chữ Phước-Lộc-Thọ thì chữ “Thọ” là nhẹ nhất. Và có phải như ông bà chúng ta thường nói: “Đa tài thì bạc mệnh” Cho nên người VCD ít ai có được tuổi thọ cao. Muốn hóa giải vấn đề này, người VCD phải làm con nuôi của người khác và phải đổi luôn cả họ của mình, hoặc phải sớm xa nhà, mưu sinh nơi đất khách quê người.:smile 28:

Với sự bất lợi là Mệnh không có chính tinh thủ, nhưng người VCD vẫn được hai cách tốt:

1. Mệnh VCD có Tuần, Triệt, Thiên Không, hay Địa Không tọa thủ hoặ hợp chiếu, tùy theo cung Mệnh được bao nhiêu sao KHÔNG chiếu, khoa Tử Vi gọi là cách Mệnh VCD đắc nhị không, tam không, hay tứ không. Tuy đây là một cách tốt, khi phát thì phát rất nhanh vì sách có nói “hung tinh đắc địa phát dã như lôi.” Có nghĩa là hung tinh đắc địa thì phát nhanh như sấm chớp. Nhưng dù sao trong cái tốt vẫn ẩn tàng những sự bất trắc vì đó là bản chất của hung tinh cho nên đây chỉ là cách bạo phát bạo tàn kiểu như Từ Hải hay Hạng Võ mà thôi.

Trường hợp Mệnh VCD gặp các sao KHÔNG vừa nêu trên chúng ta phải lưu ý một điều. Nếu Mệnh VCD đắc nhị không thì cũng bình thường, không có gì đáng nói. Nếu đắc tứ không thì ảnh hưởng của Tuần Triệt là con dao hai lưỡi tốt xấu lẫn lộn cho nên không được tròn vẹn. Cách tốt nhất là đắc tam không. Nhưng đối với cách này, cụ Việt Viêm Tử phân biệt rõ ràng giữa các trường hợp “đắc”, “kiến” và “ngộ” đễ khỏi nhầm lẫn trường hợp nào tốt, trường hợp nào xấu.

Trường hợp đắc tam không: Mệnh VCD có một sao không thủ Mệnh, hai sao KHÔNG khác ở thế tam hợp chiếu là tốt nhất. Có câu: “Mệnh VCD đắc tam Không nhi phú quý khả kỳ” Cách này rất ứng hợp cho những người Mệnh Hỏa và Thổ vì các sao Không đều thuộc hành Hỏa cho nên đây cũng là một trong những cách hoạch phát.

Trường hợp kiến tam không: Mệnh VCD có 1 sao KHÔNG thủ, một sao KHÔNG thủ ở cung Quan Lộc hoặc Tài Bạch, 1 sao KHÔNG ở cung xung chiếu (Thiên Di) Trong tam hợp Mệnh có hung tinh hay sát tinh tọa thủ. Người có cách này như mộng ảo hoàn lương. Công danh sự nghiệp dù tạo dựng lên được thì chung cuộc cũng chỉ là một giấc mơ.

Trường hợp ngộ tam không: Mệnh VCD có hung tinh hay sát tinh hãm địa tọa thủ. Hai cung tam hợp và cung xung chiếu có có sao KHÔNG tọa thủ hợp chiếu vào Mệnh. Cách này là “Mệnh VCD ngộ tam không phi yểu tắc bần” có nghĩa là gặp cách này không chết sớm thì cũng nghèo hèn cả đời vì tam KHÔNG đi cùng với hung sát tinh hãm địa ở Mệnh trở thành phá tán.

2. Mệnh VCD được hai sao Thái Dương, Thái Âm ở miếu, vượng địa chợp chiếu. Trường hợp này Mệnh như một vòm trời không một áng mây lại được hai vầng Nhật Nguyệt cùng một lúc chiếu vào khiến cho vòm trời ấy trở nên rực rở. Khoa Tử Vi gọi là “Mênh VCD Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa” Có người cho rằng phải có thêm Thiên Hư ở Mệnh nữa thì mới đúng nghĩa với hai chữ “Hư Không” Điều đó xét ra không cần thiết lắm. Người đắc cách này thông minh xuất chúng, đa tài, đa mưu như Gia Cát Lượng trong thời Tam Quốc phân tranh.

Khổng Minh Gia Cát Lượng sinh vào giờ Tuất ngày 10 tháng 4, năm Tân Dậu. Mệnh VCD an tại Mùi có Thái Dương ở Mão (Mặt trời lúc bình minh) và Thái Âm ở Hợi (mặt trăng vằng vặc lúc nửa đêm, cả hai cùng hợp chiếu về Mệnh. Đây là cách “Nhật Nguyệt Tịnh Minh tá cửu trùng ư kim diện” Người đắc cách này luôn luôn kề cận bên cửu trùng, quyền uy chỉ thua một đấng quân vương mà thôi.

Vì Mệnh VCD, cho nên tuổi thiếu thời Gia Cát Lượng ẩn cư trong lều cỏ. Qua trung vận mới xuất thế theo phò tá Lưu Bị lập nghiệp đế. Ông là vị quân sư tài ba lỗi lạc, trên thông thiên văn, dưới thông địa lý. Chỉ ngồi trong trướng mà điều binh trăm trận trăm thắng. Ông đã hiểu rõ cái số của mình nên giữ đúng vị trí của một người có Mệnh VCD, chiu dưới chỉ 1 người mà trên muôn vạn người.

Nhưng đến khi Lưu Bị qua đời, ấu chúa lên ngôi. Lúc ấy ông phải giữ vai trò của người đứng đầu, quyết định tất cả mọi chuyện như một vị Vua thật sự. Cho nên đó là một điều không thích hợp với người Mệnh VCD. Phải chăng vì vậy mà 6 lần đưa quân ra khỏi Kỳ San thì cũng 6 lần phải rút quân về không kết qủa. Kể cả lúc biết mình sắp chết, muốn cãi số trời, ông đã làm phép cầm sao bổn mạng của mình lại nhưng cũng không thành.

Đó là đặc tính đáng chú ý của người có Mệnh VCD: Mưu sự cho người thì dễ, mà cho chính bản thân mình thì khó.

Người ta cũng cho rằng, Gia Cát Lượng chết sớm là vì sát nghiệp của ông qúa nặng. Ông đã dùng hỏa công đốt chết 10 vạn quân đằng giáp của Mạnh Hoạch trong cốc Hồ Lô. Rồi lại dùng hỏa công đốt chết 18 vạn quân của Tào Tháo trên sông Xích Bích. Nhưng nếu chúng ta xét điều này dưới cái nhìn của khoa Tử Vi thi dù sát nghiệp của ông ta nặng hay nhẹ thì tuổi thọ của ông ta cũng sẽ được bao nhiêu với cái số Mệnh VCD?

manutd
03-21-2007, 11:01 AM
Mẫu người “Tham Vũ Đồng Hành” là những người có cung Mệnh an tại tứ mộ, tức là bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có hai sao Tham Lang và Vũ Khúc tọa thủ đồng cung hoặc xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Thìn và Tuất, thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ xung chiếu với nhau. Nếu cung Mệnh an tại Sửu và Mùi thì Tham Lang và Vũ Khúc sẽ tọa thủ đồng cung. Sau phần trình bày khái quát về cuộc đời của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nói chung, chúng ta sẽ đi vào chi tiết để xem sự khác biệt của mẫu người tuy là Tham Vũ Đồng Hành, nhưng Tham Vũ đồng cung tọa thủ tại Mệnh có gì khác biệt với người Tham Lang thủ Mệnh và Vũ Khúc xung chiếu, cũng như Vũ Khúc thủ Mệnh và Tham Lang xung chiếu?:smile 52:

Trước tiên, chúng ta nói qua về đặc tính của hai sao Tham Lang và Vũ Khúc là hai chính tinh trong cách Tham Vũ Đồng Hành Cư Tứ Mộ, rồi sau đó mới nói đến hai sao phụ khác nữa là Linh Tinh và Hỏa Tinh thì mới đủ bộ và đúng cách. Tham Lang là Bắc Đẩu tinh, hành của Tham Lang có người cho là hành Thủy, có người cho là hành Hỏa và cũng có người cho là hành Mộc. Theo thiển ý của người viết thì Tham Lang thuộc hành Mộc, bởi vậy, khi Tham Lang (đào hoa) tọa thủ tại cung Tí (cung Thủy), khoa Tử Vi gọi đây là cách Phiếm Thủy Đào Hoa, nghĩa là hoa đào trôi dạt trên dòng nước.:smile 35:

Bản tính của Tham Lang là đặt nặng vấn đề vật chất trong cuộc sống. Thích hội hè đình đám, những chỗ đông người với những cuộc vui. Tính rất năng động, háo danh, háo thắng và thích làm những chuyện lớn cho nên có nhiều tham vọng. Ưu điểm của Tham Lang là có năng khiếu về kinh doanh, có khả năng tổ chức, nhưng khuyết điểm là mau chán nản và dễ bỏ cuộc nửa chừng. Nếu Tham Lang ở các vị trí miếu hay vượng địa thì chủ về uy quyền, giàu sang và sống lâu.

Vũ Khúc cũng là Bắc Đẩu tinh và thuộc hành Kim. Bản chất của Vũ Khúc rất nghịch với Tham Lang ở điểm Tham Lang thích vui chơi ở chỗ đông người thì Vũ Khúc lại thích cô đơn, làm việc gì cũng muốn độc hành.:smile 24: Người có Vũ Khúc thủ Mệnh tính gan dạ, táo bạo, có khả năng tổ chức, có đầu óc kinh doanh, chủ quyền uy, danh vọng và giàu sang. Chính những điểm tương đồng này giữa Vũ Khúc với Tham Lang mà bộ Tham Vũ là một bộ sao của những tay kinh doanh có hạng trên thương trường.

:smile 66: Có người cho rằng Tham Vũ là hai sao thuộc về võ cách, tượng trưng cho võ nghiệp thì tại sao lại hợp với lãnh vực kinh doanh? Để trả lời cho điều này, chúng ta hãy nhìn vào cuộc sống của người Hoa Kỳ cũng như cộng đồng người Việt tị nạn, một số những cựu quân nhân, sau khi giã từ vũ khí, họ đã thành công một cách dễ dàng trên thương trường. Vậy phải chăng, những đức tính và khả năng cần có của một người điều binh trên chiến trường cũng cần thiết cho một người lăn lộn trên thương trường, đúng với câu mà người Trung Hoa vẫn nói: thương trường như chiến trường.

Được xem là đắc cách Tham Vũ Đồng Hành thì hai sao Tham Lang và Vũ Khúc phải đóng tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gọi là tứ mộ, bốn cung này thuộc hành Thổ cho nên đó là bốn vị trí miếu địa, vượng địa của hai sao Tham Vũ. Một điều kiện quan trọng khác là tại bốn vị trí này, bộ Tham Vũ phải gặp một hoặc cả hai sao Linh Tinh, Hỏa Tinh. Hai sao Linh Hỏa có thể đồng cung, xung chiếu hay tam hợp chiếu với hai sao Tham Vũ thì mới đầy đủ uy lực mà khoa Tử Vi thường gọi là cách Tham Vũ đồng hành cư tứ mộ, ngộ Linh, Hỏa hào phú gia tư, hầu bá chi quý. Có nghĩa là người Mệnh an tại bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung hay xung chiếu, lại thêm có một hoặc hai sao Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu vào là số giàu sang, phú quý như bậc hầu bá dưới thời phong kiến ngày xưa.

Điều mà chúng ta lưu ý ở đây là sự thành công, phú quý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành không phải từ quan trường, mà chính là từ thương trường. Như trên chúng ta đã nói, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành rất gan dạ, tự tin, nhiều tham vọng, có óc tổ chức và có năng khiếu về thương mãi, cho nên họ là những tay kinh doanh có tầm vóc chứ không phải chỉ làm ăn buôn bán lẻ tẻ. Đó phải chăng là do sự ảnh hưởng kỳ diệu của vòng Ngũ Hành tương sinh trong cách này: hành Hỏa của Linh Tinh, Hỏa Tinh một mặt phù trợ cho hành Thổ của bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi để tương sinh cho hành Kim của Vũ Khúc, đồng thời cũng đốt cho Kim này thành Thủy để dưỡng Mộc của Tham Lang, rồi Mộc của Tham Lang lại là củi cho ngọn lửa Linh, Hỏa cháy bùng lên...

Một đặc điểm khác đáng lưu ý của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là vì ảnh hưởng của Vũ Khúc, cho nên mẫu người này thường lao đao, lận đận trong tiền vận, và sớm lắm thì cũng phải qua trung vận, đa số phải đến hậu vận mới có thể gọi là thành công như ý muốn và lúc đó cơ nghiệp mới có thể bền vững được.:smile 2:

Hỏa Tinh và Linh Tinh là hai sao Hỏa, cho nên lúc phát thì sẽ giúp cho bộ Tham Vũ phát rất nhanh, nhưng nếu phát không đúng vào thời vận thì cũng chỉ như ngọn lửa rơm, bùng lên rồi cũng tắt đi một cách nhanh chóng. Nếu biết được lý lẽ này, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành chẳng nên bôn ba sớm trong cuộc đời mà chuốc nhiều phiền não, đắng cay. Điều này rất nhiều người đã biết, nhưng họ không cam lòng, để cuối cùng cũng nói được một câu an ủi với chính mình như Nguyễn Du đã nói: càng phong trần danh ấy càng cao!

Đặc điểm này thấy rõ nhất ở những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Sửu và Mùi, hai sao Tham Vũ sẽ đồng cung, khắc chế nhau mạnh mẽ trong tiền vận (khoảng 33 hoặc 36 tuổi) khiến cho đương số bao lần thấm mệt và sớm ngộ được cái ý nghĩa của câu: có tài mà cậy chi tài... Phải qua trung vận và bắt đầu vào hậu vận thì sự nghiệp của người Tham Vũ Đồng Hành có Mệnh an tại Sửu hay Mùi mới được ổn định và bền vững cho đến cuối cuộc đời.

Nói đến sự thành công của mẫu người Tham Vũ Đồng Hành nhanh hay chậm, bền vững hay ngắn ngủi thì chúng ta cũng nên lưu ý trường hợp nếu Mệnh an ở tứ mộ, có Tham Lang tọa thủ đồng cung với Hỏa Tinh, thì đây còn gọi là cách Tham Hỏa Tương Phùng, nếu gặp Linh Tinh thì gọi là cách Tham Linh Tịnh Thủ, cũng là những dạng của Tham Vũ Đồng Hành, nhưng với cách này, khi đến thời, đương số sẽ phát rất nhanh vì ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngũ Hành tương sinh giữa Tham Lang thuộc Mộc và Hỏa Tinh thuộc Hỏa đồng cung với nhau. Tuy nhiên, công danh sự nghiêp dù có phát rất nhanh chóng, nhưng cũng chẳng giữ được lâu bền, vì đây cũng chỉ là cách bạo phát, bạo tàn mà thôi.

Tương tự như vậy, chúng ta xét đến vị trí của hai chính tinh Tham Vũ tại tứ mộ. Đối với những người Tham Vũ Đồng Hành mà Mệnh an tại hai cung Thìn và Tuất thì sự khắc chế của hai sao Tham Vũ tương đối nhẹ hơn vì nằm trong vị trí xung chiếu nhau, vì vậy, sự nghiệp của mẫu người này sẽ thành đạt sớm hơn, nhưng mức độ của sự thành đạt lại không có kích thước bằng những người Mệnh an tại Sửu Mùi.

Và một điểm khác biệt nữa là cá tính của mỗi mẫu người Tham Vũ Đồng Hành sẽ có sự khác biệt tùy theo cung an Mệnh. Khi Mệnh an ở Thìn Tuất thì nếu chúng ta giao tiếp với những người này, chúng ta sẽ nhận ra họ như có hai con người khác nhau: một con người vì ảnh hưởng của Vũ Khúc nên thường sống cô độc, suy nghĩ và quyết định một mình, nhưng khi ra ngoài, sao Tham Lang lại làm cho họ thành một con người khác, họ biết nói, biết làm cho vui lòng người khác, mặc dù trong thâm tâm họ không thích như vậy, và phải chăng đây cũng là một đăÏc tính giúp họ thành công trong lãnh vực kinh doanh?

Tóm lại, mẫu người Tham Vũ Đồng Hành là một mẫu người lý thú khi chúng ta quen biết hoặc hợp tác trong vấn đề làm ăn mua bán với nhau. Họ là những người có cá tính rất mạnh, gan lì, táo bạo và nhiều tham vọng. Địa bàn giúp họ thành công là thương trường. Và thời điểm mà họ xây dựng được sự nghiệp như ý là hậu vận của cuộc đời.:big_smile:

manutd
03-21-2007, 11:07 AM
Tâm lý chung của nhiều người khi nghiên cứu về khoa Tử Vi là thường chỉ chú tâm đến những bộ sao chính như Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương....Thật ra những cách đơn giản như Cự Kỵ, hoặc các bộ sao nhỏ như Thai Phục Vượng Tướng mà chúng ta sẽ bàn đến cũng cho chúng ta thấy một số mẫu người có những nét rất đặc biệt trong cuộc đời, nếu không muốn nói là những cách, những bộ sao nhỏ này đôi khi còn ảnh hưởng sâu đậm hơn và chi phối mạnh mẽ hơn trên cuộc đời của đương số. Và trước khi phác họa những nét đặc biệt cũng như những điểm giống nhau và khác nhau của hai mẫu người Cự Kỵ và mẫu người Thai Phục Vượng Tướng, chúng ta hãy bàn qua bản chất của mỗi sao trong hai cách này.:smile 20:

Trước tiên, Cự Môn thuộc nhóm Bắc Đẩu tinh, hành Thủy, miếu địa ở Mão, Dậu, vượng địa ở Tí, Ngọ và Dần. Về ý nghĩa thì Cự Môn là cái miệng, và chúng ta đã biết, con người sống cũng nhờ cái miệng, chết cũng vì cái miệng, được người thương cũng do cái miệng, bị người ghét cũng bởi cái miệng của mình mà thôi...Ngoài ý nghĩa trên, nếu Cự Môn tọa thủ tại những vị trí miếu, vượng thì Cự Môn còn là biểu tượng của sự giàu sang, thông minh, cơ trí, có khiếu ăn nói, có tài hùng biện, thích hợp với các ngành ngoại giao, giao thiệp, dạy học, luật sư...:smile 32:

Chẳng hạn nếu thấy lá số của con cái mình có cách Cự Hổ Tuế Phù, là gồm các sao Cự Môn, Bạch Hổ, Tuế Phá và Thiên Phù hội họp với nhau thì nên khuyến khích cho con cái đi vào ngành luật, vì tương lai chắc chắn sẽ trở thành những luật sư tài giỏi. Nhưng ngược lại, nếu Cự Môn rơi vào những nơi hãm địa thì đã không tài giỏi lại thiếu suy nghĩ, cứ mở miệng ra là bị người ta ghét và suốt đời chỉ gặp toàn là những chuyện thị phi khẩu thiệt mà thôi.

Ý nghĩa thứ hai, Cự Môn là viên ngọc. Chẳng hạn, Cự Môn ở Tí Ngọ là cách Thạch Trung Ẩn Ngọc, có nghĩa là ngọc còn ẩn trong đá, Cự Môn gặp Thái Dương là cách Cự Nhật, là ngọc lấp lánh dưới ánh mặt trời, và Cự Môn gặp Hóa Kỵ là cách Cự Kỵ mà chúng ta đang bàn đến, còn gọi là Tì Hà Ngọc, có nghĩa là ngọc bị tì vết.

Sao thứ hai của cách này là Hóa Kỵ, một ám tinh với nhiều tính xấu như độc hiểm, ích kỷ, ghen tương, tai tiếng, thị phi, kiện cáo, tai họa, bệnh tật, nông nổi và hay lầm lẫn...Với bản chất như vậy, cho nên Hóa Kỵ đã làm cho viên ngọc Cự Môn thành tì vết, nhưng Hóa Kỵ cũng có một điểm tốt là giữ được của.:smile 9:

Cách Cự Kỵ không có gì đáng nói đối với nam mệnh, ngoài những nét tổng quát là cuộc đời nhiều thất bại, lại thường hay bị nhiều điều thị phi khẩu thiệt, tai nạn về xe cộ hay sông biển, mà cách này chỉ đáng lưu ý hơn đối với nữ mệnh. Khi gọi cách Tì Hà Ngọc thì chữ ngọc hàm ý chỉ vào phái nữ, hay nói rõ hơn là vấn đề trinh tiết, phẩm hạnh của một người đàn bà, cho nên mẫu người Cự Kỵ mà chúng ta nói đến là bàn nhiều đến lá số của những người đàn bà có cách Cự Kỵ.

Khi lá số của một nữ mệnh có Cự Môn tọa thủ và có Hóa Kỵ đồng cung, xung chiếu hay hợp chiếu thì ít nhiều cũng có điểm bất lợi. Ở đây chúng ta phải lưu ý một điều là khi luận đoán một lá số của nữ mệnh mà có những cách như Cự Kỵ, Tham Kỵ, Đào Kỵ hay Thai Phục Vượng Tướng mà chúng ta sẽ đề cập tiếp theo, thì sự cân nhắc nặng nhẹ phải hết sức thận trọng, vì vấn đề sẽ liên quan đến danh tiết và phẩm hạnh của một người đàn bà. Do đó, chúng ta nên phân biệt rõ ràng mỗi trường hợp sau đây.

Trường hợp lá số của một người đàn bà mà cung Mệnh có Cự Môn miếu vượng tọa thủ và gặp Hóa Kỵ, chúng ta phải quan sát thêm ở cung Mệnh và các cung chính khác như cung Thân, cung Phúc, cung Phu, cung Quan, cung Nô... để xem nếu có những sao xác định nết đoan chính như Thái Dương, Tứ Đức... hoặc những sao khắc chế tính lẳng lơ như Hóa Khoa, Thiên Hình... thì Cự Kỵ ở đây nhẹ là những người thường hay gặp các hoàn cảnh khiến cho mình bị những tai tiếng thị phi hoặc dễ bị người khác hiểu lầm, đánh giá sai lầm phẩm hạnh của mình mà có những lời nói, cử chỉ xúc phạm, sách nhiễu tình dục (sexual harassement).

:smile 62: Mức độ nặng hơn, nếu gặp những sao như Thiên Hình, Kiếp Sát... thì có thể vì bệnh tật mà phải mổ xẻ, như cắt bỏ buồng trứng, tử cung... Hoặc có thể là những tai nạn về xe cộ và đáng kể nhất là những tai họa về sông biển như một số người đã gặp trên đường vượt biển trong những năm về trước. Như vậy, trong trường hợp này, viên ngọc của cách Tì Hà Ngọc vốn là một viên ngọc sáng, nhưng vì hoàn cảnh mà rơi xuống bùn nên vấy bùn, hoặc bị lăn xuống đường nên có tì vết, đó là ngoài ý muốn, là tai nạn của đương số mà thôi.

Trường hợp nếu Cự Môn tuy là miếu, vượng mà gặp Hóa Kỵ, lại còn được sự hỗ trợ của các sao có tính lãng mạn, như Văn Xương, Văn Khúc, Hồng Loan hoặc lẳng lơ, ham chuộng vật chất, nặng phần tình dục như Tham Lang, Đào Hoa, Thiên Riêu... thì những gì không tốt xảy ra cho đương số là do bản tính chứ không phải là những rủi ro, tai nạn, và hoàn cảnh chỉ là những trợ lực thúc đẩy thêm mà thôi. Chẳng hạn, nữ mệnh có cách Cự Kỵ lại gặp thêm Đào Hồng thì làm sao mà giữ được trinh tiết cho đến ngày lên xe hoa, và khi đã có gia đình thì một đời cũng đau khổ vì tình hoặc phải lo buồn vì chồng con, dù cho họ có một cuộc sống vật chất đầy đủ, dù cho họ cũng có địa vị trong xã hội, là những mệnh phụ phu nhân...

Trường hợp này có thể ví như mẫu người của Vương Thúy Kiều, ở cái thời xa xưa đó, với xã hội phong kiến đó, mà nửa đêm thân gái một mình vào nhà Kim Trọng đánh đàn, thì làm sao trách được sự đánh giá nghiêm khắc của người sau: Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm. Và như vậy, viên ngọc của cách Tì Hà Ngọc trong trường hợp này là một viên ngọc vốn đã có vết, có bọt ngay từ trong lòng đất, chứ không phải do tay người dũa ngọc hay người chủ của viên ngọc.

Trường hợp nữ mệnh có Cự Môn hãm địa tọa thủ mà không được Tuần, Triệt án ngữ hay được các sao “đoan chính” hóa giải phần nào thì đây là một mẫu người đặc biệt. Là mẫu người có một bề ngoài mà ai mới gặp cũng thấy yêu thích, nhưng khi tiếp cận lâu dài thì mới thấy rõ con người thật được che đậy vốn là một người đàn bà chua ngoa, ghen tương, đố kỵ đủ điều... Và nếu đi kèm với một ám tinh Hóa Kỵ nữa thì ba chữ Tì Hà Ngọc thật là đúng nghĩa!

Khoa Tử Vi cũng cho rằng, cách Cự Kỵ dù tọa thủ tại cung Mệnh hay các cung chính yếu khác như cung Phúc Đức, cung Quan Lộc, cung Tài Lộc hay cung Phu Thê cũng còn nói lên sự bất ổn trong cuộc sống tình cảm của đương số. Lá số có cách Cự Kỵ một đời khó lòng chỉ có một mối tình hay chỉ một cuộc hôn nhân, chuyện gãy đổ, chắp nối hay sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi, non vợ chồng là chuyện bình thường của mẫu người này, nếu không được những sao hóa giải. Các trở ngại hay đổ vỡ trong tình cảm thường là do sự khắc khẩu, ảnh hưởng của Cự Môn, và tính ghen tương cũng như lòng ích kỷ quá nặng, ảnh hưởng của Hóa Kỵ.:smile 20:

Tóm lại, cách Cự Kỵ không tốt cho cả nam mệnh và nữ mệnh, nhưng đối với nữ mệnh thì sự ảnh hưởng nặng nề và tai hại hơn trong lãnh vực trinh tiết và phẩm hạnh của đương số. Nói chung, nữ mệnh mà gặp cách Cự Kỵ thì cuộc đời chắc chắn là một kiếp phong trần, chỉ khác nhau ở mức độ nặng nhẹ mà thôi. Nhưng ở đây, chúng ta đừng quên một trường hợp đặc biệt, cách Cự Kỵ lại rất tốt cho những người tuổi Quý và tuổi Thân, khoa Tử Vi Đẩu Số gọi là phản vi kỳ cách, có nghĩa là từ xấu trở thành tốt vì có sự ứng hợp.

manutd
03-21-2007, 11:10 AM
Khoa Tử Vi chia và xếp hạng các tinh đẩu ra làm 3 loại: Chính Tinh, trung tinh và phụ tinh. Sao Tử Vi được xem như chủ tể của các vì sao hay còn gọi là đế tinh. Vì vậy, Tử Vì cũng tựa như một vị Vua dưới thời phong kiến. Vua cũng có thểlà minh quân, cũng có thể là hôn quân hoặc chỉ là Vua bù nhìn. Bản chất của sao Tử Vi cũng vậy. Nếu ở những vị trí miếu, vượng thì Tử Vi là một ông Vua đức độ, được thêm hiền thần (cát tinh) phò trợ thì chắc chắn là một minh quân.

Ngược lại nếu ở vị trí hãm địa hay bị bọn gian, nịnh thần (ám tinh, hung tinh) vây quanh thì đương nhiên sẽ trở thành một hôn quân. Nhưng cũng có một vài vị Vua tuy sa cơ thất thế, lạc vào hãm địa nhưng lại không trở thành xấu xa mà chỉ có khuynh hướng chán mùi trần thế, muốn bỏ đời tìm đạo. Đó chính là nét đặc thù của mẫu người Tử Tham Mảo Dậu. Hay cũng có thể gọi là mẫu người Nửa Đời Nửa Đạo.:confuse:

Trước tiên chúng ta thử tìm xem những nguyên nhân nào đã khiến cho bộ Tử Tham khi cư ở Mão Dậu lại trở thành tốt không tốt hẳn, mà xấu cũng không xấu hẳn như vậy? Hai cung Mão và Dậu là hai vị trí không tốt cho sao Tử Vi. Cũng tại hai vị trí này Tử Vi gặp Tham Lang hãm địa. Tuy là đế tinh nhưng nằm ở nơi bất lợi cho nên Tử Vi mất hết uy lực nên dễ đưa đến khuynh hướng chán đời., yếm thế, và hay có cái nhìn nghiêng nhiều về lãnh vực tâm linh. Muốn tìm sự yên ổn cho tâm hồn nơi tôn giáo.

Đi xa hơn, chúng ta hiểu rằng khi nói về phương vị trong khoa Tử Vi thì cung Mão là phương Đông, là hướng của mặt trời mọc, là biểu tượng ban mai. Cung Dậu là phương Tây, là hướng mặt trời lặn, là biểu tượng của hoàng hôn. Hai cung Mão và Dậu là hai thời điểm bắt đầu và chấm dứt của một ngày, cũng là biểu tượng của sự sớm nở tối tàn, sớm nắng chiều mưa, và chính những biểu tượng này đã góp phần vào khuynh hướng bi quan, yếm thế cho Tử Vi tại hai cung Mão Dậu.

Ngược lại, bản tánh của Tham Lang là ham vui, thích sự náo nhiệt ồn ào trong cuộc sống. Khi hãm địa thì sự ham thích danh lợi của Tham Lang lại càng mạnh mẽ hơn và ba chữ “Tham, Sân, Si” đều có đủ. Chữ “Tham” dẫn đầu để lôi kéo quyến rũ Tử Vi vào vòng lẩn quẩn của thế tục.:smile 31:

Như vậy, chúng ta có thể nói đây là nét đặc biệt của mẫu người Tử Tham Mão Dậu. Nhưng chúng ta cũng nên phân biệt 2 mẫu người sau đây:

1. Mẫu người có khuynh hướng về tôn giáo mạnh hơn những người khác khi còn nhỏ, giống như một bản tính trời sinh. Đó là trường hợp chúng ta thấy những đứa bé lúc nhỏ theo cha mẹ đến chùa, nhà thờ, hoặc tham dự những lễ lạc, thờ cúng…Có những em bé làm theo như bổn phận, nhưng cũng có những đứa bé lại có ý thích thú, tự ý học thuộc kinh sách, tự ý đến chùa, đến nhà thờ để tham dự những sinh hoạt một cách tích cực…Và dần dần cái ý tưởng về tôn giáo ngày càng rõ ràng hơn những đứ bé khác cùng trang lứa. Khi lớn lên, tùy theo mỗi hoàn cảnh trải qua trong cuộc sống, nội tâm của họ phải chịu sự dằn co giữa đời và đạo khiến cho họ nhìn đời mà ít khi thấy màu hồng

Và tùy theo mức độ hướng về đời hay đạo, bên nào mạnh hơn, có nghĩa là còn tùy theo sự ảnh hưởng của các sao đi cùng với chính tinh Tử Tham. Có người thể hiện khuynh hướng tôn giáo một cách tiêu cực như thích làm việc xã hội, bỏ công bỏ của ra làm việc từ thiện, hoặc tích cực hơn thì đó là những người tu tại gia, và hơn thế nữa thì theo con đường tu hành ngay từ khi còn bé.

Những biến chuyển này đều do tính trung hậu, phúc đức của Tử Vi mà ra. Nhưng ở Mão và Dậu, oái ăm thay Tử Vi lại ngồi chung với Tham Lang hãm địa. Đây là hình ảnh cho một cuộc đời khổ não. Bởi vậy dù đã bước vào con đường tu hành nhưng nợ trần vẫn chưa dứt.

2. Mẫu người Tử Tham Mão Dậu là lúc khởi đầu của cuộc đời, họ hoàn toàn chưa có một ý niệm mạnh mẽ gì về tôn giáo cả. Nhưng đến một lúc nào đó họ bị vấp ngã để rồi chính những sự đau đớn chua cay ở đời đã dẫn dắt họ đến với đạo. Nhưng vào được với đạo hay không thì còn tùy vào các sao đi cùng Tử Tham. Chẳng hạn nếu gặp Không Kiếp thì khả năng và sát xuất tu hành rất cao. Nếu gặp Xương, Khúc thì tâm còn vướng nặng chuyện của trần tục cho nên khó mà tu thành.

:smile 61: Ngoài ra nếu không đề cập đến phương diện tâm linh thì cuộc đời của những người Tử Tham Mão Dậu cũng ba chìm bảy nổi, thành bại thất thường từ cuộc sống vật chất cho đến vấn đề tình cảm lúc nào cũng đòi hỏi ở đương số một sự phấn đấu. Nhưng cuộc dời cũng buồn nhiều hơn vui, ít khi được xúng ý toại lòng.

Tóm lại: Mẫu người Tử Tham Mão Dậu có một nét đặc biệt là có lòng tín ngưỡng rất mạnh ngay từ khi còn bé. Cuộc sống của họ bị giằng co giữa đời và đạo, điển hình như những người tu tại gia, tu xuất…Điểm này có phần giống những người có Thiên Không thủ Mệnh, là những người tuy không bi quan, yếm thế như Tử Tham Mão Dậu mà họ chỉ hướng về tôn giáo mỗi khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn, bị vấp ngã, hay lưng trời gãy cánh (bán thiên triết sĩ).:smile 19:

manutd
03-21-2007, 11:15 AM
Nhật là Thái Dương, là mặt trời. Nguyệt là Thái Âm, là mặt trăng. Hai vầng Nhật Nguyệt là 2 trong 14 chính tinh của khoa Tử Vi. Những đặc tính của Nhật Nguyệt rất thực tế. Mặt trời là nguồn năng lượng lớn nhất đối với qủa đất của chúng ta cho nên người có Thái Dương thủ Mệnh là người rất năng động. Dù nam hay nữ tính tình cũng có phần nóng nảy.:28[1]:

Từ cổ chí kim mặt trăng luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thi nhân cho nên người có Thái Âm thủ Mệnh thường mang tính đa sầu, đa cảm. Chúng ta sẽ đi vào chi tiết hơn bản chất của mỗi sao trước khi có cái nhìn khái quát về mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm.

Thái Dương thuộc nam đẩu tinh, hành Hỏa, miếu địa ở Tỵ, Ngọ tức là mặt trời vào lúc giữa trưa, và vượng địa ở Dần, Mão, tức là mặt trời lúc bình minh. Ở 4 vị trí trên, Thái Dương chủ về sự thông minh, lòng nhân đức, tài lộc và uy quyền. Thái Dương rất hợp với người Dương Nam, Dương Nữ, và những người sinh vào ban ngày.

Thái Âm thuộc bắc đẩu tinh, hành Thủy, miếu địa ở Dậu, Tuất, Hợi, là lúc mặt trăng tỏa sáng nửa đêm, vượng địa ở hai cung Thân (lúc trăng mới mọc), và Tí (lúc trăng sắp tàn)
Ở những vị trí miếu vượng, Thái Âm là sự nhân từ, tánh đa sầu, đa cảm và lãng mạn, có khiếu về văn chương, nghệ thuật. Đồng thời Thái âm cũng chủ sự giàu có về điền sản như nhà cửa, đất đai…Thái Âm đặc biệt phò trì cho người Âm Nam, Âm Nữ, những người mạng Mộc, Thủy, và người sinh vào ban đêm, nhất là sinh vào những đêm trăng tròn 15, 16 thì càng tuyệt hảo.

:beated: Trong cơ thể, Nhật Nguyệt tượng trưng cho đôi mắt. Trong gia đình, Thái Dương là ông, là cha, là chồng, Thái Âm là bà, là Mẹ, là vợ…Điều này rất rõ khi cung hạn có Nhật hay Nguyệt tọa thủ thì những gì xảy ra trong hạn đó không những là cho chính bản thân của mình mà còn nói lên những sự việc xảy ra cho chồng, cho vợ, cha mẹ, ông bà của đương số nữa. Sự biểu tượng này cũng nói lên tình cảm hay sự gần gũi mật thiết trong cuộc sống giữa người con đối với cha hay mẹ. Chẳng hạn, khi chúng ta thấy lá số của một người có Thái Dương thủ Mệnh thì người này chịu ảnh hưởng tánh tình của cha nhiều hơn, có thể sẽ nối nghiệp cha, hoặc có thể vì hoàn cảnh, đương số sẽ sống gần gũi và hợp với cha nhiều hơn là với mẹ.

Khi nói đến hai sao Nhật Nguyệt, khoa Tử Vi có một nguyên tắc mà chúng ta thường nghe là: “Chính bất như chiếu” nghĩa là: Nhật Nguyệt chiếu Mệnh tốt hơn thủ Mệnh. Điều này nghĩ cũng hợp lý, rất thực tế. Chảng hạn như chúng ta đặt một ngọn đèn ngay trước mặt mà đọc sách thì ánh sáng chiếu trực tiếp vào mắt sẽ làm cho mắt bị chói và mau mỏi mệt hơn là để ngọn đèn chiếu lên chụp đèn, hay chiếu vào tường rồn phản chiếu vào trang sách.

Chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn khi đi sâu vào trường hợp Nhật Nguyệt đồng cung. Trong 12 cung của lá số, bộ Nhật Nguyệt chỉ đồng cung ở hai vị trí Sửu, Mùi tạo nên một mẫu người khá đặc biệt gọi là mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm.:smile 20:

Nhật Nguyệt Đồng Lâm cũng giống như hiện tượng Nhật Thực, Nguyệt Thực. Nghĩa là trong một khoản thời gian nào đó, mặt trời, mặt trăng, và trái đất cùng ở một đường thẳng. Như chúng ta đã thấy, khi Nhật Thực hay Nguyệt Thực thì mặt trăng che mặt trời hoặc mặt trời che mặt trăng, cho nên ánh sáng mờ mờ ảo ảo, ngày chẳng ra ngày, đêm cũng không giống đêm. Đó chính là nét đặc thù đầu tiên của mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm.

“Những người bất hiễn công danh
Cũng bởi Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi”.

Ý nghĩa thật qúa rõ ràng: Những người có Mệnh an tại Sửu/Mùi, có Nhật Nguyệt tọa thủ thì một đời công danh cũng như sự nghiệp khó lòng được như ý. Ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt mà chúng ta sẽ bàn đến sau.

Mệnh an tại Sửu/Mùi có NN đồng thủ, mặc dù không phải là những vị trí miếu vượng của NN nhưng cũng là người khá thông minh vì đó là bản chất thuần túy của vầng NN. Tuy nhiên vì hai nguồn ánh sáng nằm cùng với nhau cho nên NN tự che lấy ánh sáng của nhau như đã nói ở trên. Vì vậy người Nhật Nguyệt Đồng Lâm có trí nhớ kém và thường hay có những quyết định lầm lẫn, mãi cho đến khi việc đã xong, quay mình nhìn lại thì mới thấy ân hận tại sao lúc đó mình làm như vậy. NN là biểu tượng của ngày và đêm, và cũng là biểu tượng của Âm và Dương trong vũ trụ cho nên người có NN thủ hay chiếu Mệnh thường có năng khiếu về ngành điện tử, điện toán, vi tính….:confuse:

NN đồng cung cũng như Nhật Thực, Nguyệt Thực là khoản thời gian mà ánh sáng và bóng tối hòa lẫn với nhau, trắng đen lẫn lộn, và như chúng ta thường gọi là lúc tranh tối tranh sáng. Bởi thế, người Nhật Nguyệt Đồng Lâm thần kinh dễ bị suy yếu, hay bị những chứng nhức đầu kinh niên, căng thẳng thần kinh, dễ bị xúc động, và chắc chắn một điều là hai mắt kém, có nhiều bệnh tật khi còn bé.

Riêng đố với phái nữ, người Nhật Nguyệt Đồng Lâm mỗi lần có kinh nguyệt thường bị đau bụng dữ dội hơn những người khác. Và họ thường hay bị những chứng bệnh mà đông y gọi là bệnh khí huyết.:smile 48:

Nếu nói như vậy, Mệnh có NN đồng thủ tại Sửu/Mùi thì đây không phải là một cách tốt, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như sau:

1. Mệnh có Nhật Nguyệt tọa thủ tại Sửu/Mùi mà có Tuần án ngữ, và được các văn tinh như Xương Khúc, Khôi Việt, Quang Quí, Thai Tọa, Đào Hồng Hỷ hội hợp thì trở nên tốt. Đây là số của những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, những người làm nghành truyền thông, hay là giới văn nghệ sĩ danh tiếng và có địa vị trong giới văn chương, nghệ thuật.

2. Mệnh có Nhật Nguyệt đồng thủ tại Sửu/Mùi, có Hóa Khoa, Hóa Lộc đồng cung hay xung chiếu, hay hợp chiếu thì lại trở nên tốt đẹp. Công danh sự nghiệp vững vàng, có quyền cao chức trọng trong xã hội.

Tóm lại, ngoài hai trường hợp vừa nêu trên, Nhật Nguyệt Đồng Lâm ở Sửu/Mùi thì cuộc đời cũng được cơm no áo ấm nhưng đây là mẫu người bất đắc chí, có khả năng mà không gặp được thời vận điển hình như nhà thơ Tú Xương ngày trước.

Cũng là NN đồng cung, nhưng đúng với nguyên tắc căn bản mà chúng ta đề cập ở trên “Nhật Nguyệt chiếu Mệnh tốt hơn thủ Mệnh” Như vậy nếu Mệnh an ở Sửu được NN đồng cung ở Mùi xung chiếu thì chắc chắn tốt hơn NN tọa thủ tại Mệnh. Và phú Tử Vi cũng khẳng định điều này: “Nhật Nguyệt đồng Mùi, Mệnh an Sửu, hầu bá chi tài.” Trong trường hợp này nếu Mệnh có Tuần án ngữ để giữ ánh sáng của NN, và có Hóa Kỵ thủ Mệnh như vầng mây ngũ sắc làm tăng thêm độ sáng cho NN. Được cách này, công danh phú quý càng rực rở và bền vững hơn.:angry:

Như vậy, khi nói đến mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm, chúng ta phải phân biệt 2 trường hợp. Nếu NN đồng thủ Mệnh thì cuộc đời được mô tả khái quát như câu: “Những người bất hiễn công danh, cũng vì NN đồng tranh Sửu Mùi” Nếu NN đồng cung xung chiếu Mệnh thì công danh sự nghiệp chắc chắn sẽ trong tầm tay.

Nhưng cho dù ở trường hợp nào thì mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm giống nhau ở chổ mắt yếu, nhức đầu kinh niên, thần kinh dễ rối loạn, trí nhớ kém, phái nữ thường bị đau bụng dữ dội khi hành kinh. Năng khiếu nổi bật nhất của họ là văn chương và nghệ thuật.

manutd
03-22-2007, 04:53 PM
Trong khoa Tử Vi Đẩu Số, “Thai Phục Vượng Tướng” chỉ là một bộ sao nhỏ, gồm các sao: Thai, Phục Binh, Đế Vượng, Tướng Quân hay Thiên Tướng. Trong cơ thể, sao Thai chỉ bộ phận sinh sản của đàn bà, cũng có nghĩa là bào thai, là sự sinh đẻ, là vấn đề sinh lý, tình dục, một cấu tạo mới hay sự thay đổi mới. Phục Binh chỉ sự lừa gạt, dối trá, âm mưu, gài bẫy, hãm hại.:smile 34: Đế Vượng có nghĩa là cái lưng, là số nhiều, là sự hưng thịnh, phát đạt. Đế Vượng còn chỉ sự sinh sôi nảy nở, sự canh cải mới mẽ. Thiên Tướng/Tướng Quân trong cách này hàm ý nghĩa là người đàn ông.

Bộ Thai Phục Vượng Tướng (TPVT) không có ý nghĩa gì nhiều về công danh, sự nghiệp hay giàu sang phú quý, và cũng không có gì đáng nói với nam giới. Đối với nữ giới, bộ sao này rất là quan trọng. TPVT cũng phần nào giống như bộ Cự Kỵ, hay Tham Kỵ, nói lên bản tánh, những biến cố, cũng như những khúc quanh quan trọng về mặt tình cảm, hay khuynh hướng tình dục trong cuộc đời của một người, đặc biệt là phụ nữ. Vì vậy chúng ta phải rất thận trọng và cân nhắc khi thấy một lá số nữ mệnh có cách TPVT. Bởi vì lời giải đoán là sự đánh giá về danh tiết và phẩm hạnh của đương số. Điều đó đối với một người đàn bà tối ư quan trọng.

Trường hợp nữ mệnh có TPVT nằm trong các cường cung như Mệnh, Tài, Quan, Phúc, Di, Thê mà chính cung có những sao chủ sự đoan chính, hay những sao có khả năng khắc chế tính lãng mạn, dâm đãng, lẳng lơ, sự buông thả trong vấn đề tình dục, thì lá số đó sẽ có 2 trường hợp:

1. “Tiền Dâm Hậu Thú” có nghĩa là ăn ở với nhau trước rồi mới cưới hỏi sau.:biggrin: Với nhịp sống của một xã hội tân tiến hôm nay thì vấn đề này trở nên hết sức bình thường. Nhưng nếu ngược trời gian trở về một thế kỷ trước đây thì qủa là một điều khó có thể chấp nhận được. Điều lý thú là khoa Tử Vi có thể nói lên những điều thầm kín ấy một cách khá chính xác.
2. Sao Thai, Phục Binh nói lên sự hư thai, Đế Vượng ý nói nhiều lần. Đương số có thể gặp cả hai trường hợp nêu trên.

Cũng cách TPVT nhưng Mệnh và các cung chính lại không có những sao khắc chế, ngược lại có thêm những dâm tinh khác như Tham Lang, Đào Hoa, Thiên Riêu, Mộc Dục…đồng thủ hay hợp chiếu thì đương số sẽ thất trinh, thất tiết với người khác khi lấy chồng, hoặc sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi, non vợ chồng, chứ không có cưới hỏi gì.

Trường hợp nữ Mệnh gặp cách TPVT mà cung Mệnh và những cung chính bị nhiều sát tinh như Địa Không, Địa Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì sự thất tiết có thể là do hoàn cảnh hay tai nạn ngoài ý muốn. Không hẳn đương số là hạng đàn bà lẳng lơ mất nết.

:smile 11: Trường hợp có sao Thai thủ Mệnh, nhưng không đủ 4 sao mà Thai lại gặp Đào Hoa hay Hồng Loan tọa thủ đồng cung hoặc hợp chiếu thì ý nghĩa ở đây không những chỉ đơn thuần vấn đề ăn ở với nhau trước khi cưới hỏi mà còn chỉ bản tánh lẳng lơ, mất nết, thích chuyện ngoại tình, cho nên phú Tủ Vi mới có câu:

“Đào Hồng mà ngộ sao Thai
Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.”

hay

“Đồng Hồng mà ngộ sao Thai
Chồng vừa khỏi cửa đón trai vào nhà”

Trường hợp nữ mệnh có TPVT mà sao Thai cùng với những dâm tinh khác tọa thủ tại Mệnh, mà đương số đã có gia đình thì sẽ có thai do ngoại tình. Nếu Thai gặp Song Hao thì dễ bị hư thai, gặp Lưu Hà hay Hóa Kỵ thì dùng thuốc mà phá thai, hặp Thiên Hình hay Kiếp Sát thì nạo thai, hay khi sanh phải bị mổ xẻ.

Nếu Thai tọa thủ tại Mệnh có Thiên Riêu đồng cung hay hợp chiếu thì đây cũng là mẫu đàn bà có cuộc sống rất buông thả. Nếu Thai Riêu gặp thêm Đào Hoa nữa thì phải chịu một kiếp phong trần, và nếu không được những sao khắc chế bớt sẽ dễ trở thành gái giang hồ, đàn bà lăng loàn, xem thường luân thường đạo lý.

Cũng cách TPVT mà có Phục Binh thủ Mệnh hoặc xung chiếu từ Thiên Di thì sự thất trinh của đương số thường là bị dụ dỗ, cưỡng bức, hay gài bẫy. Nếu có thêm sát tinh Không Kiếp đồng cung hay hợp chiếu thì càng chắc chắn hơn.

Trường hợp nữ Mệnh không thuộc cách TPVT nhưng trong lá số bộ sao này nằm ở một cung nào đó thì chúng ta cũng nên cân nhắc 2 trường hợp sau đây:

1. Mệnh của đương số là người đoan chính, đến hạn gặp TPVT thì vấn đề sinh con đến trong hạn này.

2. Nếu Mệnh là người đa tình, lãng mạn mà hạn gặp TPVT (phải đủ 4 sao) thì phải nên thận trọng trong vấn đề giao lưu tình cảm. Trong hạn này (thường ứng nghiệm vào tiểu hạn 1 năm) cuộc đời sẽ có nhiều thay đổi, những khúc quanh trong vấn đề tình cảm, và có thể khúc quanh này sẽ thay đổi cả cuộc sống hiện tại của đương số.. Và một điều đáng lưu ý là sự việc không chỉ đơn thuần trên vấn đề tình cảm mà TPVT còn có ý nghĩa sâu đậm trên vấn đề xác thịt.

Đối với nam giới thì cách TPVT chỉ rõ bản tính đặt nặng vấn đề vật chất hơn tình cảm. Trong tình yêu, họ cho rằng trái tim và tâm hồn của người yêu chưa đủ, mà phải chiếm đoạt cho được cả thân xác. Nếu hội thêm những sao như Tham Lang, Phá Quân hãm địa, Không Kiếp, Quan Phù, Quan Phủ…thì đương số chắc chắn là bà con của họ Sở.:smile 50:

Tóm lại, trong cách TPVT, đặc biệt đối với phụ nữ thì nói lên sự chủ ý hay tự nguyện của đương số nặng hơn là vì hoàn cảnh, hay tai nạn như cách Cự Kỵ. Nhìn chung, mẫu người TPVT có thể bao gồm mọi thành phần, mọi giai cấp trong xã hội, từ một người đàn bà tầm thường cho đến một mệnh phụ phu nhân, vì đây chỉ là lãnh vực tình cảm hay khuynh hướng tình dục, là vấn đề phẩm hạnh của con người.

manutd
03-22-2007, 04:54 PM
Mẫu người "Khốc Hư"

Thiên Khốc và Thiên Hư chỉ là hai sao nhỏ trong những phụ tinh của khoa Tử Vi. Nhưng không phải vì thế mà chúng không có ý nghĩa gì đáng kể trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Thật vậy, con người khi lọt lòng mẹ đã cất tiếng khóc chào đời, khi lớn lên cũng qua tiếng cười mà biết được niềm hạnh phúc, cũng như tiếng khóc đễ biết được nổi thống khổ, thành bại ở đời. Khốc Hư là biểu tượng của 2 giọt nước mắt, vì vậy cho dù bất cứ lãnh vực nào của cuộc đời, khi nói đến sức khỏe, tình duyên, hôn nhân, tiền bạc, hay công danh sự nghiệp thì sự hiện diện của Khốc Hư cũng cho ta biết đương số khi nào đi vào những lãnh vực này, con đường với những nụ cười thoải mái hay con đường đầy nước mắt thương đau.

Chẳng hạn, chưa nói đến khốc hư tọa thủ tại Mệnh mà chỉ nói đến Khốc Hư tọa thủ tại cung Quan Lộc thì cũng hiểu được công việc làm của đương số phải vất vả, lận đận, ba lần bại mới được một lần nên. Cùng một ngành nghề nhưng người có Khốc Hư ở Quan Lộc phải lao tâm khổ lực hơn những người không có. Nếu Khốc Hư ở Tài Lộc thì đồng tiền kiếm được chắc chắn phải đổi bằng nhiều mồ hôi và nước mắt. Khốc Hư ở Phu Thê thì việc hôn nhân phải trải qua nhiều trở ngại, nếu ăn ở với nhau rồi thì nước mắt cũng nhiều hơn là nụ cười. Khốc Hư ở cung Tử Tức thì cha mẹ nuôi con rất cực khổ, đến khi con lớn lên lại phải gánh chịu nhiều phiền muộn vì con cái. Khốc Hư ở Nô Bộc thì từ bạn bè đến kẻ ăn người ở, và cả người tình của mình đều thường xuyên đem đến những phiền muộn cho mình trong việc giao tế, làm ăn và chuyện tình cảm.

Thiên Khốc, Thiên Hư đều thuộc hành Thủy, đắc địa ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu, và Mùi. Là biểu tượng của 2 giọt nước mắt, cho nên người có KH thủ Mệnh thường hay lo lắng, hay suy tư, và cũng rất hay bị đau ốm bệnh tật. Đây là mẫu người kín đáo và có phần cô đôc tựa như Vũ Khúc hay Đẩu Quân thủ Mệnh vậy. Lúc còn sống trong gia đình thì khắc với cha mẹ, anh em. Khi có gia đình thì khắc với vợ con, nhưng sự xung khắc không đến nổi trầm trọng. Người KH nếu chưa qua khỏi tiền vận thì đừng nên toan tính nhiều để rồi thất vọng. Muốn được xứng ý toại lòng phải từ trung vận trở về sau.

Tuy nhiên, nếu trên cương vị một người chủ hay một cấp chỉ huy thì mẫu người KH thủ Mệnh là một cấp thừa hành tốt vì họ là người có tinh thần trách nhiệm. Giao việc cho họ, chúng ta sẽ thấy họ lo lắng, suy nghĩ, soạn thảo kế hoạch, đắn đo cân nhắc rất thận trọng. Và khi đã làm thì làm đến nơi đến chốn.

Nhưng oái oăm thay, với tinh thần làm việc như thế mà ít khi người KH đạt được kết qủa một cách dễ dàng ngay từ phút đầu tiên. Vì thế khoa Tử Vi gọi mẫu người KH là “Tiền Trở Hậu Thành” Có nghĩa là thường bị trở ngại lúc đầu rồi sau đó mới thành công. Tuy nhiên đặc tính Tiên Trở Hậu Thành chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ trong tiền vận mà thôi, rồi sau đó sự tác hại sẽ nhẹ dần. Về đặc tính này, người KH có phần nào giống người Vô Chính Diệu: trong một hạn, dù tiểu hay đại hạn, và trong cả một đời người, chỉ được may mắn, hanh thông vào nửa đời sau mà thôi.

Có phải chăng vì vậy mà người KH rất có ý chí, luôn luôn có gắng đễ vươn lên trong mọi tình huống. Khi vượt qua khỏi cái tiền vận gian nan sẽ bước vào một hậu vận tốt đẹp hơn. Điểm nổi bật của người KH là khả năng thuyết phục người khác, có tài hùng biện và rất sắc bén trong lĩnh vực chính trị. Nếu KH đi chung với Cự Nhật hay Tang Hổ thì đây là những thầy giáo giỏi, những nhà ngoại giao hay chính khách có tài.

KH có hai vị trí tốt đẹp là hai cung Tí và Ngọ mà chúng ta quen gọi là Khốc Hư Tí Ngọ là cách tiền bần hậu phú. Nếu Mệnh an tại Tí/Ngọ có KH đồng cung (ờ Tí tốt hơn Ngọ) thì cuộc đời trước nghèo sau giàu. Sự thay đổi ở vào thời điểm nào, nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào toàn bộ lá số.

manutd
03-22-2007, 04:56 PM
Khoa Tử Vi Đẩu Số đã có từ hơn 4000 năm nay cho nên những ý niệm cũng như cách sắp xếp các sao đều đặt căn bản trên một xã hộ phong kiến. Mỗi sao là một biểu tượng. Có sao biểu tượng cho một vị Vua như Tử Vi, có sao biểu tượng cho quan văn như bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, cho quan võ như Sát Phá Liêm Tham, cho giới sĩ phu như Xương Khúc, Khôi Việt, Hổ Tấu… Đặc biệt hai sao Văn Xương, Văn Khúc được gọi là văn tinh, biểu tượng cho văn cách của học vấn và khoa bảng.:choler:

Văn Xương là bắc đẩu tinh, hành kim, còn có tên là Văn Quế, chủ về văn học và sự cao quý. Văn Khúc là nam đẩu tinh, hành thủy, có tên là Văn Hoa, chủ về nghệ thuật và sự sinh đẹp. Cả hai đều đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi. Khi đắc địa Xương khúc chủ về công danh qua con đường khoa bảng. Những người Mệnh có Xương Khúc tọa thủ đồng cung, xung chiếu hay hợp chiếu thì khoa Tử Vi gọi là cách "Văn Tinh Ám Củng".

Đây mà mẫu người thông minh và hiếu học, có năng khiếu đặc biệt về văn chương, thi phú, ca nhạc, kịch, điêu khắc, hội họa…nói chung là lĩnh vực văn học và nghệ thuật. Cho nên Xương Khúc đắc địa mà gặp thêm Đào Hồng Hỷ hoặc Long Phượng Tuế Tấu thì đây là số của những ca nghệ sĩ , tài tử điện ảnh nổi danh.

Người đắc cánh Văn Tinh Ám Củng (VTAC) thường theo học những khoa về văn chương, nhân văn ngoại ngữ, và nếu toàn bộ lá số tương đối tốt, họ là những người đạt đưọc bằng cấp cao và đặc biệt là có năng khiếu về sinh ngữ. Trường hợp Xương Khúc hãm địa thì đường học vấn của họ thường bị dang dở, nhưng vẫn có năng khiếu về nghệ thuật. Cho nên họ thường là những người khéo tay. Nếu sinh hoạt trong ngành thủ công như đan, may, thêu, dệt, thợ bạc, nghề tóc, nails.v.v… thì tuy không giàu có nhưng suốt đời cũng được cơm no áo ấm.

:smile 46: Đặc biệt đối với nữ mệnh, người có Xương Khúc dù đắc hay hãm thì cũng là người có nhan sắc, biết cách ăn mặt và khéo trang điểm. Chữ nhan sắc đây không chỉ nói đến vẻ đẹp trên khuôn mặt mà còn phải nói đến một thân hình đẹp, nhất là bộ ngực bởi vì Xương Khúc là biểu tượng của đôi nhủ hoa của người đàn bà.

Tuy nhiên khi nói về nhan sắc của một người đàn bà qua lá số, chúng ta phải phân biệt cái đẹp của Đào Hoa và cái đẹp của Xương Khúc khác nhau ở chổ nào. Đào Hoa là nét đẹp lộ hản ra bên ngoài, tất cả vẻ đẹp hấu như đều lộ rõ trên khuôn mặt như một đóa hoa đã nở, cái đẹp của một khuôn mặt mà khoa tướng mệnh gọi là Đào Hoa Diện, vẽ đẹp trên phương diện thẫm mỹ, nhưng chưa hẳn đã đẹp dưới cái nhìn của khoa tướng mệnh. Nét đẹp của Đào Hoa dễ lôi cuốn, khêu gợi, hấp dẫn, dễ, thu hút đối phương ngay từ phút ban đầu. Nhưng khi tiếp xúc lâu hơn, có thể gây cho đối phương một chút thất vọng nào đó chẳng hạn như ăn nói không có duyên, hời hợt bên ngoài, suy nghĩ nông cạn, cởi mở qúa trớn hay suồng sã lẳng lơ…

Ngược lại, nét đẹp của Xương Khúc không loè loẹt phô trương như Đào Hoa. Có thể nói cái nét duyên dáng nhiều hơn là đẹp. Một người có Xương Khúc thủ Mệnh thì nhan sắc có thể chỉ ở mức trung bình, nhưng khi tiếp xúc càng lâu thì càng bị thu hút bởi cái duyên ngầm, cái nét đa tình hấp dẫn, hoặc có thể do những yếu tố khác như sự thông minh, có kiến thức, và có trình độ học vấn, có chiều sâu tâm hồn, ăn nói khéo léo, tế nhị, hoặc có một tâm hồn lãng mạn…:gunsmilie[1]:

Tuy nhiên, nữ Mệnh có Xương Khúc đặc địa thì ngoài những đặc tính vừa nêu trên, có thể nói đây là mẫu người đàn bà có một bản năng tình dục rất mạnh, nhưng khác với sự buông thả, lẳng lơ của Đào Hoa ở chổ họ có thể tự kiềm chế được. Họ chỉ bộc lộ điều này với người yêu hay vợ chồng của họ mà thôi. Và trong cái khung cảnh của xã hội ngày nay, có lẽ đây không hẳn là một điều xấu. Có thể nói, đối với những người đàn ông có khuynh hướng cởi mở trong vấn đề tình cảm thì người đàn bà có Xương Khúc thủ mệnh đúng là một người tình lý tưởng.

Nhưng trường hợp nữ mênh có Xương Khúc hãm địa tọa thủ thì khuynh hướng buông thả trong vấn đề tình cảm và tình dục rất gần với Đào Hoa. Do đó, cuộc đời phải ba chìm bảy nổi và nhiều phiền muộn với chồng con. Nếu Xương Khúc hãm địa mà lại gặp thêm sát tinh, hung tinh hội chiếu thì đây là mẫu người đàn bà hình phu khắc tử, có nghĩa là số sát chồng, hại con.

Nữ Mệnh có Xương Khúc hãm địa và có Thiên Riêu đồng cung hay hợp chiếu là người mê tính dị đoan, thích những chuyện đồng bóng. Nếu bộ ba Xương, Khúc, Riêu gặp thêm Hóa Kỵ thì đây là người đàn bà có bề ngoài rất kiều mị, ai gặp cũng phải động lòng vì nét hấp dẫn và lôi cuốn. Nhưng bản tính rất dâm đãng, cuộc sống rất phóng túng, buông thả và tuổi thọ cũng chẳng được bao nhiêu.:smile 29:

Trường hợp Mệnh có Văn Khúc và Vũ Khúc đắc địa đồng thủ, đây là cách Nhị Khúc Vượng Cung, là người văn võ song toàn, công danh sự nghiệp rất bền vững. Đặc biệt đối với những người tuổi Giáp có sự ứng hợp nên càng tốt đẹp hơn những tuổi khác. Mẫu người Nhị Khúc Vượng Cung thường lúc nào cũng có 2 nghề, hoặc sinh hoạt trong hai lĩnh vự khác nhau và đối nghịch nhau nhưng bên nào cũng đều đạt mức thành công dễ dàng.

Trường hợp cung Mệnh an tại Tứ Mộ có Tham Lang và Hỏa Tinh tọa thủ đồng cung, thì đây là cách Tham Hỏa Tương Phùng, một dạng của cách Tham Vũ Đồng Hành mà chúng ta đã nói đến. Nếu cách này có thêm Văn Khúc đắc địa đồng cung hay hợp chiếu thì đương số là người có chức tước và địa vi cao trong xã hội.

Tóm lại mẫu người "Văn tinh ám củng" là người rất lý thú khi chúng ta tiếp xúc, kết giao bằng hữu, cộng tác làm ăn, và cũng là những người tình, người chồng hay người vợ lý tưởng. Nếu Xương Khúc không nằm trong một lá số qúa tệ thì họ là những người có phong cách, có trình độ, có chiều sâu tâm hồn. là những nhà văn, nhà thơ, những ca nhạc sĩ nổi danh…

Riêng đối với phái nữ thì đây là người có nhan sắc, duyên dáng và đa tình. Thật xứng với cái tên Văn Quế, Văn Hoa mà khoa Tử Vi thường gọi.

manutd
03-22-2007, 04:59 PM
Dịch Mã chỉ là một phụ tinh nhưng lại đóng những vai trò khá quan trọng trong một lá số. Có thể nói từ lá số của một bậc quân vương, một danh tướng, một thương gia, hay một người bình dân mà đến thời điểm nào đó trong cuộc đời tạo dựng được những công danh sự nghiệp cho mình thì hầu như lá số của họ không thể không có sự góp phần của Thiên Mã. Lý do thật đơn giản vì Thiên Mã là biểu tượng của tài năng. Bởi vậy, một lá số mà cung Mệnh và cung Thân có Thiên Mã tọa thủ gọi là cách Dịch Mã.:smile 66:

Người ta thường cho rằng Thiên Mã thuộc hành Hỏa và trong 12 cung của lá số Thiên Mã chỉ đóng ở 4 cung là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, và chỉ đắc địa ở hai cung Dần và Tỵ mà thôi. Trong khoa Tử Vi, Thiên Mã là biểu tượng của chân tay, hoặc phương tiện di chuyển như xe cộ, tàu bay, tàu hỏa…

Đặc tính chủ yếu của người Dịch Mã là tính năng động, tháo vác, đảm đang, quán xuyến, thích di chuyển, thích tranh cãi, hay thay cũ đổi mới…Vởi những đặc tính ấy cho nên Thiên Mã không chỉ ảnh hưởng ở hai cung Mệnh và Thân mà nó còn tác động mạnh mẽ vào các cung chính như Quan Lộc, Thiên Di…là những lãnh vực của công danh và sự nghiệp.

Tuy nhiên khi nói đến mẫu người Dịch Mã, chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa của chữ “dịch” là xê dịch, chuyển đổi, di chuyển, biến động… do đó cũng có người cho rằng hành của Thiên Mã thay đổi theo hành của cung mà Thiên Mã tọa thủ. Có nghĩa là, khi Mã tọa thủ ở Dần (hành Mộc) thì Mã ứng với người mạng Mộc và Hỏa. Ở cung Tỵ thì Mã ứng cho người mạng Hỏa và Thổ. Khi ở cung Thân thì Thiên Mã ứng với người mạng Kim và Thủy….Như vậy, khi hành của Thiên Mã ứng hợp với hành của Mệnh thì đương số là người có tài năng và có hoàn cảnh cơ hội để thi thố hết tài năng của mình. Còn ngược lại thì tuy có tài, có nghị lực nhưng cuộc đời lại không được những vận hội may mắn, không được đời biết đến khiến cho tài năng phải bị mai một như một kẻ sinh bất phùng thời.

Người có Mệnh an ở hai cung Dần Thân có Tử Phủ và Thiên Mã tọa thủ đồng cung gọi là cách Phù Dư Mã, là ngựa kéo xe cho Vua chỉ những người có tài năng, giữ những chức vụ cố vấn, phụ tá cho các cấp chỉ huy của một đơn vị quân đội, hay giám đốc của một cơ sở hành chánh, thương mại…Hoặc cũng có thể là những người không giữ một chức vụ gì chính thức nhưng ra đời thường được kề cận với những người có quyền thế trong xã hội.

Người có Thiên Mã thủ Mệnh và có Nhật Nguyệt đồng cung hay hợp chiếu là cách Thư Hùng Mã.:smile 34: Một đôi ngựa tốt, chỉ người van võ song toàn, nhưng cách này thường phát về văn nghiệp hơn là võ nghiệp. Đây là mẫu người có kiến thức sâu rộng, có trình độ học vấn, có năng khiếu về các ngành như ngoại giao, chính trị, văn học và nghệ thuật. Nếu đã đi vào những lãnh vực vừa nêu trên thì mẫu người Thư Hùng Mã này sẽ đạt được những công danh sự nghiệp một cách dễ dàng, và có người có thể thành công trên cả hai lĩnh vực cùng một lúc. Chẳng hạn họ có thể là một nghệ sĩ nổi danh lại vừa giàu có nhờ làm thương mại. Người Thư Hùng Mã có khả năng song thủ hỗ bác tương tự như người có Thân cư trong tam hợp Phúc, Di, và Phu Thê.

Người có Thiên Mã gặp Lộc Tồn đồng cung là cách Chiết Tiễn, có nghĩa là bẻ roi đánh ngựa, giục ngựa lên đường, chỉ người có tài. Khởi sự làm gì cũng được may mắn thuận lợi. Nếu Thiên Mã ở Mệnh có Lộc Tồn ở Thiên Di xung chiếu thì đây là cách Lộc Mã Giao Trì, ngựa ăn cỏ trên cách đồng xanh, là người được vận hội may mắn, được thừa hưởng những công lao thành qủa của người khác làm. Và theo ý nghĩa của Lộc Tồn là lộc trời cho, nên cả hai cách vừa nêu trên cũng chỉ những người trở nên giàu có nhờ trúng số, hoặc được thừa hưởng tài sản của ông bà, cha mẹ để lại. Người có Lộc Mã mưu sự chuyện gì hãy nên mạnh dạn vì thường được may mắn.:biggrin:

Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh là Chiến Mã, ngựa xuất trận. Cách này chỉ người có tài năng là thường là phát về võ nghiệp nếu gặp một lá số tốt. Đây là số của những quân nhân được thăng cấp rất nhanh chống. Tuy nhiên cách Chiến Mã này tiềm tàng những tai họa về chân tay như thương tật hay tàn khuyết nếu không có những cách hóa giải. Nếu đủ bộ Mã Hỏa Linh thì có thể tay chân bị tê bại từ nhỏ, hoặc bị bại liệt do các chứng bệnh khác đưa đến như bị tai biến mạch máu não, tiểu đường .v.v…

Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Thiên Khốc, Điếu Khách là cách Mã Khốc Khách, có nghĩa là ngựa đeo lục lạc vàng, chỉ những người có tài năng, có danh tiếng trong một lãnh vực nào đó. Hạn gặp Mã Khốc Khách thì vận hội may mắn đã đến, là thời điểm mà danh tiếng của mình được người đời biết đến. Đối với một lá số trung bình thì đương số cũng gặp được những cơ hội may mắn như được cấp trên giao phó công việc và được tín nhiệm hay thăng thưởng do khả năng và những thành qủa tốt đẹp của mình.

Người có Thiên Mã thủ Mệnh gặp Phi Liêm đồng cung hay xung chiếu gọi là cách Phi Mã,:biggrin: là ngựa có cánh bay như trong truyện thần thoại của Hy Lạp, ý nghĩa cũng tương tự như Mã Khốc Khách, chỉ người có tài năng và được nhiều may mắn, làm việc gì cũng thành chông dễ dàng và nhanh chóng. Hạn gặp Phi Mã là có sự thay đổi, hoặc di chuyển. Nếu khởi sự một điều gì trong hạn này thì nhớ có ngần ngại vi Phi Mã đáo hạn là thời cơ đã đến. Người có cách Phi Mã thường thích hợp với những công việc đi đây đi đó, cuộc đời là những chuyến hành trình không dứt.

Thiên Mã thủ Mệnh gặp Thiên Hình đồng cung là cách Phù Thi Mã, là ngựa kéo xe tang. Người có cách này suốt đời cực khổ, làm việc gì cũng khó khăn trắc trở, thành ít bại nhiều, và thường gặp toàn những chuyện xui xẻo, đau thương, buồn khổ, tang tóc truyền miên. Hạn gặp Mã Hình thì phải hết sức thận trọng trong mọi việc, vì những gì sẽ đến trong thời gian này chỉ là những chuyện buồn hoặc ngoài sự mong đợi của mình.

Thiên Mã thủ Mệnh gặp Đà La đồng cung gọi là Mã Đà hay Chiết Túc Mã. Có ý nghĩa là ngựa què, chỉ những người không được may mắn, hay gặp khó khăn trắc trở. Cuộc đời đời nhìn chung toàn là những lao đao lận đận. Cùng là một việc, người khác làm thì thuận lợi may mắn, mình làm thì khó khăn, trở ngại. Bởi vậy trên phương diện dùng người, thì giao một công việc cần có kết qủa sớm, hay một kế khoạch quan trọng cho người có số Mã Đà hay đang trong vận Mã Đà thì đây là một quyết định tư sai lầm đến mạo hiểm của người có trách nhiệm.

Thiên Mã thủ Mệnh gặp Tuyệt đồng cung, gọi là Mã Tuyệt hay Cùng Đồ Mã. Có nghĩa là ngựa chạy đến đường cùng, chỉ người làm việc thường thất bại, cuộc đời thường lâm vào cảnh bế tắc. Tương tự nếu Mã thủ Mệnh gặp tuần triệt, gọi là Tử Mã, nghĩa là ngựa chết, ngựa vô dụng, ý nghĩa và tai họa còn nặng hơn Cùng Đồ Mã.

Thiên Mã là một trong những lưu tinh (sao lưu) khi xem hạn. Có nghĩa l2 vị trí của Thiên Mã sẽ thay đổi theo mỗi năm và gọi là Lưu Thiên Mã. Đó cũng là ý nghĩa thứ ba của chữ “Dịch” khi gọi Thiên Mã là Dịch Mã.

Khi xem hạn, nếu thấy Thiên Mã và Lưu Thiên Mã đồng cung, xung chiếu hay hợp chiếu thì những điều sau đây sẽ xảy đến trong vận hạn: mua xe, đổi xe, đổi chổ ở, đổi việc làm, đi du lịch…Có thể chỉ xảy ra một sự việc mà thôi. Ví dụ: nếu đã đổi chổ ở thì sẽ không thay đổi việc làm, đi xa… Nhưng cũng rất có thể xảy ra hai sự việc cùng một lúc. Những gì thay đổi trong vận hạn ít nhiều tùy theo vị trí của Thiên Mã và Lưu Thiên Mã đồng cung hay xung chiếu. Mức độ tốt xấu của sự việc còn tùy thuộc vào những sao chi phối trong hạn đó. Có thể là bị mất việc (không tốt) phải tìm việc khác. Cũng có thể vì được thăng chức nên phải giữ công việc khác (tốt)

Tóm lại, khi nó đến Thiên Mã điều quan trọng mà chúng ta phải cân nhắc là hành của Thiên Mã và hành của bản Mệnh. Nếu cả hai cùng hành, hoặc hành của Mã sinh cho hành của bản Mệnh thì Mã này mới là Mã của mình. Ngược lại nếu không đồng hành thì Mã này chỉ là cái bóng mà thôi.:smile 65:

Trên thực tế chúng ta thấy hai lá số đều có Thiên Mã thủ Mệnh nhưng khả năng và sự may mắn của hai người hoàn toàn khác nhau rất nhiều. Người có Thiên Mã không hợp với bản Mệnh thì cũng là người có tài năng nhưng tánh tình rụt rè, nhút nhác, thiếu lòng tin, và không có ý chí phấn đấu để nắm lấy cơ hội, cho nên cuối cùng dễ trở thành bất đắc chí.

Với một lá số trung bình trở lên, người Dịch Mã là người đa tài. họ có nhiều năng khiếu nổi bật và có thể thành công trên nhiều lãnh vựa khác nhau. Họ là những người năng động, thích sự đổi thay và những chuyến hành trình như những bông hoa tô thắm cho cuộc đời của họ. Về khí cạnh này, cá tính của người Dịch Mã có phần nào giống như mẫu người Thân Cư Thiên Di mà chúng ta đã đề cập trước đây.

manutd
03-22-2007, 05:00 PM
Hoa Cái chỉ là một sao nhỏ cho nên có nhiều người khi giải đoán lá số thường ít khi để ý đến sao này. Thật ra, tuy chỉ la phụ tinh nhỏ, Hoa Cái cũng có thể tạo nên bản chất đặc biệt của mẫu người mà chúng ta vẫn thường gặp trong cuộc sống hằng ngày. Biết đâu, có thể người đó là chính mình, chồng mình, vợ mình, người yêu của mình, bạn bè của mình hay một người nào đó mà mình quen biết.

Hoa Cái là biểu tượng của cái lọng, thuộc hành Kim và không thấy sách vở đề cập dến những vị trí đắc hãm của phụ tinh này.:smile 65: Hoa Cái còn được gọi với tên rất đẹp là Đài Cát Tinh. Chỉ hai chữ Đài Cát cũng đã nói lên bản chất của những người Hoa Cái thủ Mệnh hoặc Hoa Cái cư Thiên Di và có thể gọi chung là mẫu người Đài Cát.

Hoa Cái chủ về sắc đẹp, sự chưng diện, sự sang trọng quý phái. Cho nên, về hình dáng, người có Hoa Cái thủ Mệnh, dù là đàn ông hay đàn bà đều có nét mặt thanh tú, vóc dáng thanh nhã, nói năng và cư sử nhẹ nhàng, lịch sự. Đây là mẫu người rất chú trọng bề ngoài, từ mái tóc cho đến cách ăn mặc. Họ không ngại bỏ công bỏ của ra để sửa soạn cho mái tóc, chọn lực một cái cà vạt cho hợp với màu áo, một hiệu son phấn nào đó cho phù hợp với màu da.v.v..Sự chưng diện đối với họ là một nghệ thuật, cũng là một nhu cầu cần thiết như việc ăn uống vậy. Họ như những loại công thích múa đễ khoe sắc cho người đời thưởng thức những gì trời ưu đãi họ.

Bởi vậy trong lĩnh vực sinh hoạt, người có Hoa Cái thủ Mệnh nếu gặp thêm những sao Xương Khúc, Thái Âm, Đào Hồng Hỷ…là những người của ngành quảng cáo hay trình diễn thời trang, diễn viên kịch nghệ, điện ảnh, cải lương …Nếu là những người cầm bút, cầm cọ, cầm đàn thì nét vẽ nhẹ nhàng, dòng nhạc trữ tình, văn phong chải chuốt và đều mang nặng khuynh hướng lãng mạn.:poster_brizdidit[1]

Dưới thời đại phong kiến của Trung Hoa, cái quan niệm vương quyền được biểu tượng bằng những hình ảnh như Long chầu, Hổ phục, phượng múa lọng che, và Hoa Cái là một trong 4 biểu tượng đó, gọi tắt là Tứ Linh (Long Trì, Phượng Cát, Hoa Cái, Bạch Hổ) chỉ sự uy quyền, hiễn đạt hay công danh sự nghiệp.

Trường hợp nếu Hoa Cái không thủ Mệnh nhưng phía trước của Mệnh, Thân, Thiên Di, Quan Lộc có Hoa Cái, phía sau có Thiên Mã tọa thủ thì đây là cách Tiền Cái Hậu Mã, có nghĩa là lọng đi trước, ngựa theo sau, là cảnh tiền hô hậu ủng mà chúng ta thường gọi là cảnh vinh quy bái tổ, chỉ sự hiễn đạt về công danh và sự nghiệp.

Nếu Hoa Cái không thủ Mệnh mà tọa thủ ở cung Thiên Di, bản tính cũng giống như Hoa Cái thủ Mệnh nhưng có một điểm đặc biệt là khi họ ra khỏi nhà là được người trên kẻ dưới thương mến. Có thể vì tính tình của họ vui vẽ, thân thiện, cởi mở. Cũng có thể vì cách ăn mặc, lời lẽ, cử chỉ của họ nhẹ nhàng, lịch thiệp, họ có cái duyên ngầm nào đó nên dễ có cảm tình với mọi người. Với những ưu điểm đó, người có Hoa Cái cư Thiên Di rất thích hợp với những công việc như chào hàng, tiếp tân, đại diện thưong mại, ngoại giao…

Tuy nhiên những đặc tính của Hoa Cái có thể thay đổi tùy theo ảnh hưởng của một số sao khác. Chẳng hạn, người có Hoa Cái thủ Mệnh sẳn có khuynh hướng lãng mạn, nếu gặp thêm Đào Hoa, Mộc Dục, Riêu…thì sự lãng mạn sẽ đi qúa trớn đưa đến sự buông thả cả hai mặt tình cảm và tình dục.:biggrin: Vì Hoa Cái là biểu tượng của sự sang trọng, quý phái, đài cát…Cho nên những người có khuynh hướng sa đọa này cũng thuộc loại giai cấp thượng lưu, của những kẻ có tiền, có quyền lực.

Riêng với phái Nam có Hoa Cái thủ Mệnh cũng thích sửa soạn, chưng diện, nước bông, nước hoa…:smile 34: Hoa Cái ở đây cũng nói lên phần nào sự biến thái về tâm sinh lý của đương số. Mức độ nặng hay nhẹ thì còn tùy thuộc vào toàn bộ lá số.

manutd
03-22-2007, 05:04 PM
Trong 118 vì sao của khoa Tử Vi có hai sao được xem là đặc biệt nhất. Đó là sao Tuần và Triệt. Tuần Triệt (TT) an theo năm sinh và hàng can của năm sinh, và đặc biệt là vị trí của Tuần Triệt nằm giữa ranh giới của hai cung chứ không tọa thủ trong một cung nào như các sao khác. Điểm đặc biệt thứ hai là vị trí đắc hãm và hành của chúng. Đây cũng là một vấn đề tranh cãi rất nhiều. Có người cho rằng Tuần thuộc hành hỏa và Triệt hành kim.:29[1]:

Cũng có người cho rằng Tuần và Triệt đều hành thủy. Một số khác lại cho rằng Tuần và Triệt không có hành cố định, đóng ở cung nào thì mang hành của cung đó. Như vậy, lập luận này sẽ đưa đến kết qủa là Tuần Triệt có lúc chỉ có một hành trong trường hợp chúng đóng giữa hai cung Thân và Dậu đều thuộc hành kim. Nhưng giả sử Tuần Triệt đóng giữa hai cung Ngọ và Mùi thì thì Tuần Triệt phải mang hai hành Hỏa của cung Ngọ và Thổ của cung Mùi. Xét cho cùng, điều này xem ra không hợp lý lắm.

Khi nó về ngũ hành, ví dụ như nói về hành của một hướng, như Đông Nam thì chúng ta nó là Mộc đới Hỏa, hoặc hành của Phượng Cát là Mộc đới Thổ chứ không thấy ai nói vừa mang hành Mộc và mang hành Thổ. Chữ “đới” ở đây có nghĩa là “nghiêng về” hay “thiên về” Trong cuốn tử vi Ảo Bí của Việt Viêm Tử, tác giả cho rằng Triệt có hành Kim đới Thủy và Tuần có hành Hỏa đới Mộc.

Về những vị trí đắc hãm của Tuần Triệt thì cũng có người cho rằng TT chỉ đắc địa ở Tỵ Ngọ và Thân Dậu, còn những vị trí khác đều hãm địa. Nhưng điều này cũng không hợp lý vì chúng ta biết Triệt không đóng ở Tỵ Ngọ. Và cũng theo quan điểm này thì nếu TT đắc địa sẽ không tác hại, còn nếu hãm địa thì sẽ tác hại. Đây là điều không hợp lý thứ hai. Sau khi nói đến ý nghĩa của hai sao TT dưới đây, chúng ta sẽ thấy bản chất của TT là như thế nào.

Tóm lại, người viết đồng ý với quan điểm của Thái Thứ Lang, tác giả của cuốn Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, “hai sao Tuần Triệt không có những vị trí đắc địa hay hãm địa và cũng không thuộc một hành nào trong ngũ hành.”

Đầu tiên chúng ta thấy rằng, chỉ với cái tên của hai sao này cũng đã nói lên rất nhiều ý nghĩa. Tuần có nghĩa là tuần tiểu, tuần phòng, canh giữ, vây hãm. Triệt là chặc đứt, phá tan, tiêu tán, làm mất hết. Từ đó, hai sao TT vừa đóng vai trò vừa chính vừa tà, vừa thiện vừa ác đối với các sao trong cung mà chúng trấn đóng.:smile 50:

Khi nói đến ảnh hưởng của TT, có hai quan điểm khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng TT làm đảo ngược ý nghĩa tốt xấu của tất cả những sao trong hai cung mà chúng đóng. Ví dụ: một sao đắc địa gặp TT thì những đặc tính tốt đẹp của sao này bị mất đi và trở nên hãm. Ngược lại nếu sao hãm địa gặp TT thì lại trở nên tốt đẹp giống như đắc địa. Như vậy thì uy lực của TT qúa lớn vì TT không phải chỉ ảnh hưởng lên 1 sao mà chúng ảnh hưởng lên tất cả các sao mà chúng trấn đóng. Quan điểm đảo ngược này chúng ta thấy trong một vài trường hợp đặc biệt. Ví dụ: Liêm Tham ở Tỵ, Hợi rất xấu, nhưng nếu gặp TT thì trở nên tốt đẹp, và được gọi là phản vi kỳ cách, đổi xấu thành tốt.

Quan điểm thú hai thì cho rằng TT không hề đảo ngược ý nghĩa của các sao trong vòng ảnh hưởng của chúng, mà chỉ giảm bớt những đặc tính tốt xấu của các sao. Theo thiển ý của người viết, quan điểm này xem ra có phần hợp lý hơn. Tì lệ chiết giảm của Triệt tuy rất cao nhưng cũng chưa đếm mức độ 100% đễ có thể thay đổi hẳn bản chất của một sao nào đó. Hơn nữa, cũng có trường hợp những sao đắc địa mà gặp TT thì lại càng tốt hơn chứ không hề bị đảo ngược, như trường hợp Cư Cơ ở hai cung Tí Ngọ (Thạch Trung Ẩn Ngọc) là ngọc còn ẩn trong đá, nếu gặp TT phá vở cho ngọc lộ ra bên ngoại thì càng đúng cách.

:biggrin: Khi nói về mẫu người Mệnh Tuần Thân Triệt hay Mệnh Triệt Thân Tuần, Thái Thứ Lang đã gián tiếp xác định mức độ ảnh hưởng của TT nói chung. Theo Thai Thứ Lang, người Mệnh Tuần Thân Triệt cần có Cơ Nguyệt Đồng Lương dắc địa thử mệnh thì cuộc đời về già mới được xứng ý toại lòng. Như vậy chúng ta có thể ghi nhận một điều, đối với Tuần, thà có chính tinh đắc địa để chấp nhận mức độ tốt bị giảm bớt còn hơn là gặp chính tinh hãm địa rồi trông chờ Tuần làm cho tốt đẹp.

Đối với người Mệnh Triệt Thân Tuần thì Thái Thứ Lang cho rằng, Mệnh cần phải Vô Chính Diệu thì lúc về già mới được xứng ý toại lòng. Như vậy chúng ta thấy rằng, ảnh hưởng của của Tirệt mạnh mẽ hơn Tuần nhiều, cho nên cung Mệnh thà không có chính tinh vẫn còn tốt hơn có chính tinh, dù đắc hay hãm địa.

Trên thực tế chúng ta thấy hai sao TT không có uy lực để thay trắng đổi đen một cách hoàn toàn, chẳng hạn, một người có Thái Dương đắc địa thủ Mệnh gặp TT thì bản tính của người này không thể trở thành giống bản tính của người có Địa Kiếp thủ Mệnh được. Nói một cách khác, TT chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ trên lãnh vực công danh, sự nghiệp của đương số chứ không triệt tiêu được bản chất lương thiện của một Thái Dương vốn đã đắc địa.

Ngoài ra, ảnh hưởng của TT ở mức độ nào còn tùy thuộc vào ý nghĩa của mỗi sao, háy ý nghĩa của một cách do nhiều sao hợp lại, chứ không hoàn toàn giống nhau. Chẳng hạn như sao Thiên Hình, Thiên Mã, Thiên Tướng, Tướng Quân…dù đắc hay hãm cũng tối kỵ TT hơn các sao khác bởi vì kiếm gãy, ngựa què, tướng mất đầu…thì tất nhiên là vô dụng. Tương tự, Thất Sát ở Dần thân là người anh hùng một mình một kiếm, nhất hô bá ứng, nhưng gặp Triệt lại trở thành anh hùng gãy kiếm. Tuy vậy, cũng có những trường hợp đặc biệt, ví dụ như hai sao Cự Cơ ở Tí Ngọ như chúng ta đã nói ở trên. Vi ý nghĩa của cách Thạch Trung Ẩn Ngọc cho nên TT lại rất cần thiết.

Chúng ta vừa nói đến ảnh hưởng của TT trên các sao, còn ảnh hưởng của TT trên các cung thì như thế nào? Có phải sự ảnh hưởng của TT trên hai cung mà chúng trấn đóng đều như nhau? Điều này chúng ta cũng có hai quan điểm:

1. Ảnh hưởng của TT trên mỗi cung nặng hay nhẹ còn tùy thuộc đương số là Dương Nam, Âm Nữ hay là Âm Nam, Dương Nữ. Nói một cách khác là theo chiều của vòng đại hạn của mỗi lá số. Ví du: Lá số có vòng đại hạn đi theo chiều thuận, có nghĩa là từ cung Mệnh rồi qua Phụ Mẫu, Phúc Đức v.v… Và nếu Triệt đóng giữa cung Mệnh và cung Huynh Đệ, như vậy chúng ta nói là Triệt chận đầu cung Huynh Đệ và vuốt đuôi cung Mệnh. Khi nói Triệt chận đầu một cung nào thì ảnh hưởng của Triệt ở cung đó sẽ mạnh hơn đối với cung mà Triệt vuốt đuôi, và tỉ lệ ảnh hưởng được xác định cũng theo nguyên tắc Âm Dương:

Dương hành tam thất (3/7)
Âm quy nhị bát (2/8)

Như vậy, nếu theo chiều thuận của vòng đại hạn thì cung nào bị TT chận đầu sẽ chịu ảnh hưởng 7 phần, nếu đi ngược sẽ chịu ảnh hưởng 8 phần và tương tự các cung xung chiếu hay tam hợp chiếu với các cung có TT đóng cũng chịu ảnh hưởng nặng nhẹ theo nguyên tắc này.

2. Ảnh hưởng của TT phân phối đều trên hai cung mà chúng trấn đóng chứ khon6ng có cung nào nặng hơn cung nào như ý nghĩa của quan điểm thú nhất. Người viết đồng ý với quan điểm thứ hai vì chúng ta thấy rằng ảnh hưởng của TT chỉ khác nhau trên các cung có chính tinh mà thôi. Thường những cung có chính tinh không nên gặp TT. Trái lại, những cung nào VCD thì lại rất cần có TT . Trong trương hợp này TT đóng vai trò của một người giám hộ để bảo vệ cho một gia đình không có gia chủ. Từ đó, chúng ta rút ra một hệ luận là ảnh hưởng của TT đối với chính tinh co tầm quan trọng hơn đối với các phụ tinh.

Ngoài ra, TT đôi lúc còn đóng hai vai trò khác nhau, một thiện, một ác. Chẳng hạn nếu ba cung tam hợp, gọi là tam phương, bị nhiều sát tinh thủ hay hợp chiếu mà được Triệt đóng thì mọi sự hung hiễm cũng giảm đi rất nhiều. Ngược lại, bốn cung Mệnh, tai Quan, Di, goi là Tứ Chính, dù có đắc cách tới đâu nhưng đã gặp Tuần thì cũng xem như bị phá hết: “Tam phương vô sát hạnh nhất Triệt nhì khả bằng. Tứ chính giao phù kỵ, nhất không chi trực phá.”

Và trên đây chúng ta mới nói đến vùng ảnh hưởng của TT, còn thời gian ảnh hưởng của hai sao này thì như thế nào? Thường có người cho rằng Triệt ảnh hưởng 30 năm đầu của cuộc đời, Tuần ảnh hưởng 30 năm sau của cuộc đời. Theo thiển ý của cá nhân, Triệt ảnh hưởng mạnh mẽ nhất trong khoảng tiền vận, rồi từ yếu dần ở trung vận và hậu vận. Ảnh hưởng của Tuần thì không có khoảng thời gian nào mạnh hay yếu, cứ ở mức trung bình, đều đặn và bền bỉ từ tiền vận cho đến hậu vận.

Trường hợp cung Mệnh có Triệt thì ảnh hưởng của Triệt sẽ như thế nào? Cung Mệnh cũng như các cung khác thông thường có đủ sao xấu và tốt xen lẫn nhau. Có sao đắc địa, có sao hãm địa. Đối với những sao tốt đắc địa thủ Mệnh, đương số sẽ gặp sự bất lợi vì Triệt sẽ làm giảm bớt những ý nghĩa tốt đẹp của các sao này. Sự bất lợi sẽ xảy ra trong thời ky tiền vận của đương số, và sau đó, khi uy lực của Triệt yếu dần thì sự tốt đẹp của các sao tốt sẽ được phục hồi ở một mức độ nào đó mà thôi chứ không thể nào được 100% như trương hợp không bị Triệt.:smile 33:

Ngược lại, trong khoảng tiền vận thì đương số lại được một lợi điểm là, giả sử, nếu có những hung tinh hay sát tinh thủ mệnh, thì nhơ ảnh hưởng của Triệt mà đương số tránh được phần nào những điều không tốt do các hung sát tinh gây nên. Nhưng từ trung vận trở lên, khi Triệt yếu dần, không còn đủ uy lực để trói buộc hung sát tinh nữa, và sự tốt xấu lúc đó chỉ còn tùy thuộc vào công lực của các sao tốt và sao xấu, bên nào mạnh thì chế ngự được bên đó.

Nói chung, Triệt đóng tại Mệnh thì tiền vận (từ lúc sinh ra cho đến 32 tuổi đối với người Thủy Nhị Cục, 33 với Mộc Tam Cục, 34 với Kim tứ Cục, …) Thường bị lao đao lận đận và dễ gặp hoàn cảnh mồ côi sớm (trường hợp Triệt đóng giữa hai cung Mệnh và Phụ Mẫu )

Trường hợp Triệt đóng tại cung Thân thì ảnh hưởng của Triệt không có gì đáng kể vì uy lực của Triệt mất dần trong khoảng trung vận và hậu vận, có thể xem Triệt như một áng mây, gây rắc rối trở ngại cho đương dương số những lúc khởi sự một việc gì mới mà thôi.

Trường hợp cung Mệnh có Tuần đóng thì tất cả những gì tốt đẹp do các sao tốt mang đến, cũng như những hung họa do hung sát tinh gây ra cho đương số đều giảm xuống ở mức trung bình, và muốn biết cuộc đời của đương số thế nào trong khoảng tiền vận thì chúng ta phải đạt cả tốt và xấu lên bàn cân. Thường người ta cho rằng Mệnh ứng với tiên vận, nhưng thật ra Mệnh vẫn là cái gốc của đời người, cho nên sau tiền vận, Mệnh vẫn còn ảnh hưởng ở mức độ nhẹ. Như vậy, khi Tuần đóng ở Mệnh, thì sau khoảng thời gian của tiền vận những mức độ tốt hay xấu của cung Mệnh do Tuần chi phối vẫn còn âm hưởng.

Nếu Tuần đóng tại cung Thân thì vấn đề tốt hay xấu cũng tương tự như trên. Nếu có khắc thì trong tường hợp này là Tuần chỉ chi phối trong khoảng thời gian trung vận và hậu vận mà thôi.

Nếu cả Tuần và Triệt cùng đóng ở cung Mệnh hay cung Thân thì thế nào? Điều này cũng có hai ý kiến khác nhau.:smile 11:

1. Một số cho rằng khi TT gặp nhau thì sẽ tự hoá giải cho nhau và hai cung đó xem như không có mặt của TT nữa. Điều này xét ra không hợp lý lắm bởi vì khoa TỬ Vì không có những sao nào cùng nhóm lại triệt tiêu nhau. Những sao cùng nhóm luôn hổ trợ cho nhau, tốt thì tốt thêm, xấu thì xấu hơn. Chẳng hạnh như Nhật Nguyệt gặp Xương Khúc, hay hủy hại nặng nề khi Không Kiếp gặp thêm Hỏa Linh. Chỉ có những sao khác nhóm mới khắc chế nhau như Thiên Hình khắc chế và làm giảm đi sự lẳng lơ của Đào Hoa.

2. Mệnh có cả TT như một nhà tù có hai ông cai ngục. Ông chính là Triệt, ông phụ là Tuần. Hết khoản thời gian của tiền vận khi Triệt về hưu thì cũng còn ông Tuần cai quan, chứ không hề nhà giam được bỏ ngõ.

Sau hết, trường hợp chúng ta muốn nói ở đây là những lá số có Tuần đóng ở Mệnh và Triệt đóng ở Thân mà chúng ta thường nghe là mẫu người Mệnh Tuần Thân Triệt, hay trường hợp Mệnh Triệt Thân Tuần, thì cuộc dời của hai mẫu người này như thế nào?

Để có câu trả lời, cách tốt nhất là chúng ta để lên bàn cân từng phần một rồi cộng trừ các số thành với nhau để có đáp số cuố cùng. Mệnh có Tuần đóng, nếu Mệnh tốt thì mức độ chiết giảm do Tuần gây ra tương đối nhẹ nhàng, còn nếu cung Mệnh xấu, thì sự cứu vãn của Tuần cũng không được bao nhiêu. Những hung sát tinh cũng như những đúa con phá gia chi tử trong một gia đình bất hạnh. Họa chăng chỉ có người cha là triệt còn đủ uy lực để chế ngự, chứ còn mẹ Tuần thì không đủ sức.

Qua trung vận và hậu vận thì ứng vào cung Thân. Nếu cung Thân tốt mà có Triệt đóng thì cũng không gây ảnh hưởng gì đắng kể, co chăng chỉ là những trở ngại gây rắc rối lúc ban đầu mà thôi. Trường hợp nếu cung Thân xấu thì Triệt ở đây cũng như người nộm dùng để dọa chim chứ không có năng lực gì đáng kể. Như vậy, nếu người Mệnh Tuần Thân Triệt mà có cung Thân tốt đẹp thì về già cuộc đời cũng đạt được nhiều mãn nguyện.

Trường hợp đối với những người Mệnh Triệt Thân Tuần thì cũng tương tự. Mức độ tốt xấu của cung Mệnh sẽ bị chiết giảm nhiều hơn, và sự ảnh hưởng này chỉ xảy ra trong khoảng tiền vận mà thôi. Rồi từ đó cho đến hết cuộc đời, ảnh hưởng của sự tốt xấu trên cung Thân chỉ ở mức độ ôn hoà. Như vậy đối với mẫu người Mệnh Triệt Thân Tuần thì thời gian thử thách nhất là thời thanh xuân, sau đó, nếu cung Thân tốt đẹp thì cuộc đời tương đối cũng được bình ổn.:smile 34:

Tuy nhiên, người Mệnh Tuần Thân Triệt, hay Mệnh Triệt Thân Tuần cũng có những trường hợp đặc biệt như, nếu cung Mệnh hay cung Thân VCD mà có Tuần hay Triệt đóng thì tốt hơn là không có TT. Hoặc là cung Mệnh vừa có cả Tuần lẫn Triệt vừa thêm hai sao Thiên Không và Địa Không, tùy theo có bao nhiêu sao KHÔNG, chúng ta gọi là cách Mệnh VCD đắc nhị không, tam không hay tứ không, đều là những cách hoạch phát. Hoặc là nếu TT đóng tại Mệnh hay Thân ma hai cung này VCD lại được Nhật Nguyệt hợp chiếu thì cũng rất tốt đẹp.

Tóm lại, TT là hai sao đặc biệt nhất trong 118 sao của khoa Tử Vi, và cũng đã trở thành đề tài tranh luận rất nhiều. Nhưng tốt nhất là tùy theo kinh nghiệm thực tiễn mà mỗi người tự chọn cho mình một quan điểm riêng. Dù sao, khi nói đến TT, chúng ta đều thấy ảnh hưởng tốt xấu của hai sao này trên một lá số nào đó không phải là điều đơn giản. Giống như một người bị mệnh phải uống thuốc, như người bị chứng đau nhức phải uống thuốc giảm đau. Nhưgn khi uống thuốc giảm đau nhiếu thì lại sinh ra chứng đau bao tử, uống thuốc chửa bệnh đau bao tử nhiều thì lại sinh ra chứng bất lực.. Ảnh hưởng của TT cũng tương tự như vậy, giúp ta bên này thì phá bên kia, và có lẽ cái thâm sâu của khoa Tử Vi là ở chổ đó.

manutd
03-22-2007, 05:08 PM
Khi nguyên cứu về khoa Tử Vi, chúng ta nên lưu ý một điều là không phải chỉ những chính tinh như Tử Vi, Thiên Phủ, Liêm trinh, Thất Sát…mới là những sao làm nên chuyện lớn. Nhưng đôi lúc, chỉ là những phụ tinh, nếu ở đúng cách, đúng chỗ thì vẫn giúp đương số làm nên sự nghiệp một cách dễ dàng. Đó chính là trường hợp của sao Kình Dương mà khoa Tử Vi thường gọi là cách Kình Dương Độc Thủ, hay còn gọi là mẫu người Bạch Thủ Thành Gia, có nghĩa là tay trắng làm nên sự nghiệp.:boss:

Kình Dương thuộc nhóm bắc đẩu tinh, hành Kim, có tên là Dương Nhận, chủ về sát phạt và hình khắc. Kinh Dương đắc địa ở tứ mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) Người có Kình Dương đắc địa tọa thủ tại Mệnh thì thân hình cao và gầy, mặt xương, tánh qủa quyết, can đảm, dũng mãnh, thích phiêu lưu mạo hiểm, làm việc gì cũng muốn mau chóng. Là người túc trí đa mưu, đa tài, đa năng và có lẻ vì vậy mà cái “tôi” rất lớn, dù cho có giữ sự khiêm cung nhưng cũng khó có thể che giấu được nét kiêu căng tự phụ vốn sẳn là bản chất.

Bởi những đặc tính vừa nêu trên, người có Kình Dương thủ Mệnh rất thích hợp với võ nghiệp hoặc các ngành kinh doanh về kỹ nghệ. Nam phái, Mệnh có Kình Dương đi kèm với bộ sao Sát Phá Liêm Tham thì dễ làm nên sự nghiệp trên chiến trường. Nhưng nếu Kình gặp thêm Linh Hỏa và Kiếp Sát thì đây cũng là cách sinh nghề tử nghiệp, khó tránh được chuyện phơi thây ngoài chiến địa. Như chúng ta có nói, Tham Vũ đồng hành ở tứ mộ là mẫu người của thương trường, nhưng nếu gặp thêm Kình Dương thì đấy lại là người nghiêng quân đội,là những quân nhân rất gan dạ và cũng là cấp chỉ huy có khả năng trong lãnh vực thăm mưu, chiến lược.

Nếu Kình Dương hãm địa thủ Mệnh mà không có những sao tốt đi kèm thì cho dù nam hay nữ, tánh tình cũng rất hung bạo, liều lĩnh, nông nổi, bướng bỉnh, ương ngạnh, xảo trá. Cuộc đời chỉ gặp toàn là những tai họa, bệnh tật, và dễ dính dáng đến chuyện tù tội.

:smile 38: Kình Dương hãm ở Mệnh cũng là người khéo tay, có năng khiếu về nghành thủ công. Nếu Kình hãm đi cùng với những sao biểu tượng cho nghệ thuật như Nhật Nguyệt, Xương Khúc… đây là những nghệ nhân trong các lãnh vực như điêu khắc, hội họa, trang trí nhà cửa, làm nữ trang…

Nhưng dù đắc hay hãm địa, người có Kình Dương thủ Mệnh, nếu không có những sao chế giải, là người chủ trương sống ở đời “vô độc bất trượng phu” Đối với họ, cứu cách mới quan trọng, không cần phải câu nệ đến phương tiện.

Ngoài 4 vị trí tốt đệp của Kình Dương là tứ mộ, Kình Dương cũng có nhiều ý nghĩa đáng kễ tại một vài vị trí khác như Tí Ngọ và Mão Dậu. Tại 4 cung này, nếu không có những sao tốt chế giải thì Kình Dương chủ sự bệnh tật, tai họa và chết yểu.:smile 13:

Tuy nhiên, đặc biệt tại cung Ngọ, Kình Dương đóng một vai trò hai mặt tốt và xấu. Nếu Mệnh an tại Ngọ có Kình Dương tọa thủ là cách Mã Đầu Đới Kiếm, kiếm treo đầu ngựa, là kẻ anh hùng lập công trên lưng và chết cũng trên lưng ngựa. Kình tại Ngọ, gặp được những sao tốt đẹp tọa thủ đồng cung như Thiên Đồng, Thái Âm, hay Khoa Quyền Lộc…thì đây là cách phát về võ nghiệp, là số của những bật danh tướng, công trạng hiễn hách, thường được bổ nhậm trấn giữ biên cương. Nhưng với cách này, trong cái tốt luôn ẩn tàng những điều bất hạnh. Lưỡi kiếm Kình Dương giúp anh hùng tạo nên sự nghiệp, và cũng chính lưỡi kiếm oan nghiệt này đã giữ đúng định luật khắc khe của tạo hóa:

“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu…"

Đó chính là số của Quan Vân Trường của thời Tam Quốc phân tranh. Cách Mã Dầu Đới Kiếm đã đưa đến cái chết bi thảm của một đấng anh hùng như vậy

:smile 2: Ngoài ra hai cung Dần thân cũng không phải là vị trí tốt lành cho Kình Dương. Tại hai cung này. Kình Dương chỉ sự bệnh tật tai họa, thất bại…Nói chung, Mệnh ở Dần Thân có Kình Dương thì cuộc đời có thể diễn ta trong bốn chữ “tay làm hàm nhai” tệ hại nhất đối với người tuổi Giáp và Mậu, dù cho có may mắn được thừa hưởng di sản của ông bà, cha mẹ thì cũng phá tán hết tổ nghiệp mà thôi.

Tuy nhiên, nếu Mệnh ở Dần Thân có Kình, được những sao tốt khác cùng tọa thủ thì cuộc đời sẽ được cơm no áo ấm nhờ bẩm sinh có năng khiếu về nghề thủ công. Nếu có thêm những sao chế giải bớt sự phá hoại của Kình thì khi vào trung hay hậu vận có thể sẽ trở mình thành đại phú bởi một ngành thủ công nào đó như dệt, kim hoàn, điêu khắc…

Như vậy chúng ta thấy rằng, trong 12 cung của thiên bàn, chỉ có 4 cung tứ mộ là đất dụng võ của kình dương mà thôi. Đối với nam phái, Mệnh an tại tứ mộ có Kình Dương cùng với những sao tốt đẹp là số phát về võ nghiệp. Nhưng nếu ở tứ mộ, Kình gặp Tử Phủ thì lại phát về kinh thương. Với những cách vừa nêu trên mà gặp những người có các tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì có sự ứng hợp, nên mức độ tốt đẹp được tăng lên gấp bội, và khoa Tử Vi gọi là cách kình Dương Nhập Miếu.:smile 52:

Đối với phái Nữ, Mệnh tại tứ mộ có Kình Dương là người đàn bà đảm đang, hành xử ngoài đời không thua gì đấng mày râu, là người dám nói, dám làm. Có thể nói một cách không qúa đáng, đây là mẫu người đàn bà làm quan cho chồng. Điều này không phải chỉ ảnh hưởng của một Kình Dương đắc địa mà chúng ta phải nhớ rằng, đàn bà có Mệnh an ở tứ mộ là người rất thông minh, sắc sảo, ít nhất là trong một lãnh vực nào đó.

Bởi vậy, có người cho rằng, nữ phái, Mệnh ở tứ mộ có Kình, cùng với những sao tốt đẹp là người đàn bà “vượng phu ích tử” chỉ nên hiểu theo ý nghĩa của một người đàn bà đảm đang, có khả năng từ hai bàn tay trắng tự mình, hay giúp chồng tạo dựng sự nghiệp. Còn trên những khía cạnh khác vấn đề tình cảm, sự tâm đầu ý hợp giữa hai vợ chồng… chắc chắn không nhiều thì ít cũng khó tránh khỏi sự xung khắc trong gia đạo. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn trong trường hợp Kình Dương tọa thủ đồng cung với Nhật Nguyệt, là hai sao biểu tượng cho vợ chồng, thì ý nghĩa lúc đó sẽ ngược lại, nam thì khắc vợ, gái thì lúc trẻ cao số, lập gia đình thì khắc chồng, sát chồng. Từ đó, chúng ta cũng thấy thêm một điều nữa là Nhật Nguyệt không sợ Không Kiếp mà chỉ sợ Kình Đà.

Trong một lá số, Nhật Nguyệt dù miếu vượng mà gặp phải Kình Đà thì sớm muộn gì cũng sẽ đau khổ, bệnh tật về mắt, vợ chồng xung khắc, và nếu không có những sao hóa giải, nhẹ thì sinh ly, nặng thì tử biệt.:smile 2:

Tóm lại cách Kình Dương Độc Thủ trong một lá số tương đối tốt đẹp sẽ giúp cho đương số đạt được công danh sự nghiệp. Tuy nhiên, cuộc đời của người Kình Dương thủ Mệnh là con đường đầy chông gai. Sự thành công của họ là từ hai bàn tay trắng, bằng sức phấn đấu cũng như khả năng của chính bản thân. Cho nên lúc thiếu thời thường gian nan vất vả, cho đến trung vận hay hậu vận thì mới được công thành doanh toại.

manutd
03-22-2007, 05:10 PM
Trong truyện Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung có 4 nhân vật đại gian , đại ác hợp thành một nhóm gọi là Tứ Ác, đứng đầu trong nhóm tà đạo để chống lại phe chính phái. Khoa Tử Vi cũng vậy, có sao thiện thì cũng có sao ác. Cầm đầu trong nhóm hung tinh này là hai đại sát tinh Địa Không và Địa Kiếp mà chúng ta thường gọi là Không Kiếp.:chair[1]: Hai sao này cũng như những sao khác, có thể nhìn thấy bất cứ một nơi nào trên lá số, nhưng đặc biệt khi Địa Không tọa thủ tại cung Mệnh và Địa Kiếp tọa thủ tại cung Thân, hoặc Kiếp ợ Mệnh, Không ở Thân làm thành cách Mệnh Kiếp Thân Không, và đó là mẫu người đặc biệt, có thể gọi chung là mẫu người Không Kiếp mà chúng ta sẽ bàn đến.

Trước khi phác họa những nét chính về cuộc đời của mẫu người này, chúng ta hãy nói sơ qua những đặc tính của hai sao này. KK thuộc hành Hỏa, đắc địa ở Dần Thân Tỵ Hợi. Tại cung Tỵ và Hợi thì KK đồng cung cho nên dù tốt xấu, uy lực của KK sẽ gấp đôi so với KK xung chiếu nhau ở hai cung Dần Thân.:smile 27:

Xét về ngũ hành thì KK tọa thủ tại cung Tỵ là tốt nhất vì hành của sao và hành của cung cùng hành Hỏa. Vị trí thích hợp thứ hai là cung Dần vì hành Mộc của cung tương sinh cho hành Hỏa của KK, làm cho uy lực của KK khá mạnh mặc dù là đơn thủ.

Nói chung, dù đắc hay hãm, KK chủ sự hung hiểm, phá tán, bất hạnh, hoạch phát, hoạch phá. Dù nam hay nữ mà cung Mệnh hay cung Thân có KK đắc địa tọa thủ cùng với những sao tốt là người kín đáo, thâm trầm, biết suy sét, có mưu trí và rất gan dạ. Tuy nhiên người KK không được kiên nhẫn, làm việc gì cũng muốn nhanh chóng và sớm thấy kết qủa. Cho nên nếu không được như ý hay chỉ thất bại lần đần là nản chí ngay, bỏ cuộc dễ dàng. Nếu KK đắc địa cùng những sao xấu tọa thủ ở Mệnh thì những đức tính thăng trầm, gan dạ sẽ biến đương số thành người thủ đoạn và dễ đi vào con đường tà đạo.

:fire[1]: Nếu hãm địa thủ Mệnh + những sao tốt, dù nam hay nữ, bản tánh trở nên bất nhất, lúc chính, lúc tà, lúc tốt lúc xấu, vui buồn bất chợt khiến cho những người giao tiếp với đương số phải e dè. Nếu KK hãm địa thủ Mệnh cùng với những sao xấu thì tánh tình nham hiểm, xảo quyệt, thủ đoạn, hung dữ, bạo ngược.

Người Mệnh / Thân có KK đắc địa hay hãm địa thường bị những chứng bệnh về da như mụt nhọt, ghẻ ngứa vì dị ứng, những chứng bệnh về đường hô hấp như viêm phổi, viêm cuống họng, hen suyễn, khó thở… Đã mang danh là đại sát tinh cho nên những bệnh tật hay tai họa do KK mang đến chắc không phải là đơn giản, nhẹ nhàng. Dưới cái nhìn của khoa Tử Vi thì vấn đề chế giải tùy thuộc vào phúc đức của mỗi người và tùy theo sự bất hạnh xảy ra ở thời điểm nào trong cuộc đời. Không Kiếp như Đào Hồng, càn về cuối cuộc đời thì càng tác hại nặng nề hơn lúc trẻ.

Trong cuốn Tử Vi Ảo Bí của Việt Viêm Tử có đề cập đến quan điểm Không Kiếp Vô Luận. Quan điểm này cho rằng: những người sinh vào tháng 4 (tháng Tỵ) và tháng 10 (tháng Hợi) thì không bị KK phá tán vì có sự ứng hợp với hai cung Tỵ Hợi, là hai vị trí đắc địa của KK. Quan điểm này đưa đến 2 nghi vấn, đầu tiên là KK an theo giờ sinh, vậy tại sao chỉ vô luận đối với tháng sinh mà không áp dụng “vô luận” với giờ sinh? Thứ hai là KK cũng đắc địa ở Dần Thân, nhưng tại sao những người sinh vào tháng Dần, và tháng Thân lại không được hưởng cách KK Vô Luận?

Theo quan niệm cổ xưa của phương đông, đàn ông chú trọng đến công danh sự nghiệp, còn đàn bà nặng về chồng con. Đối với người KK thì hai chữ công danh, phú quý phải nhìn theo một quan niệm căn bản của khoa Tử Vi, hung tinh đắc địa phát dã như lôi, có nghĩa là hung tinh đắc địa sẽ phát nhanh như sấm sét.:fire[1]: Điều đó sẽ kéo theo một hệ qủa không thể nào tránh được, bạo phát thì bạo tàn. Bởi vậy, người KK làm việc gì cũng đạt đến kết qủa một cách nhanh chóng, nhưng những gì đã ở trong tầm tay lại khó giữ được lâu bền.

Đó chính là hai mặt của KK, con dao hai lưỡi, một tay nâng mình lên, một tay xô mình ngã, càng cao danh vọng thì càng lắm đau thương. Ý nghĩa đó chúng ta phải nhìn thấy để đừng qúa tin tưởng vào sự tốt đẹp của KK khi hai sao này đắc địa, hoặc có những sao khác kiềm chế. Đặc tính của KK là như vậy, trong cái tốt có ẩn tàng cái xấu, điều mà chúng ta nghĩ là may mắn thì đó cũng chính là mầm móng của tai họa trong nay mai. Bởi vậy cái quan niệm thàm một phút huy hoàng rồi chợt tắt,:smile 40: xem ra có vẽ thích hợp với mẫu người KK, cờ đến tay thì phất, có trong tay thì hưởng.

Như vậy, những sao nào có thể kiềm chế nổi hai đại sát tinh này? Có người cho rằng Tử Phủ miếu vượng thì đủ uy lực chế ngự KK. Nhưng theo thiển ý của người viết, néu Tử Vi hay Thiên Phủ cho dù có miếu địa mà đúng riêng lẽ một mình cũng tối kỵ KK. Tử Vi gặp KK khác gì Vua bị gian thần lộng quyền. Thiên Phủ mà gặp KK thì nhà kho trống trơn. Nói chung, các văn tinh, sát tinh, quý tinh không đủ uy lực để chế ngự hai đại sát tinh này mà chỉ có những võ tinh như Sát Phá Liêm Tham và Thiên Tướng miếu vượng là không sợ KK. Trói buộc được KK chỉ có Tuần Triệt.

Trường hợp đặc biệt là các văn tinh chỉ có Nhật Nguyệt là không sợ các sao “không” như Thiên Không, Địa Không mà ngược lại, vì ý nghĩa chữ “không” đối với NN là một bầu trời xanh thẳm không gợn áng mây, là điều kiện lý tưởng cho NN tỏa sáng.

Đối với nữ Mệnh, KK là hai sao bất hạnh cho đường tình duyên. Nữ mệnh có KK là người cao số, lúc thiếu thời thì tình duyên lận đận, khi lập gia đình thì khắc chồng, khắc con. Sự xung khắc nặng hay nhẹ thì vẫn tùy thuộc vào từng lá số và mỗi thời điểm trong cuộc đời, lúc còn trẻ, nhẹ thì sinh ly, giữa hay cuối đời, nặng thì tử biệt.:smile 15:

Nổi bất hạnh của nữ mệnh có KK còn tùy thuộc vào những sao mà KK đi cùng, chẳng hạn hư Đào Hồng, Riêu Thai, Cự Kỵ, Tham Kỵ, Xương Khúc… (điều này thấy không hợp lý bởi vì KK không bao giờ đi cùng với Xương Khúc. Các bạn nên cân nhắc vấn đề này) Gặp KK thì là cách hồng nhan bạc phận mà cũng có thể là bạc mệnh. Tình duyên trắc trở, việc cưới hỏi gặp nhiều trở ngại, làm kế, làm lẽ, hai ba đời chồng, bị chồng ruồng rẫy phụ bạc, hay bạo hànhvì tai nạn hay vì tính lẳng lơ, buông thả mà thất trinh, thất tiết. Vì hoàn cảnh hay do mình tự chọn làm gái giang hồ v.v… đều là những nhịp cầu oan nghiệt mà người đàn bà gặp những cách vừa nêu trên sẽ phải bước qua.

Tuy nhiên các tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi gặp KK thì cuộc đời cũng khá nhiều gian truân nhưng không đến nổi tan tác hay trầm luân như những tuổi khác. Nếu 4 tuổi Thìn, Tuất Sửu, Mùi đắc cách KK kiếp Tỵ Hợi thì công danh phú quý sẽ đạt được một cách dễ dàng, và thật bất ngờ. Những tuổi khác cũng được hoạch phát nhưng không giữ được lâu bền.:smile 4:

Trong một lá số nếu Mệnh và Thân tốt thì cuộc đời từ ngày lọt lòng mẹ cho đến khi tư giã cõi đời đều được sung sướng. Hoặc nếu Mệnh Thân được một tốt, một xấu thì ít ra cuộc đời cũng có một khoảng thời gian sung sướng. Trường hợp nếu Mệnh và Thân cùng xấu thì cả cuộc đời là những chuỗi ngày gian truân. Và đó là nét đặc biệt của mẫu người Mệnh Không Thân Kiếp, hay Mệnh Kiếp Thân Không, một mẫu người có đầy đủ tất cả những hình ảnh đã nêu trên. Và nếu Nguyễn Du dùng truyện Kiều đễ diễn đạt cái quan niệm tài mệnh tương đố của mình, thì chúng ta cũng có thể nói rằng, mẫu người Mệnh Không Thân Kiếp hay Mệnh Kiếp Thân Không là mẫu người đa tài, đa năng, đa dạng và cũng đa truân, là mẫu người mà khi bước chân vào đời đã phải ở trong cái vòng tài mệnh tương đố của tạo hóa.

Tuy vậy, chúng ta cũng còn một biệt lệ cho những người Mệnh Không Thân Kiếp hay Mệnh Kiếp Thân Không sinh vào các tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì lại có sự ứng hợp, cho nên cuộc đời sẽ chiết giảm được rất nhiều những điều bất hạnh do KK mang đến.

Nếu đã nói như vậy thì niềm an ủi cũng là sự kiêu hãnh mỗi một khi mình vươn lên được trước những thử thách cay nghiệt đó, càng phong trần danh ấy càng cao.

manutd
03-22-2007, 05:13 PM
Trong nhóm hung sát tinh của khoa Tử Vi, người ta ít chú trọng đến sao Thiên Không, một phụ tinh nhỏ xếp vào hàng em út so với đại sát tinh Không Kiếp mà chúng đã đề cập trong chương trước. Theo thiển ý của người viết thì TK là một phụ tinh rất đáng cho chúng ta lưu ý khi giải đoán một lá số và nhất là lúc xem hạn. Ngoài những ý nghĩa căn bản và đơn giản của một ác tinh, TK còn mang nhiều sắc thái đối nghịch nhau rất lý thú mà chúng ta phải cân nhắc thận trọng khi giải đoán một lá số có Thiên Kông thủ Mệnh để khỏi đi đến những kết luận sai lầm đáng tiếc.:poster_brizdidit[1]

Thiên Không thuộc hành Hỏa, đắc địa ở Dần, thân, Tỵ, Hợi và đó cũng là nơi đắc địa của Không Kiếp, cho nên tại những vị trí này, TK sẽ có uy lực không kém gì KK, và cũng như các đàn anh, TK chủ sự phá tán, thất bại, gãy đổ nửa chừng.

Người có TK hãm địa thủ mệnh thì tính tình gian xảo, qủy quyệt, chuyên dùng sự gian dối, thủ đoạn để ăn ở với người, để mưu sự với đời, nhưng rốt cuộc cũng không làm được việc gì ngoài những trò tiểu xảo hầu thủ lợi cho cá nhân mình, nhưng chung cuộc thì cũng tự hại mình mà thôi.:smile 65:

Người có TK đắc địa thủ mệnh tính tình táo bạo, thăng trầm, túc trí đa mưu, thích toan tính những chuyện lớn lao, nhưng nếu không có những sao chế giải thì từ anh hùng trở thành gian hùng dễ như trở bàn tay. Bởi vậy, như đã nói ở trên, ý nghĩa lý thú của TK là chúng ta có thể ví người Thiên Không là người “nhị trùng bản ngã”. Trong con người TK có một người thiện, một người ác, có chính, có tà…Một lá số với cách cục tốt đẹp nào đó khiến chúng ta kết luận đương số là anh hùng, nhưng cẩn thận, anh hùng có thể là gian hùng nếu có thêm Thiên Không đồng thủ mệnh.

Cái bản ngã thứ nhì của TK hiểu theo triết lý nhà Phật thì TK còn có ý nghĩa “sắc sắc không không” Cho nên, người có TK đắc địa thủ mệnh gần giống với mẫu người Tử Tham Mão Dậu, bẩm sinh từ lúc còn trẻ đã có khuynh hướng yếm thế, có những ý nghĩ và cuộc sống gần gũi với tôn giáo. Cái khổ của người TK là sự dằn vặt trong nội tâm bởi hai cánh tay của TK, một thiện một ác, một chánh một tà, một đời một đạo, lôi kéo, giằng co đương số suốt cả cuộc đời: Mệnh tọa Thiên Không định xuất gia, có nghĩa là người Thiên Không thủ mệnh lòng chỉ muốn xa lánh cỏi đời, nhưng thực hiện được hay không đớ còn tùy thuộc vào những sao phối hợp mà chúng ta đề cập sao đây.:30[1]:

Sự cân nhắc thận trọng với lá số TK lại càng nên thận trọng hơn đối với hai sao Đào Hồng, là biểu tượng cho sắc đẹp, nghệ thật và nhất là nữ phái. Có nhiều sách cho rằng TK thủ mệnh gặp Đào Hoa, dù nam hay nữ, cũng là những người có khả năng quyến rũ người khác phái bằng những ngón nghề riêng của mình. Theo thiển ý của người viết, chúng ta phải phân biệt hai trường hợp.

Đối với nam mệnh, TK là biểu tượng cho bản chất của đương số, và Đào Hoa là đối tượng đeo đuổi. Cho nên nam phái có TH + ĐH ở mệnh là người đào hoa và biết dùng những ưu điểm trời phú cho mình như nhân dáng, lới ăn, tiếng nói ngọt ngào, địa vị, quyền thế.…Nói chung là dùng mọi khả năng quyến rũ của mình đễ lợi dụng đàn bà vào một mục đích nào đó. Nếu gặp thêm những sao như Phục Binh, Quan Phù, Quan Phủ… thì mức độ lợi dụng sẽ đi đến chuyện dụ dỗ, lừa gạt, phản bội một cách trắng trợn.:smile 65:

Đối với phái nữ, Đào Hoa là biểu tượng chính của đương số, là cánh hoa biết nói, còn TK là lửa trên trời. Đào Hoa gặp lửa thì làm sao không khô héo? Bởi vậy, nữ phái gặp cách này là người có nhan sắc nhưng lại không co duyên. Chữ duyên ở đây bao hàm cả hai ý nghĩa: Sự duyên dáng từ cử chỉ đền cách ăn nói của người đàn bà, và cũng là ý nghĩa của duyên phận. Chúng ta thường thấy những người đàn bà có sắc đẹp bên ngoài nhưng khi tiếp xúc thì không tìm thấy một nét hấp dẫn nào qua tính tình hay nội tâm. Họ cũng như cành hoa hữu sắc vô hương, và phải chăng vì vậy mà Đào Hoa ngộ Thiên Không thì duyên kiếp phải bẽ bàng, chứ không hẳn có sức quyến rũ nam phái.

Và tương tự, chúng ta nên thận trọng trong việc giải đoán với sao Hồng Loan, cùng ý nghĩa như Đào Hoa. Mệnh có Thiên Không + Hồng Loan là người có tư cách thanh cao, thích an nhàn, ẩn dật, và khuynh hướng xa lánh trần tục rất rõ ràng. Hai chữ “không hồng” với quan niện triết lý của nhà Phật, phải chăng là không vướng bụi hồng trần?

Một ý nghĩa đáng kể mà chúng ta đã nói ở trên là sự thất bại, sự đổ gãy nửa chừng của người có Thiên Không thủ mệnh. Sự gãy đổ này có thể xảy ra trên mọi lảnh vực từ công danh, sự nghiệp cho đến chuyện tình cảm gia đạo v.v…Bởi vậy, chúng ta có thể gọi người TK thủ Mệnh là mẫu người Bán Thiên Triết Sĩ = Lưng Trời Gãy Cánh.:smile 34:

Người có cách Tham Vũ Đồng Hành là người làm nên sự nghiệp từ thương trường. Nhưng nếu mệnh có Thiên Không thì chắc chắn thì đương số ít nhất cũng phải một lần thất bại đau thương rồi mới làm nên sự nghiệp. Tùy theo mỗi là số, có người đỗ vỡ trên đường công danh, có người gãy đỗ trên đường tình ái… Và cho dến việc tu hành cũng không phải là con đường nhẹ nhàng đối với những người đã có lòng thoát tục. Cho nên cuối cùng họ đành chấp nhận cuộc sống nửa đời nửa đạo, hoặc là bỏ đạo trở lại với đời.

Chúng ta cũng thấy rất rõ đặc tính lưng trời gãy cánh khi TK nhập hạn. Một tay chọc trời khuấy nước như Hạng Võ mà hạn gặp TK cũng đành phải mất nước, biệt Ngu Cơ và tự vẫn bên dòng Ô Giang. Hạn gặp Thiên Không thì tốt nhất là khoanh tay ngồi yên, chớ mưu tính chuyện gì cho tốn công phí sức. Dù có mưu cầu toan tính tới đâu thì chung cuộc cũng chỉ là đầu voi đuôi chuột mà thôi. Nếu gặp hạn xấu thì kết quả có thể còn tệ hại hơn, kể cả chuyện tán gia bại sản hay gia đình ly tán.

Những tác hại của TK sẽ nhẹ nhàng hơn đối với những người Mệnh Vô Chính Diệu vì cung mệnh của họ vốn đã là “không” nếu gặp thêm không nữa thì cũng không gì đáng ngại.:biggrin: Những người có Nhật Nguyệt thủ mệnh cũng không sợ Thiên Không vi hai vầng NN lại càng sáng tỏ trong bầu trời không gợn áng mây che.

Cuối cùng, một đặc điểm oái oăm khác của mẫu người Thiên Không là cho dù hôm nay có làm nên công danh sự nghiệp, có quyền cao chức trọng, thì cũng nên hiểu rằng chung cuộc của mình rồi cũng hai bàn tay trắng mà thôi.

Như vậy, chúng ta thấy rõ rằng không phải chỉ những chính tinh mới quyết định số mệnh của một con người, mà đôi lúc những phụ tinh lại là những khúc quanh rất quan trọng của một đời người. :smile 65:

manutd
03-22-2007, 05:16 PM
Đà Lạt là thành phố của mộng mơ và nổi tiếng bởi những cành hoa Anh Đào khoe sắc trong nắng ấm mùa xuân. Màu hồng nhạt của hoa Anh Đào như màu má của những người con gái Đà Lạt ở tuổi xuân thì hấp dẫn biết bao du khách, và cũng là nguồn cảm hứng bất tận cho người văn nghệ sĩ. Có phải chăng vì vậy mà người ta đã dùng tên của loài hoa này làm biểu tượng cho những người có một sức hấp dẫn, thu hút người khác? Trong khoa Tử Vi Đẩu Số, một phụ tinh có cùng ý nghĩa như vậy và cũng mang tên Đào Hoa, cho nên có thể nói, những người có số Đào Hoa thủ mệnh là mẫu người Đào Hoa mà chúng ta sẽ bàn đến.:smile 34:

Sao Đào Hoa và Hồng Loan thường đi đôi và có cùng chung một đặc tính. Đào Hoa hành Mộc, Hồng Loan hành Thủy. Những sách Tử Vi không đề cập đến những vị trí đắc địa hay hãm địa của Đào Hồng. Tuy nhiên, có người căn cứ trên thực tại để định những vị trí tốt xấu của Đào Hồng. Như cung Mão được xem là vị trí tốt nhất của Đào Hoa vì cung Mão là thời điểm của bình minh, những cánh hoa còn đọng sương mai, khởi đầu của sự khoe sắc tươi thắm rực rở nhất trong ngày. Cung Ngọ là giữa trưa, hoa không còn tươi thắm nữa vì bị nắng cháy. Cung Tí thì ở vào ban đêm, là thời điểm mà hoa đã khép cánh. :biggrin:

Quan niệm này cũng hợp lý, tuy nhiên vẫn có những loài hoa chỉ nở về đêm như hoa Quỳnh, Dạ Lý Hương, Thiết Mộc Lan v.v… chỉ khoe sắc và tỏa hương nồng trong bóng tối mà thôi. Đã mang kiếp hoa thì tất phải sớm nở tối tàn, dù cho rực rở trong buổi bình minh thì có còn tươi thắm được đến buổi bình minh hôm sau chăng?

Nhưng nếu nói theo quan điểm trên, Đào Hoa đắc địa ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu tức là Tứ Tuyệt, Hồng Loan đắc địa ở Dần Thân Tỵ Hợi tức Tứ Sinh, thì quan điểm cũng có cái triết lý khi phân tích về bản chất của Đào Hồng, là hai sao biểu tượng cho phái nữ. Khi nói Đào Hoa ở Tứ Tuyệt, chúng ta có thể tưởng tượng hoàn cảnh của một cô con gái có nhan sắc nhưng tư nhỏ đã sinh sống trong một hoàn cảnh rất nghiệt ngã, khiến cho người con gái này phải có đầy đủ thủ đoạn đễ sinh tồn. Còn ngược lại, Hồng Loan ở tứ sinh như một người con gái khuê các, nên bản chất hiền lương đoan chính.

Tuy vậy, theo thiển ý của người viết, vị trí của Đào Hồng không quan trọng bằng những sao mà Đào Hồng trao duyên gởi phận, và điều này sẽ được dẫn chứng ở phần sau. Ở đây, chỉ lấy một ví dụ, bất kể Đào Hoa ở vị trí nào mà khi gặp Hồng Loan và Thiên Hỷ thì trở thành bộ sao tốt gọi tắt là Đào Hồng Hỷ hay còn gọi là Tam Minh.

Đối với khoa Tử Vi, Đào Hồng đều là biểu tượng của sự sinh đẹp, cho nên có ý nghĩa chỉ về phái nữ nhiều hơn phái nam. Người có Đào Hoa hay Hồng Loan thủ mệnh, dù nam hay nữ đều có nhan sắc, đẹp trai, đẹp gái. Nét mặt lúc nào cũng vui tươi, tính tình vui vẽ cởi mở. Tuy nhiên, chúng ta phải phân biệt cái đẹp và cái nết của hai sao Đào Hồng khác nhau ở điểm nào?

Khi nói về nhan sắc, hàm ý nói về phái nữ, cái đẹp của Đào Hoa là nét đẹp lộ liễu ra bên ngoài, lồ lộ như một đóa hải đường, vẽ đẹp mà khoa Tướng Mệnh gọi là Đào Hoa Diện, hoặc Đào Hoa Nhãn, là nét đẹp có sức hấp dẫn, lôi cuốn thu hút người đối diện ngay từ phút ban đầu từ khuôn mặt, đôi mắt, cử chỉ, lời ăn tiến nói có vẽ lôi cuốn, lẳng lơ, hoặc có một lối sống buông thả…
Cái đẹp của Đào Hoa có thể nhìn thấy ở bất cứ tầng lớp nào trong xã hội, từ một mệnh phụ phu nhân cho đếnmột người mậu, một diễn viên, một thôn nữ, thận chí một cô gái giang hồ… Nhưng địa vị và vẻ đẹp bên ngoài đó không bảo đảm là nết hạnh của họ cũng tốt đẹp như vậy.:smile 33:

Còn nét đẹp của Hồng Loan là nét đẹp của sự nhu tình, duyên dáng, thanh cao, quý phái, đài các. Cái đẹp nghiêng nhiều về tinh thần hơn là vật chất. Nữ mệnh có Hồng Loan có thể chỉ là một người đàn bà nhan sắc trung bình, nhưng có duyên, là mẫu người nhu mì và có chiều sâu tâm hồn. Tuy nhiên, khi đi chung với Đào Hoa cả hai sẽ có ảnh hưởng tương hỗ nhau. Hồng Loan chỉ chế giảm được một phần nhỏ khuynh hướng vật chất và buông thả của Đào Hoa mà thôi, còn phần lớn là bị lôi cuốn bởi Đào Hoa.

Ngoài ý nghĩa về nét đẹp và tính nết, Đào Hồng còn chủ sự nhanh chóng, sớm sủa, dễ dàng và may mắn. Chẳng hạn, Đào Hồng tọa thủ ở Mệnh, cung Thiên Di, hay cung Quan Lộc là số của những người ra đời sớm, đi làm sớm hay có công danh sự nghiệp sớm hơn những người cùng lúa tuổi với mình. Đây cũng là số của những người có nhiều may mắn trong vấn đề học hành thi cử, và khi ra trường lại tìm được việc làm dễ dàng hơn những người khác. Nếu cung Tài Lộc có Đào Hồng tọa thủ thì đương số sớm làm ra tiền và kiếm tiền một cách dễ dàng.

Nếy hai sao Đào Hồng gặp thêm Hỷ Thần hay Thiên Hỷ chủ sự may mắn về thi cử, sự thăng quan tiến chức, cũng là việc cưới hỏi. Hạn gặp Đào Hồng Hỷ là sự báo hiệu một tin vui sắp đền. Trong lãnh vực nghề nghiệp, Đào Hồng Hỷ chỉ những người sinh hoạt trong các bộ môn ca chạc kịch, điện ảnh. Trong gia đình, Hồng Loan là biểu tượng của con gái, nếu Hồng Loan gặp Thiên Khôi là chỉ người trưởng nữ.

Nhu vậy đối với khoa Tử Vi, mẫu người Đào Hoa là những người cung Mệnh có Đào Hoa hay Hồng Loan tọa thủ hay xung chiếu. Đặc tính đáng chú ý của họ là sức thu hút đ1ôi với người khác phái, họ là những người đắt đào, đắt kép, bước ra khỏi nhà là có người thương, người theo, có người sẳn sàng gánh vác, nâng đỡ mọi điều…

Tuy nhiên, người Đào Hoa không phải lúc nào cũng được may mắn tốt đẹp như vậy, nhất là đối với nữ phái. Nếu Đào Hồng bất hạnh trao duyên gởi phận cho những sao xấu thì thà đừng có Đào Hồng còn hơn. Chẳng hạn nữ Mệnh có Đào Hồng tọa thủ, gặp Hóa Kỵ, Riêu hay Thai đồng cung hay hợp chiếu, thì đương số là người đàn bà đẹp nhưng lẳng lơ, buông thả và cuộc đời sẽ trầm luân với những buồn thương sầu hận. Nếu Đào Hồng những sát tinh như Không Kiếp thì có thể nói là một nổi bất hạnh cho đương số.

Chúng ta lấy cuộc đời của Vương Thúy Kiều để làm một ví dụ điển hình: mối tình đầu vừa chớm nở đã đành trao lại cho em dễ bán mình vào lầu xanh. Tấm thân đã phải đổi chủ biết bao nhiêu lần, rồi xuống tóc, rồi trầm mình, nhưng nở trần đâu dễ phủi tay? Đó là mẫu người Đào Hoa lụy vì tình, oan nghiệt vì tình, vì nhan sắc mà gặp tai họa, hoặc là lâm vào hoàn cảnh mà người đời thường hay gọi “trao duyên nhầm tướng cướp” Nếu Đào Hồng ngộ Thiên Không thì cũng như Đào Hoa gặp lửa, chắc chắn duyên phận phải bẽ bàng và có thể xa lánh cỏi đời bằng con đường tu hành như chuyện Lan và Điệp. :smile 1:

Đối với nam giới, nếu cung Quan Lộc có Đào Hồng thì đương số ra đời sớm lý do có thể là do tính thích tự lập hoặc vì hoàn cảnh đưa đẩy. Họ cũng là người lập được công danh sự nghiệp rất sớm, và điều đáng nói là sự thành công đó không hẳn hoàn toàn do khả năng của chính họ mà một phần là do sự nâng đở, giúp sức của người khác phái, nguyên nhân chính là vấn đề tình cảm. Tương tự, đối với nam mệnh mà cung Tài Lộc có Đào Hồng thì đương số là ra tiền một cách dễ dàng. Nếu lá số tốt đẹp họ có thể là những người giàu có lúc còn trẻ tuổi, và chắc chắn rằng sự thành đạt đó không thể thiếu sự góp phần của người khác phái bởi những quan hệ tình cảm đặc biệt nào đó., và đôi khi đó chỉ là tình cảm một chiều.

Chúng ta thường nghe câu: “sau lưng một người đàn ông thành công là bóng dáng của một người đàn bà tài giỏi” Nhưng không phải Đào Hồng lúc nào cũng cũng được may mắn tọa thủ trong một lá số tốt đẹp để biểu tượng cho một người đàn bà giỏi. Nam số nếu Mệnh hay cung Quan có Đào Hồng gặp hung tinh, sát tinh thì hậu qủa sẽ là những gì mà cựu Tổng Thống Clinton hay Thái Tử Charles đã gánh chịu. Bởi vậy, trong lá số của người đàn ông nếu Đào Hồng gặp những sao tốt như Tử Phủ hay Nhật Nguyệt…thì đương số được công thành danh toại. Với phái nữ, đó là hình ảnh của một người vợ “vượng phu ích tử”, một hồng nhan tri kỷ. Ngược lại, Đào Hồng gặp những sao xấu, thì Đào Hồng cũng là một hồng nhan nhưng cũng là họa thủy. Chẳng hạn như Đào Hồng ngộ Không Kiếp ở cung Mệnh hay cung Quan Lộc, nhẹ thì như đã nói ở trên, nặng thì chung cuộc có khác gì cảnh Hạng Võ phải biệt Ngu Cơ rồi tự vẫn bên bờ Ô Giang. Hoặc nam mệnh có Đào Hồng tọa thủ ở cung Tài Lộc gặp Song Hao, Địa Kiếp thì tiền kiếp đư5ơc cũng nhờ đàn bà, tán gia bại sản cũng vì đàn bà.

Đối với khoa Tử Vi, không phải chỉ có hai sao Đào Hoa và Hồng Loan là biểu tượng cho mẫu người đào hoa mà còn có nhiều sao khác như Liêm Trinh, là một sao võ cách nhưng vẫn được mệnh danh là đào hoa tinh. Ý nghĩa đào hoa của Liêm Trinh thường dùng cho Nam nhiều hơn Nữ. Đàn ông cung Mệnh có LT, dù đắc hay hãm cũng là người có số đào hoa họ có duyên ngầm, có một nét đa tình nào đó dễ thu hút người khác phái. Tuy LT là một sao về võ cách nhưng bản tính vốn liêm khiết và tự trọng cho nên trong tình trường, họ thường bị người khác phái chủa động và tấn công trước. Trong lĩnh vực tình cảm, LT cớ những đặc tính gần với Hồng Loan hơn là Đào Hoa.

Tham Lang cũng là một đào hoa tinh, nhưng tình cảm của Tham Lam rất giống Đào Hoa, nặng về vật chất, buông thả, xa đọa. Nếu cung Mệnh an tại Tí có Tham Lang tọa thủ là cách “phiếp Thủy Đào Hoa” = Hoa đào trôi theo dòng nước, chỉ những người có tâm hồn lãng mạn, đường tình lao đao lận đận, hoặc những người có cuộc sống buông thả, phong trần. Cách Phiếm Thủy Đào Hoa có nghĩa ý đối với phái nữ nhiều hơn Nam.

Thái Âm cũng là biểu tượng của người đào hoa bởi vì Thái Âm mặt trăng, là nguồn cảm hứng bất tận cho người văn nghễ sĩ từ cổ chí kim. Cho nên, người mà cung Mệnh hay cung Phúc Đức có Thái Âm thì ít nhiều cũng là người đa tình lãng mạn, yêu chuộng văn chương nghệ thật, là mẫu người sống vì nhạc, thác vì tình. Đặc biệt đối với nam mệnh, nếu Thái Âm tọa thủ tại cung Thê thì đương số là người đào hoa, thích bay bướm, nhưng nể vợ, ssọ vợ như Thúc Sinh trong truyện Kiều vậy.

Ngoài ra một số sao khác như Cự Môn, Xương Khúc, Hoa Cái…hoặc một vài cách như Thai Phục Vượng Tướng, Cự Kỵ, Tham Kỵ, Hoa Cái cư Thiên Di…. đều là đặc tính của mẫu người đào hoa, ít hay nhiều, tốt hay xấu còn tùy vào mỗi lá số hoặc những sao mà chúng đi chung.

Những sao khắc chế được tính đào hoa gồm có Thái Dương, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tứ Đức, Thiên Hình, Thiên Không…riêng đối với nữ mệnh, Thiên Hình và Thiên Không có tác dụng khắc chế qúa mạnh, không những làm mất hết tánh đào hoa mà còn khiến đương số phải chịu cảnh lận đận trên đường tình duyên. Chẳng hạn nữ Mệnh có Đào Hoa gặp Thiên Hình, đây là người đàn bà có nhan sắc, nhưng tâm hồn khô khan, ăn nói không duynê dáng…hay nói một cách khác, đúng xa mà nhìn thì thấy đẹp, nhưng đến gần thì chỉ là một cành hoa giấy. :29[1]:

Từ những nét vừa nêu trên, chúng ta thấy rằng ý nghĩa chính của Đào Hồng là sự sinh đẹp và tình ái. Cho nên Đào Hồng thích hợp với tuổi trẻ hơn là lúc về già. Vì vậy, trong tiền vận hay trung vận nếu gặp Đào Hồng + sát tinh nhập hạn thì cũng không đáng sơ như khi ở hậu vận, nhất là đối với những người mệnh Vô Chính Diệu.

Và sau hết, chúng ta cũng đừng quên rằng, mẫu người đào hoa giống như lúc nào cũng nắm trong tay con dao hai lưỡi. Con dao Đào Hoa trong cái tốt có ẩn tàng cái xấu. trong hạnh phúc có mầm móng của sự đau khổ.

Chúng ta thấy Đào Hồng cũng cùng một nguyên tắc như Nhật Nguyệt đó là “chính bất như chiếu” Do đó cách tốt đẹp hơn hết là Đào Hồng không nên tọa thủ ở Mệnh, nhất là đối vớ nữ phái. Một chút nhan sắc trời cho mà phải đánh đổi cả một đời truân chuyên, điều này thử nghĩ có đắng hay không? Vị trí tốt nhất cho Đào Hồng là cung Quan Lộc hay cung Tài Lộc. tại đây, Đào Hồng chiếu về Mệnh thì đương số vẫn là người có nhan sắc, tuy nhan sắc không rực rỡ và phô bày cái đẹp ra bên ngoài nhưng lại tránh được bốn chữ “Hồng Nhan Đa Truân” Và nói chung cho cả nam nữ thì Đào Hồng ở hai cung Tài và Quan giúp cho đương số thành công dễ dàng hơn trên phương diện công danh và sự nghiệp chứ không chỉ trói buộc đương số vào cái vòng tình cảm như khi Đào Hồng thủ Mệnh.:smile 50:

Đối vớ đàn bà, nhan sắc là trời cho nhưng hồng nhan đa truân hay hồng nhan bạc mệnh thì cũng là ý trời. Dù nam hay nữ, có thể một lúc nào đó, người đào hoa phải tự hỏi mình được nhiều người thương là hạnh phúc hay phiền muộn? Cũng như mấy ai biết được giữa hồng nhan tri kỷ va hồng nhan họa thủy phải chăng chỉ là một đường tơ? Phúc hay họa thì chỉ có khoa Tử Vi Đẩu Số mới trả lời cho chúng ta rõ ràng mà thôi.

manutd
03-22-2007, 05:18 PM
Chúng ta vẫn thấy những người tuy sống trong một hoàn cảnh thoải mái, một cuộc sống tương đối đầy đủ nhưng nét mặt của họ lúc nào cũng có sự tư lự, một nét suy tư nào đó, hay phảng phất trên mặt một thoáng buồn miên man như người đang ôm một nổi niềm tâm sự sâu kín. Khoa Tử vi, những người này thường cung Mệnh của họ đều có Tang Môn hoặc Bạch Hổ tọa thủ, và chúng ta gọi là mẫu người Tang Hổ. Hai sao Tang Môn, Bạch Hổ là hai bại tin trong nhóm lục bại. Tuy là hai bại tinh, nhưng người Tang Hổ không phải là người bất tài vô tướng theo cái ý nghĩa mà chúng ta vừa nói đến. Ngược lại, có rất nhiều người đã thành danh cũng nhờ vào hai sao Tang Hổ.:smile 33:

Tang Môn thuộc hành Mộc. Bạch Hổ thuộc hành Kim, cả hai đắc địa tại Dần Thân Mão Dậu. hai sao này lúc nào cũng đi đôi với nhau ở vị trí xung chiếu. Tang Hổ đắc địa thủ mệnh là người gan dạ, cương quyết và ngay thẳng. Người Tang Hổ có đủ sự gan lì để thử thách với nghịch cảnh. Khả năng đó có thể xem như ông Trời dành riêng cho họ vì cuộc đời của những người này kể từ lúc lột lòng mẹ thì sự thử thách dành cho họ đã chờ sẳn rồi.:smile 33:

Người Tang Hổ thường chịu cảnh mồ côi từ lúc còn bé, nếu không thì tuổi thơ ấu cũng phài chịu cảnh xa cha mẹ, gia đình ly tán, thiếu tình thương và sự đùm bộc của cha mẹ, anh chị. Phải chăng vì vậy mà người Tang Hổ luôn có một nét buồn sâu kín trên khuôn mặt, và nét buồn này sâu đậm nhất trong khoảng thời gian của tuổi thanh xuân tức là khoảng tiền vận rồi sau đó sẽ phai nhạt dần.

Để bù trừ cho những bất hạnh đó, người có Tang Hổ đắc địa là người đa tài đa năng, đa hiệu. Tuy tính tình cương quyết và đôi khi trở thành ương ngạnh, nhưng họ là người quyền biến và có khả năng giải quyết công việc cho thích ứng với hoàn cảnh. Năng khiếu nổi bậc nhất của họ là sự suy luận và phán đoán rất sắc bén. Đó chính là yếu tố căn bản cho khả năng hùng biện cũng như khả năng thuyết phục người khác. Vì vậy, những lãnh vực về chính trị, ngoại giao và luật pháp đều là những sở trương của người Tang Hổ.

Trong trường hợp Tang Hổ hãm địa thủ mệnh thì cuộc đời luôn gặp nhiều nghịch cảnh đau thương, ngang trái. Nếu không làm những ngành nghê liên quan như cảnh sát, toà án, luật sư…thì dễ vướng vào vòng tù tội và tuổi thọ cũng ngắn ngủi. Về vấn đề bệnh tật, nói chung cả nam lẫn nữ, dù đắc hay hãm, người Tang Hổ thường hay bị đau ốm bệnh tật, nhất là những bệnh về xương, máu như cao huyết áp, mỡ trong máu…:smile 50:

Riêng với nữ mệnh thì nét mặt u sầu, chưa lập gia đình thì tình duyên trắc trở, lận đận, khi có gia đình rồi lại khắc chồng khắc con, nếu gặp thêm Thiên Riêu thì mức độ hình khắc có thể thành sát phu. Cho nên nếu lập gia đình muộn cũng có thể chế giải được phần nào. Nữ mệnh Tang Hổ thì vấn đề sinh nở thường hay gặp khó khăn, khi có con thì lại khổ vì con cái và dễ mắc những bệnh về các bộ phận sinh sản như tử cung, buồng trứng…Ngoài ra, người Tang Hổ, dù nam hay nữ, lúc còn trẻ không có tay nuôi xúc vật, phải vào trung vận thì đặc tính này mới giảm dần.

Mệnh an tại Dần có Bạch Hổ là cách Hổ Cư Hổ Vị là cọp trong rừng sâu. Đây chỉ người có tài, có địa vị, quyền uy, và thường phát về võ nghiệp.

Mệnh an tại Mão có Bạch Hổ là cách Hổ Xuất Sơn Lâm. Cung Mão thuộc phương đông, là thời gian của bình minh, là thời điểm bắt đầu của một ngày, ánh mặt trời vừa rực rở, biểu tượng cho một vận hội tốt đẹp đang chờ đón. Cho nên, ngườ đắc cách này, cuộc đời thường hay gặp được những may mắn đưa đến sự thành công dễ dàng. Bạch Hổ ở hai vị trí Mão Dậu còng gọi là cách “tứ phương củng phục anh hùng” ý nói những người có khả năng lãnh đạo, thâu phục được anh hùng hào kiệt bốn phương.

Người mệnh an tại Dậu có Bạch Hổ là cách "Hổ Khiếu Tây Phương". Cung Dậu thuộc phương Tây, là thời gian của hoàng hôn vì vậy có người cho rằng Bạch Hổ ở Dậu không tác hại vì đó là lúc cọp đã ăn no nên vào sâu trong rừng mà ngủ. Theo ý của người viết thì hai chữ Tây Phương hàm ý là “cõi Phật” Khiếu Tây Phương là hướng về phương Tây là lạy, cũng có nghĩa là có lòng hướng Phật. Người có cách này là người có tánh tình nhân hậu và thường có khuynh hướng tôn giáo mạnh mẽ. Chỉ nói riêng về lĩnh vực tâm linh, thì người Bạch Hổ Khiếu Tây Phương có phần nào giống người Tử Tham Mão Dậu.

Trong hai sao Tang Hổ thì Bạch Hổ có tầm ẳnh hưởng đáng kể hơn Tang Môn. Ví dụ như Bạch Hổ đi với Tấu Thư (Hổ Tấu) có nghĩa là Hổ mang hòm sách, chỉ người có số khoa bảng, học rộng hiểu nhiều. Bạch Hổ gặp Phi Liêm (Phi Hổ) như Hổ mọc thêm cánh, cách này giống như Phi Mã, chỉ những người thường gặp được các vận hội may mắn đưa đến sự thành công rất dễ dàng trong cuộc đời. Hạn gặp Phi Hổ hay Phi Mã là vận may đang đến, nếu dự tính điều gì thì nên mạnh dạnh xúc tiến, thi cử sẽ đỗ đạt, tìm việc làm sễ được như ý, có việc rồi thì sẽ được thăng chức thăng lương…:smile 1:

Bạch Hổ cũng là một trong Tứ Linh (Long Phượng Hổ Cái) Mệnh, Quan, Phúc, Di đắc Tứ Linh thì đường công danh thuận lợi và có địa vị trong xã hội. Bộ Tứ Linh cũng chế giải được phần nào những tai họa do các hung sát tinh gây ra. Hạn Tứ Linh là cơ hội tốt cho vấn đề công danh.

Bạch Hổ và Thiên Hình hay Kình Dương đồng cung thủ Mệnh là cách “hổ hàm kiếm” = Hổ ngậm kiếm, chỉ người gan dạ, oai dũng, có tư cách và chí khí, nếu có thêm những võ tinh hội họp thì đương binh nghiệp sẽ phát rất nhanh.

Tang Hổ cũng là những sao lưu, cho nên hạn có Tang Hổ, gặp Lưu Tang, Lưu Hổ là có tang trong hạn đó. Tang Hổ nhập hạn gặp Khốc Hư cũng cùng một ý nghĩa. Ngoài việc có tang, hạn gặp Tang Hổ cũng nên đề phòng tai nạn và bệnh tật, nhất là những chứng bệnh về máu huyết và bệnh về xương như đau khớp, rỗng xương…Đàn bà lúc có thai và sinh nở mà hạn gặp Tang Hổ cũng nên đề phòng việc sinh khó hoặc hư thai.:smile 11:

“Nam nhân Tang Hổ hữu tài uyên bác
Nữ mệnh Hổ Riêu đa sự qủa ưu”

Hai câu trên có thể dùng để tóm lược những nét đặc thù của mẫu người Tang Hổ: đàn ông Tang Tổ thì đa tài, đa năng. Đàn bà Tang Hổ tình duyên ngang trái, gia đạo buồn phiền.

manutd
03-22-2007, 05:20 PM
Giai cấp xã hội của thời phong kiến xa xưa được xếp hạng thứ tự Sĩ, Nông, Công, Thương. Kinh doanh thương mại được đứng vào hàng thú tư. Nhưng thật sự thì ai cũng hiểu một quan niệm, gần như là một định luật đó là “phi thương bất phú”. Khoa Tủ Vi cũng đề cập đến những mẫu người của thương trường, trong đó có mẫu người Cự Cơ Mão Dậu, là một trong những mẫu người doanh thương mà chúng ta khảo sát sau đây.

Cự Môn là một bắc đẩu tinh, thuộc hành Thủy. Có lẻ hành Thủy khiến cho Cự Môn trở nên uyển chuyển theo hoàn cảnh, “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Cự Môn đắc địa đi với những võ tinh thì sẽ hổ trợ cho võ tinh thêm mạnh mẽ để phát về võ nghiệp. nếu đi với những sao văn tinh thì sẽ thành công trong laĩnh vực văn học, nghệ thuật, nếu đi với những sao có khuynh hướng về kinh doanh thì sẽ trở thành những tay kinh doanh cự phách, và tương tự, khi đi với dâm tinh thì Cự Mô rất buông thả.:smile 16:

Cự Môn miếu địa ở Mão Dậu, vượng địa ở Tý Ngọ Dần, đắc địa ở Thân và Hợi, hãm ở Thìn Tuất Sửu Mùi, Tỵ. Mặc dù bị xếp hạng là ám tinh nhưng Cự Môn miếu vượng thủ Mệnh là người thông minh và nhân hậu. Cự hãm thì thật sự đúng với biệt danh là ám tinh.

Cự Môn là biểu tượng của cái miệng, của lời ăn tiếng nói…cho nên khi đắc địa thì khéo ăn nói, có tài hùng biện, có khả năng thuyết phục người. Nhưng nếu hãm thì lời nói thiếu suy nghĩ, dễ mất lòng người và dễ bị tai tiếng thị phi, đôi lúc còn đưa đến tai họa cũng vì cái miệng của mình thiếu thận trọng.

Với bản tính bất nhất như đã nói trên, may mắn cho Cự Môn tại hai vị trí miếu địa Mão Dậu, ám tinh này gặp được thiện tinh Thiên Cơ, thuộc nam đẩu tinh, hành Mộc. Và Thiên Cơ cũng góp một phần bản chất vào mẫu người doanh thương Cự Cơ Mão Dậu này. Thiên Cơ miếu ở Thìn Tuất Mão Dậu, vượng ở Tỵ, Thân, đắc ở Tí Ngọ Sửu, hãm ở Dần Hợi. Thiên Cơ là một phúc thiện tinh cho nên dù hãm cũng không hề mất hết thiện tính của mình. Khi đắc địa, Thiên Cơ chỉ sự khéo léo về tay chân, sáng suốt về trí óc, có mưu trí nhưng lại xử sự nhân từ và cởi mở. Nếu ở vị trí miếu vượng thì chủ về phú quý, phúc thọ, và đặc biệt là có năng khiếu về kinh doanh.

Như vậy, hai sao Cự Cơ cùng miếu tại Mão Dậu. Hành của Thủy của Cự Môn càng sinh vượng cho hành Mộc của Thiên Cơ, hơn nữa, cũng tại vị trí này, Thiên Cơ đặc biệt có năng khiếu về kinh doanh, cho nên Cự Môn trở thành kẻ đồng hành rất tốt. Với bản tánh gan dạn, liều lĩnh, Cự Môn đã hổ trợ Thiên Cơ mạnh mẽ trong lãnh vực này.

Người Cự Cơ Mãu Dậu là những người trong thương trường. Nhưng chún ta cần phân biệt lãnh vực hoạt động của đôi bên. Người Tham Vũ Đồng Hành thường hoạt động trong lãnh vực kỹ nghệ chuyên môn… Còn người Cự Cơ Mão Dậu không chuyên về một lãnh vực nào cả, có htể là ngành hàng tiêu dụng, có thể là những sản phẩm về văn học nghệ thuật v.v…Hay nói một cách khác là bản tính uyển chuyển của Cự Môn, cho nên những sao đi kèm với Cự Cơ sẽ quyết định đương số sẽ kinh doanh trong lãnh vực nào.

Ví dụ: Mệnh ở Mão hay Dậu có Cự Cơ với Hổ Tuế Phù, thì đây là những người có năng khiếu về luật pháp, những nhà làm luật, những quan tòa hay những danh sư danh tiếng, và chắc chắn những tổ hợp luật sư sẽ là những lãnh vực kinh doanh của họ.

Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ thêm Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa, Tấu là người có năng khiếu về văn học, nghệ thuật, cho nên khi vào đường kinh doanh thì lãnh vự hoạt động thường là những nhà xuất bản sách, báo chí, nhạc, hay phim…

Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ thêm Tả Hữu, Lộc, Hình, Y, Quang Qúy là người kinh doanh trong các ngành y dược học. Nhỏ thì là phòng mạch, một pharmacy, lớn thì một clinic, một bệnh viện, một viện bào chế dược phẩm…

Nhưng cách Cự Cơ Mão Dậu cũng chỉ mới là giới tiểu thương, nếu muốn kinh doanh với tầm vóc lớn thì phải có thêm Song Hao mmới gọi là đắc cách Chúng Thủy Triều Đông, có nghĩa là tất cả các dòng sông đều chảy về hướng Đông.

Khi nói về cách Song Hao ở Mão Dậu, chúng ta thấy có hai nguyên nhân. Đầu tiên là do địa thế của nước Trung Hoa, tất cả những dòng sông đều chảy về hướng Đông, cho nên cổ thi có câu: “tự cổ nhân sinh thường hận, thủy thường đông” có nghĩa là từ xưa đến nay người đòi ai mà không ôm một mối hận lòng, điều này cũng tự nhiên như dòng sông chảy về hướng Đông.:byebye:

Song Hao thuộc hành Thủy, lại được hành Kim của cung Dậu tương sinh, cho nên nguồn nước sẽ được dối dào bất tận. Trong thiên nhiên, nước là biểu tượng của tiền bạc. Song Hao lại là biểu tượng của số nhiều. Những dòng sông từ Dậu là phương Tây, chảy về Mão là phương Đông, khiến cho hành Mộc của Thiên Cơ được hưng thịnh, và đây mới đúng là tầm vóc của mẫu người kinh doanh Cự Cơ Mão Dậu. Cũng vì thế mà Mệnh an tại Mão tốt hơn ở Dậu, tốt nhất đối với những tuổi Ất, Tân, Kỷ và Bính, những tuổ này sẽ đạt phú quý một cách dễ dàng hơn những tuổi khác. Nếu Mệnh ở Dậu, thì đương số cũng là người kinh doanh mà trở nên giàu có, nhưng càng giàu thì tuổi thọ càng giảm:

“Cự Cơ Dậu, thượng hóa cát dã
Túng hữu tài quan, dã bất chung”

Nhưng Cự Cơ Mão Dậu đắc cách "Chúng Thủy Triều Đông" thì lại có người cho rằng Cự Cơ đã gặp Song Hao thì chớ nên có Hóa Lộc mà bị phá cách. Lý do quan điểm này cho rằng Hóa Lộc hành Thổ, khắc với hành thủy của Song Hao khiến cho Thiên Cơ thiếu nước. Lý luận này xét ra không được ổn vì cũng có nhiều sao khác thuộc hành Thổ như Lộc Tồn, tại sao chỉ áp dụng cho Hóa Lộc mà thôi? “Song Hao Mão Dậu ái ngộ Cự Cơ, tối hiềm Hóa Lộc”

Thật ra Song Hao ở Mão Dậu kỵ với Hóa Lộc không phải nguyên nhân chính là do sự sinh khắc của ngũ hành mà là do ý nghĩa của Song Hao mà ra.

Hao là hao tốn, tiêu hao. Với ý nghĩa đó cho nên Hóa Lộc, Lộc Tồn không nên gặp Hao, nếu gặp thì khác nào mang tiền thả trôi theo dòng nước. Tóm lại, Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ + Song Hao + Hóa Lộc hay Lộc Tồn thì đương số cũng là ra tiền một cách dễ dàng, nhưng tiền vào tay mặt thì ra tay trái.:smile 5:

Đói với nữ phái, Mệnh ở Mão Dậu có Cự Cơ là người đàn bà có tay làm ăn buôn bán, trên thương trường đương số không thua gì những đấng mày râu. Tuy nhiên, một Thiên Cơ hiền lành không thể trói buộc nổi Cự Môn với bản tánh liều lĩng, phóng khoáng. Cự Môn dù miếu vượng cũng có điều bất lợi cho phái nữ bởi vì Cự Môn là cái miệng, là lời ăn tiếng nói, là khẩu thiệt thị phi, khắc khẩu, vợ chồng xa nhau thì thương nhớ, gần nhau thì cải vã suốt ngày…Cho nên đàn bà có Cự Môn thủ Mệnh hay Thân thì bên ngoài giỏi, tháo vát nhưng bên trong gia đạo thường vẫn có điều không ổn, ít nhiều hạnh phúc gia đình bị những đám mây đen của Cự Môn lãng vãng đâu đó. Đó chính là nguyên nhân khiến cho Cự Môn phải mang danh là ám tinh.

Nhưng nếu dùng lăng kính của Freud mà chiếu rọi cho tận cùng, thì một phần chính cũng vì đàn bà Cự Cơ Mão Dậu có khá nhiều tham vọng và khuynh hướng tình dục rất mạnh mẽ. Với bản chất đặc biệt đó chúng ta thấy có hai mẫu người đàn bà Cự Cơ Mão Dậu::smile 27:

1. Họ có thể che dấu hay dồn nén khuynh hướng tình dục của mình thành những tham vọng trên lãnh vực làm ăn kinh doanh của họ, và đây chính là con dường mà Freud gọi là “tình dục thăng hoa thành tài năng”

Trong những trường hợp tương tự như thế, chúng ta mới thấy quan điển của Freud đã được khoa Tử Vi chứng nghiệm. Thật vậy, khi xét đến những là số của những vị chân tu chúng ta đều thấy hầu hết những lá số này đều có bóng dáng của Đào Hồng hay những dâm tinh khác. Điều này không có gì nghịch lý, kẻ chân tu vốn cũng đầy đủ thất tình lục dục như mọi người, có khi còn mạnh hơn, nhưng cái hay là họ đẩy tất cả những thất tình lục dục đó vào một chữ “không” biến tình dục thành tài năng, và được như vậy họ mới quán triệt được hữ “đạo”, rồi mới hiểu được chữ “ngộ” là gì.

2. Là người có cuộc sống buông thả, phóng khoáng. Họ dùng những thành qủa, giai cấp mà họ đạt được trong xã hội đễ biện minh cho quan niệm sống của họ. Và trên thương trường, đây cũng là người đàn bà không thua sút ai, mà cả trong cuộc chơi, họ cũng là người dám bỏ ngàn vàng để mua lấy trận cười làm vui…Đó chính là mẫu người đàn bà mà chúng ta thường gọi là “đàn bà dễ có mấy ai”

manutd
03-22-2007, 05:24 PM
Khi phác họa về mẫu người Nhật Nguyệt Đồng Lâm, chúng ta đã nêu rõ những đặc tính của sao Thái Dương trong một vài vị trí đặc biệt. Ở đây, chúng ta chỉ nhắc lại những đặc tính của Thái Dương trong những vị trí tốt đẹp trước khi nói đến Thái Dương sẽ như thế nào ở vào các vị trí hãm địa.

Thái Dương thuộc Nam Đẩu tinh, hành Hỏa, miếu ở hai cung Tỵ Ngọ, tức là mặt trời lúc giữa trưavà vượng địa ở hai cung Dần Mão, là lúc mặt trời lúc bình minh. Ở 4 vị trí này, TD chủ sự thông minh, lòng nhân đức, tài lộc và uy quyền. TD hợp với những người Dương Nam, Dương Nữ và những người sinh vào ban ngày. Ngoài những vị trí miếu vượng vừa nêu trên, hai cung Sửu Mùi cũng là hai vị trí đắc địa của Thái Dương, mặc dừ đó là thời gian đã là giao điểm giữa đêm và ngày. :smile 28:

Như vậy sáu cung còn lại từ cung Thân đến cung Tí là những vị trí hãm địa của TD, là thời điểm của bóng đêm, mặt trời không ánh sáng. Trong sáu cung hãm địa này, TD có hai vị trí khá đặc biệt là cung Tí và Hợi, khoa Tử Vi gọi là cách Nhật Trầm Thủy Bể (NTTB), nghĩa là mặt trời chìm xuống đáy nước. Tuy vậy, nhưng ít nhiều mặt trời vẫn còn giữ được ánh quang huy, vẫn còn giá trị của một vầng Thái Dương.

Người có Thái Dương thủ Mệnh tại hai cung Tí Hợi là người hiền lương rộng lượng, có lòng nhân từ với mọi người nhưng đôi lúc tính tình cũng hơi cố chấp, có lẽ vì lúc nào cũng đối xử tốt đẹp với mọi người, cho nên nghĩ rằng người khác cũng sẽ đối xử với mình như vậy. Là người thông minh, tuy nhiên không được bền chí, làm việc gì cũng muốn nhanh chóng, gặp trở ngại thì dễ dàng nản lòng, bỏ cuộc. tính khí thanh cao, thích sự tao nhã, thích cuộc sống an nhàn, đặc biệt là có năng khiếu về thẩm mỹ, văn chương và nghệ thuật.

Mẫu người Nhật Trầm Thủy Bể từ nhỏ đã có nhiều bệnh tật. Đáng kể nhất là những bệnh về mắt, bệnh về máu huyết như áp huyết cao, thần kinh dễ bị suy yếu, hay bị chứng đau đầu kinh niên. Nếu muốn qua khỏi bệnh tật này, lúc trẻ phải sống xa gia đình hoặc xa quê hương càng tốt. Được như vậy thì sức khỏa sẽ ngày một khá hơn và tuổi thọ cũng kéo dài hơn. Tuy nhiên vẫn phải thận trọng với đôi mắt của mình, nếu trong người hay tay chân không bị khuyết tật gì bẩm sinh, và nếu có thêm nhưng sao như Kình Đà, Thiên Hình, Kiếp Sát thì mắt có thể bị vật nhọn đâm vào hay phải chịu sự mổ xẻ.

Nói về đường công danh sự nghiệp thì mẫu người NTTB là những người có khả năng thiên phú, nổi bật nhất là trong lãnh vực văn học, nghệ thuật. Nhưng oái oăm thay, tài năng của họ cũng như mặt trời chìm sâu đáy nước cho nên hầu hết, họ là những ngưới bất đắc chí. Trong cuộc sống, trong công việc, hoặc trong những môi trường sinh hoạt hằng ngày họ thường gặp phải những hoàn cảnh khiến cho họ không thể thi thố hết tài năng của mình được. Đây cũng là trường hợp những người mang khả năng tâm huyết đạt thành qủa, nhưng thành qủa đó lại do người khác hưởng chứ người đời không biết đến mình. Chẳng hạn như những người chuyên dự thảo chương trình, kế hoạch, tham mưu, cố vấn, các chuyên viên, các khoa học gia âm thầm làm việc trong những phòng thí nghiệm… :smile 27:

NTTB dù nam hay nữ cũng là những người khéo tay và có khiếu về thẩm mỹ. Họ xuất sắc trong những lãnh vực như nấu ăn, trang điểm, thêu thùa, trang trí nhà cửa… Nếu có thêm những sao về văn học như Thái Âm, Xương Khúc, Khôi Việt, Đào Hồng Hỷ… hợp chiếu thì họ là những nghệ sĩ có thực tài nhưng vì hoàn cảnh mà tài năng phải bị mai một, hoặc là tác phẩm của họ chỉ được người đời biết đến khi họ đã khuất. Và những trường hợp mà chúng ta vẫn thường thấy là đôi lúc tên tuổi của một ca sĩ, một diễn viên trên sân khấu, màn ảnh… lại được nhiều người biết đến và hâm mộ hơn là những nhạc sĩ, người soạn tuồng, đạo diễn. Cũng như những tác phẩm nổi tiếng, những hồi ký của một chính khách, một nhân vật nào đó, thường vẫn do một người khác viết dùm (người Mỹ gọi là Ghost Writer) Đó là ý nghĩa của mặt trời chìm đáy nước.

Riêng với nữ mệnh, Thái Dương ở Tị Hợi là người có nhan sắc nhưng nét mặt lúc nào cũng phảng phất một nét buồn bởi có câu “Nhật lạc nhàn cung, sắc thiểu xuân dung.” Tính tình đa sầu đa cảm, tâm địa hiền thục thanh cao và có thể nói bốn chữ công dung ngôn hạnh đều hội đủ. Họ thường hợp và sống gần với cha hơn mẹ, nhưng cũng vì Thái Dương hãm, cho nên khi lập gia đình thì lại khắc chồng, chuyên tình duyên buồn nhiều hơn vui.

Nói chung, Thái Dương dù hãm nhưng nếu không gặp những hung tinh hay ám tinh thì cuộc đời cũng đủ ăn đủ mặc. Nếu may mắn được những sao tốt đi kèm, hoặc được Tuần Triệt án ngữ thì hậu vận cũng có một cuộc sống an nhàn sung sướng. Người Thái Dương hãm địa thủ mệnh thiếu thời thường gặp những nghịch cảnh để rồi lúc nào cũng phải phấn đấu, chỉ khi về già thì cuộc sống mới có phần toại nguyện. :97:

Nhưng đặc biệt với những người tuổi Bính và tuổi Đinh thì lại rất hợp với Thái Dương tại cung Tí, cuộc đời vẫn được giàu sang phú qúy: “Thái Dương cư tí, Bính Đinh phú qúy trung lương.” Với các tuổi khác, tuy là có tài năng, nhưng suốt đời chỉ gặp toàn là những cảnh bất đắc chí, cũng giống như nhà thơ Tú Xương hay Bao Bá Quát mà thôi.

manutd
03-22-2007, 05:27 PM
Con người từ khi bước chân vào đời ai cũng hăm hở, lạc quan và đầy lòng tự tin. Ở vào cái tuổi mà người ta gọi là “Tam Thập Nhị Lập” ít có ai nghĩ đến hai chữ “số mệnh”. Nhưng dần dần khi đã va chạm với cuộc sống, trãi qua một vài lần thất bại đổ vỡ… thì lúc đó mới bắt đầu thấm mệt mới bắt đầu hiể ý của Nguyễn Du, “có tài mà cậy chi tài” hoặc có phần khắc khe và hoàn toàn ràng buộc vào cái ý niệm “thiên mệnh” là “bởi số, chạy đâu cho khỏi số ?”.:smile 11:

Tin hay không tin, tin ít hay nhiều, mức đổ tin tưởng sẽ tỷ lệ theo tuổi đời, và có thể tin sớm hay tin muộn vào hai chữ ‘số mệnh” thì cũng còn tùy thuộc đường đời của mỗi người, là con đường đầy hoa lá hay sỏi đá chông gai? Và người Á Đông của chúng ta cho rằng, vào khoảng lứa tuổi 40, có thể gọi là khoảng đời mà con người đã “tận nhân lực” cho nên có thể bắt đầu “tri thiên mệnh”

Như vậy biết số đễ làm gì? Và biết số rồi có cãi được hay không?:smile 50:

Vấn đề đầu tiên, biết số để làm gì, biết số có lợi ích gì không, là những điều có thể có câu trả lời tương đối dễ dàng. Có người nói rằng:
- Tôi không bao giờ xem Tử Vi, biết rồi thêm buồn thêm lo mà thôi.

Khi nói như vậy, họ đã hàm ý tin rằng mỗi người đều có số mệnh, và ít nhiều họ đã thấy hay cảm thấy được cuộc đời của họ không có gì lạc quan lắm, cho nên chấp nhận một cuộc sống “đến đâu hay đến đó” biết trước chỉ thêm lo nghĩ mà không làm được gì để thay đổi.

Nhóm người này rất ít và mang cái tâm trạng của loài đà điểu, sợ thì chiu đầu xuống đất cát, còn hầu hết đều muốn biết số của mình như thế nào. Và những người này lại có hai quan niệm, một thụ động và một chủ động. Những người thụ động là khi biết số của mình rồi thì thôi, phó mặc cho số như “thuyền đời mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu” ngược lại, những người có quan niệm chủ động thì họ tin vào số, dựa vào số, nương theo số đễ tránh hết những trở ngại mà họ đã biết trước. Đây chưa phải là một hình thức cãi số mà chúng ta sẽ đề cập đến.

Có thể nói đây là một hình thức tiêu cực của sự cãi số, biết số và làm đúng với số cũng là một cách giúp chúng ta tránh được phần nào trở ngại, có thể là những trở ngại nhỏ nhặc, nhưng cũng có thể là những nguyên nhân đưa đến những sự thất bại to lớn. Ví dụ, người Mệnh Vô Chính Diệu, nếu biết số của người VCD là không nên đứng mũi chịu sào, có nhgĩa là nếu trong quân đội thì không nên giữ chúc vị trưởng, dù lớn hay nhỏ, hoặc bên hành chánh thì không nên giữ những chức vụ như trưởng phòng, giám đốc v.v… hoặc trong lãnh vực làm ăn kinh doanh thì không nên là người ra mặt điều hành. Một ví dụ khác, người làm ăn mua bán nếu biết hạn của mình năm nay không tốt thì họ chỉ giữ cơ sở của họ như cũ chứ không bỏ công bỏ của đễ khuyếch trương phát triển rồi chuốt lấy sự thất bạo lỗ lã.

Còn ngược lại, nếu biết là hạn tốt, họ sẽ mạnh dạnh mạo hiểm hơn mà vẫn gặt hái được những thành qủa như ý. Và trên khía cạnh tiêu cực, nếu mình biết trước số mình nghèo, tình duyên mình lận lận, con cái mình sẽ hy hỏng, về già mình sẽ cô đơn lẽ bóng…thì ít ra mình đã biết, đã ít nhiều có sự chuẩn bị về tâm lý. Khi sự việc xảy đến, những ảnh hưởng về tinh thần sẽ có phần hẹ nhàng, có thể chịu đựng được và có thể vượt qua dễ dàng hơn là trường hợp bất ngờ.

Đi xa hơn, bậc làm cha mẹ nếu biết được số mệnh là một điều rất hữu ích trong vấn đề giúp đở con cái của mình. Mặc dù chúng ta vẫn nói, không ai hiểu con cái bằng cha mẹ, nhưng thật ra sự hiểu biết của cha mẹ về con cái rất hạn hẹp. Ngoài tính tình và những sở thích hiện tại, có nghĩa l2 đang trong lức tuối đó của mỗi đứa con, thì cha mẹ không thể nào nhìn thấy được những biến chuyển và những thay đổi trong tương lai của mỗi đứa con của mình. Nhưng khoa Tử Vi có thể nhìn thấy được những điều đó và giúp cho cha mẹ hiểu rõ năng khiếu, sở trường, sở đoán của mỗi đứa con đễ hướng dẫn con cái chọn ngành mà học, chọn nghề mà làm. Nói chung, nếu cha mẹ có thể nhìn thấy trước cuộc đời của con mình, sung sướng hay cực khổ, may mắn hay gian truân, tình cảm được hạnh phúc hay lận đận, thì ít ra cha mẹ cũng có sự bù đắp trước về mặt tâm lý giúp cho con cái khỏi bị ngỡ ngàng và thất vọng khi phải đố diện với nghịch cảnh của đời mình.:smile 33:

Trên một phương diện khác, biết số là một yếu tố hữu ích cho thuật dùng người. Ba chữ “thuật dùng người” không hẳn mình phải là một cáp lãnh đạo, chỉ huy… nhưng trong vấn đề hợp tác làm ăn với nhau, biết rõ người hợp tác với mình cũng là một điều quan trọng. Hoặc trong vấn đề giao thiệp của cuộc sống hằng ngày, biết số giúp mình biết người và khỏi lầm người thì cũng tránh được sự ân hận về sau.

Những điều vừa nêu trên đề cập vấn đề chúng ta biết số và thuận theo số, như vậy biết số rồi, chúng ta có cãi số được hay không?

Đối nghịch lại với quan niệm “thiên mệnh” là quan niên “nhân định thắng thiên” Nhân sinh quan này phản ảnh phần nào khả năng tự tôn của con người, sự phấn đấu là tự tin của những tâm hồn lạc quan. Trong những bô môn Khoa Học Huyền Bí thì môn Phong Thủy, Tướng Mệnh, và Tử Vi Đẩu Số đều đề cập đến phần nhân định, có nghĩa là con người có phần nào chủ động trong số mệnh của họ, chỉ khác nhau ở chổ mức độ mà con người có thể cùng tạo hoá dự phần vào sự thay đổi số phận của mình.:29[1]:

Nói như vậy là chúng ta đã sớm có câu trả lời, con người có thể cãi số được nhưng rất hạn hẹp và chỉ ở một mức độ nào đó thôi chứ không thể nào thay đổi, lật ngược lại cả 180 độ. Trong những môn vừa nêu trên thì khoa Phong Thủy có thể sửa đổi một cách dễ dàng nhất vì đối tượng của Phong Thủy là nhà ở, cơ sở thương mại hay mộ phần. Về khoa Tướng Mệnh, sự sửa đổi không thể nhờ vào khoa thẩm mỹ mà chỉ đặt trên yếu tố cái tâm của con người, “tướng tùy tâm sinh” Và khoa Tử Vi mà chúng ta đề cập ở đây chỉ dẫn cho chúng ta những trường hợp và phương cách cãi số nhưng xét ra cũng rất hạn chế và kết qủa của cuộc cãi số này vẫn còn ràng buộc chặc chẻ vào những yếu tố quan trọng mà con người khó lòng kiểm chứng được, đó là phúc đức của mỗi người. Khi nói phúc đức của mỗi người chúng ta đã hiểu rằng phúc đức tạo được do chính bản thân mình tạo ra và phúc đức mà mình thừa hưởng được từ cha mẹ, ông bà hay nói chung là của giòng họ.

Như vậy, chúng ta đã nói biết số và thuận theo số cũng là một hình thức cãi số nhưng tiêu cực. Còn những cách cãi số tích cực hơn nhưng cũng rất hạn hẹp, ví dụ, một vài trường hợp thấy trong cách sách Tử Vi như nếu một đứa con nào đó có số khắc với cha mẹ thì đúa con ấy sẽ bị đau ốm, bệnh tật hoặc làcó thể từ khi sinh ra đứa con này, cha mẹ của nó thường hay gặp những chuyện không may như mất việc, làm ăn thua lỗ v.v…Trong trường hợp này, cách hóa giải là cho đứa con ở với ông bà nội/ngoại, hay chú bác cô dì…

Cách hóa giải của khoa Tử Vi thoạt nghe thì có vẽ dễ dàng nhưng thực tế thì đây là một vấn đề rất tế nhị. Có cha mẹ nào sinh con ra mà không muốn chính tay mình nuôi con. ở đây chư nói đến sự ảnh hưởng sâu xa về tâm lý sau này của đứa bé. Tuy vậy, nếu làm được thì đổi lại sự bình yên cho cả hai bên, cha mẹ và con cái.

Một ví dụ khác như đối với những người con gái mà khoa Tử Vi gọi là “cao số” hoặc có số hình khắc với chồng con, nặng nề hơn là số sát phu thì những lời khuyên thông thường là không nên cử hành đám cưới hỏi linh đình, mà càng nên đơn giản, càng lặng lẽ âm thầm càng tốt. Tùy theo mức độ khắc sát nặng nhẹ, hoặc lễ cưới không đốt đèn long phụng, không rướt dâu, hặc có thể ở mức độ là cô dâu lặng lẽ xách vali về nhà chồng, hay một hình thức khác mà chúng ta thường nghe nói là cưới chạy tang. Cưới chạy tang là trường hợp đôi bên chưa có ý định làm đám cưới, nhưng nếu trong gia đình hai bên có tang, thì đây cũng là một cơ hội hóa giải sự khắc sát nặng nề, những giọt nước mắt ngày sau khóc chồng thì nay đã đổ xuống cho tang sự.

Như vậy, đối với khoa Tử Vi, chúng ta có thể cãi số, nhưng chỉ ở một mức độ nào đó và cũng giới hạn trong một vài lãnh vực. Việc cãi số đối với khoa Tử Vi vẫn đặc căn bản trên quan niệm phúc đúc là chính yếu, đức năng thắng số. Cái yếu tố phúc đức này có được hay không là tùy ở cái tâm, cái tánh và hành động của mỗi cá nhân. Ví dụ như một giai đoạn về đức năng thắng số là một cậu bé được ông thầy coi số và nói với cha mẹ cậu ta sẽ không sống qúa tuổi 17. Một ngày tình cờ đi qua con suối, cậu bé thấy tổ kiến có hàng ngàn con kiến đang bị cuốn trôi theo dòng nước. Cậu bé can đảm lội xuống suối để cứu tổ kiến. Và cha mẹ đã ngạc nhiên khi thấy cậu vẫn sống qua tuổi 17.

Còn thời Tam Quốc phân tranh, Khổng Minh Gia Cát Lượng, trên thông thiên văn, dưới rành địa lý, làm phép cầm sao bổn mạng của mình để sống thêm vài năm nữa mà thất bại. Người xưa đã nói: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” Gia Cát Lượng vì phò tá nhà Hán mà đã ra tay đốt chết 10 vạn quân đằng giáp của Mạnh Hoạch trong cốt Hồ Lô, rồi đốt luôn 80 vạn quân Tào trên sông Xích Bích thì như vậy phúc đức còn đâu mà toan cãi số?

Tóm lại, những phương pháp cãi số của khoa Tử Vi vừa giới hạn, vừa khó thực hiện. Một cách được xem là căn bản và áp dụng tổng quát là quan niệm “đức năng thắng số”.:smile 11:

Nhưng hai chữ phúc đức vừa khó đo lường, vừa có vẽ mơ hồ khiến cho con người đâm ra nghi ngờ và đưa đến những ý nghĩ có vẽ đùa giỡn nhưng cũng phần ào hàm ý sự hoài nghi như có câu “ người ngay thường mắc nạn, kẻ ác lại sống lâu.” Và nếu đem cái triết lý qủa báo của nhà Phật thì lại đi vào một nghi vấn khác: đâu phải lúc nào cũng thấy “qủa báo nhãn tiền” Nếu không “nhãn tiền” thì đến bao giờ? Đi xa qúa sẽ làm lung lay niềm tin của con người.:smile 33:

manutd
03-22-2007, 05:29 PM
Đến đây là kết thúc cuốn sách "Cuộc đời và số mệnh" của số gia Nguyễn Phúc Vĩnh Tung. Manutd xin cảm ơn tác giả về những đóng góp cho Tử vi, cho việc hướng Thiện, vì một thế giới tốt đẹp hơn.

manutd
03-22-2007, 05:32 PM
Muốn lập thành một lá số Tử Vi cần phải hội đủ 4 yếu tố là Năm-Tháng-Ngày-Giờ sinh theo Âm Lịch. Cách lập thành lá số Tử Vi nói chung có nguyên tắc chỉ dẩn khá rỏ ràng, nhưng về phương cách giải đoán thì còn phải tùy theo trình độ, cơ duyên và kinh nghiệm...của người giải đoán mà sẽ có những lời giải đoán khác nhau.

Để giải đoán được Tử Vi giỏi, đại khái cần phải có 4 điều kiện sau:

Trí nhớ - Tử Vi là một khoa lý số cổ học rất phức tạp nên rất cần có trí nhớ tốt để thuộc các nguyên lý của Âm dương, Ngũ hành, Can Chi và ý nghĩa tính chất của các Sao.

Suy luận - Phải suy luận để phân tích, phối hợp, chế hóa sự sinh khắc của âm dương ngũ hành và xấu tốt của các sao đóng tại mỗi cung số.

Trực giác - Cần phải có trực giác bén nhạy để giúp ích cho những sự suy luận.

Kinh nghiệm - Phải thực hành cho nhiều, đối chiếu phần thực nghiệm với lý thuyết để suy luận ra những lời giải đoán cho súc tích, phong phú và chính xác.

Để giúp các bạn mới bắt đầu tự nghiên cứu Tử Vi được dễ dàng, dễ hiểu và có kết quả, chúng tôi mạo muội xin đưa ra những phương pháp, hướng dẫn cụ thể để các bạn theo thứ tự học hỏi hầu có thể tự giải đoán được lá số của mình.

Vào một trong các trang Web Tử Vi Đẩu Số - VietShare An Sao - Tinh Vân Horoscope hay Kinh Dịch - Tử Vi để lấy và in ra lá số. Mỗi khi điền vào các ô ngày-tháng-năm sinh theo dương lịch, chương trình lấy lá số Tử Vi sẽ tự động chuyển đổi ngày tháng và năm sang âm lịch mà không phải nhờ đến software chuyển đổi hay tra cứu Vạn Niên Lịch.

Xem giải thích cách trình bày và hiểu ý nghĩa của lá số.

Những Nguyên Tắc Căn Bản phải nhớ

Những nguyên tắc căn bản về Âm Dương / Can Chi và Ngũ hành sinh khắc .

Những quy tắc phối chiếu của Tam hợp - Nhị hợp - Xung chiếu giữa các cung trong lá số Tử Vi.

Những Tiến Trình Luận Đoán Số phải theo

Xét sự thuận nghịch về lý âm dương giữa Năm sinh với vị trí cung an Mệnh để biết tổng quát tốt xấu của cung cần giải đoán.

Xét sự sinh khắc ngũ hành của Can Chi Năm sinh

Xét sự tương quan ngũ hành giữa bản Mệnh và Cục

Xem phối hợp hai cung tam hợp với cung an Mệnh-Thân

Xem phối hợp cung nhị hợp với cung an Mệnh-Thân

Xem phối hợp cung xung chiếu với cung an Mệnh-Thân

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Thái Tuế trên lá số

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Lộc Tồn trên lá số

Xem vị trí của tam hợp hai cung Mệnh/Thân và vòng Tràng Sinh trên lá số

Phải xét qua tất cả các yếu tố trên rồi phối hợp lại để đưa ra lời lý giải tổng quát về những nét đại cương của cuộc đời cho lá số.

Những Đặc Tính của các Sao phải hiểu

Xem tổng hợp bộ cách của Chính tinh và các trung tinh tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức để biết tổng quát lá số của mình được các cách gì.

Xem ý nghĩa và đặc tính của Chính tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung Mệnh và Thân.

Xem ý nghĩa và đặc tính của các Trung tinh và Phụ tinh tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp của cung Mệnh-Thân.

Xét ý nghĩa, đặc tính, vị trí và sự đắc hãm của các Hung Sát tinh trên lá số.

Xem ảnh hưởng của các Hung Sát Bại tinh (nếu có) tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại các cung quan trọng như tại ba cung Mệnh-Tài-Quan, cung an Thân và cung Phúc Đức.

Xét tới giá trị và ảnh hưởng biến đổi của các sao theo thời gian của mệnh số.

Xem sự liên đới của các sao với nhau, nếu các sao này kết hợp thành cách cục hay bộ cách thì sẽ có tác dụng mạnh mẽ hơn là đóng đơn lẽ hay lạc lỏng.

Nếu muốn xem cung nào thì phải phối hợp ý nghĩa, đặc tính và đặc điểm của các sao tọa thủ, hợp chiếu và nhị hợp tại cung đó, quân bình số lượng các sao rồi đúc kết các yếu tố lại để đưa ra lời lý giải kết luận về cung muốn xem.

Phải tập xem phần giải đoán qua các lá số mẫu để biết cách lý giải lá số. Phần này có thể xem qua các bài sưu tập về "Vấn đáp Tử Vi" trong trang lysodongphuong.com của Tướng số gia Thiên Đức để rút tỉa kinh nghiệm về cách thức giải đoán lá số. Mỗi câu vấn đáp nói trên đều có phần lược giải về Tử Vi cho người đặt ra câu hỏi.

Hiện tại phần "Tính lý các sao" của trang Lý Số Đông Phương chưa được hoàn thành đầy đủ, nên các bạn có thể qua trang Web của Vietshare , sau khi lấy xong lá số thì nhấn nút chuột trên tên của mỗi sao tại cung nào muốn xem thì sẽ có ngay lời giải tóm tắt về đặc tính của sao đó ngay trên màn ảnh.

Những cung cần phải xem
Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến bản thân mình là Quan lộc - Tài bạch - Tật ách - Thiên di - Điền trạch - Nô bộc.

Cùng một cách xem cho cung Mệnh-Thân và Phúc Đức, xét và luận đoán các cung liên hệ đến lục thân như Phối ngẫu - Tử tức - Phụ mẫu - Huynh đệ

Những Vận Hạn Trong Cuộc Đời phải biết
Cách Giải Đoán Vận Hạn
Xem các Đại vận 10 năm của lá số
Xem Tiểu vận từng năm

manutd
05-03-2007, 08:28 AM
Tính Nguyệt vận: tháng 1cung Dần, tháng 2 cung Mão… (tốt xấu của tháng là hàng can của tên tháng sinh so với hàng can của tuổi).

Giải đóan và can chi năm sinh: (không có nghĩa sang hèn)
- Tốt 1: Can sinh Chi: có thực lực, đời thành công dễ dàng.
- Tốt 2: Chi hòa can: có thực lực, đời thành công do thực lực mình.
- Tốt 3: Chi sinh can: thành công do may mắn, không do thực lực.
- Xấu vừa: can khắc chi: đời có những trở lực.
- Xấu: chi khắc can: hay gặp nghịch cảnh, mộng khó thành.:smile 20:

Giải đóan theo hành của can chi tháng thainguyên +năm sinh + tháng sinh + ngày sinh + giờ sinh:
- 5 yếu tố cùng âm/dương: đời yên ổn không tai họa.
- Nếu sinh lần lượt từ trên xuống (thai nguyên sinh năm sinh…): đời êm ả không trắc trở.
- Nếu khắc lần lượt từ trên xuống: đời nhiều phen gián đọan.
- Nếu khắc ngược từ dưới lên: đời nhiều trái ý.
- Nếu đủ ngũ hành mà sinh khắc lung tung: đời lên xuống truân chuyên.
- Hành nào chiếm đa số thì ý nghĩa thuộc về hành đó.
2 năm sinh cùng can thì chi nào thuộc dương: chủ về hiều biết chiều rộng, thuộc âm: chủ về hiểu biết chiều sâu. (chi dương: mão~ thân, chi âm: dậu~dần)

Giờ sinh âm dương: (có tính tham khảo)
- Năm dương, giờ dương, mạng cung dương: trưởng nam.
- Năm âm, giờ dương, mạng cung dương hay âm: trưởng nam.
- Năm âm, giờ âm, mạng cung âm, tam hợp mạng sinh tam hợp bào: đọat trưởng.
- Năm âm, giờ âm, mạng cung âm: trưởng nữ.
- Năm âm, giờ âm hay dương, mạng cung dương: thứ nữ.
- Năm dương, giờ âm, mạng cung âm: trưởng nữ hay đọat trưởng nữ.:smile 32:

Nhị hợp mạng:
- Mạng được sinh nhập do nhị hợp: kỷ lưởng, cẩn thận, có trật tự kỷ luật, ít đãi đằng.
- Mạng sinh xuất do nhị hợp: ngược lại.
Mạng ở Tứ Sinh, Tứ Chính, hay Tứ Mộ:
- ở Tứ Sinh: có lòng tự hào, khoe khoang, có sức khỏe dù thường có tầm vóc nhỏ.
- ở Tứ Chính: cương nghị, khảng khái, tinh thần cứng rắn, đầy đủ sức khỏe.
- ở Tứ Mộ: mềm dẻo, tính nhu hòa, ít sức khỏe, hay bệnh.
Vòng Thái Tuế:
- Tam hợp Thái Tuế: có lý tưởng, có tư cách, dễ thành đạt, được mến trọng.
- Tam hợp Thiếu Dương: sáng suốt , ưa cạnh tranh nhưng vẫn không được gì.
- Tam hợp Tuế Phá: gặp khó khăn trong cuộc đời, làm không đúng sở nguyện.
- Tam hợp Thiếu âm: làm công nhưng không được hưởng lợi, chỉ hưởng phúc.
Vòng Lộc Tồn:
- Tam hợp Lộc tồn: quang minh, nhân hậu, hiên ngang.
- Tam hợp Lực Sĩ: gắng sức cũng chẳng được gì.
- Tam hợp Thanh Long: gặp may, làm việc mau chóng nhưng không bền.
- Tam hợp Tiểu hao: Lầm lì ra vẻ hào phóng, nhưng chỉ là ngòai đuốc, trong đom đóm.
Vòng Trường Sinh:
- Tam hợp Trường Sinh: Khi sống đàng hòang, lúc chết được yên, không ai chửi.
- Tam hợp Mộc Dục: ham sống, ăn xổi ở thì, lúc chết không ai nhắc nhở.
- Tam hợp Quan đới: Đời là giấc hòang lương, lên cao đấy, rồi bệnh đấy. Trải mọi cảnh ngộ, thịnh suy luân kiếp.
- Tam hợp Lâm quan: Đời thăng trầm nhưng vẫn giữ phong cách, “giấy rách vẫn giữ lề”.

Đóan Đại vận:
- Thiên Thời: so sánh hành tam hợp tuổi và hành tam hợp đại vận.
- Địa lợi: so sánh hành mạng và hành đại vận.
- Nhân hòa: ảnh hưởng xấu tốt của các sao. Thường là những chi tiết hòa nhập với thiên thời.
Thiên Thời: (ảnh hưởng 60%)
- Tốt 1: tam hợp đại vận (THĐV) cùng hành tam hợp tuổi (THT) : đại vận tốt nhứt.
- Tốt 2: THT khắc THĐV: mình phấn đấu thắng nghịch cảnh.
- Xấu nhẹ: THT sinh THĐV: gặp khó khăn, thành ít bại nhiều.
- Xấu vừa: THĐV sinh THT: thành bại đều có, càng thành thì càng xấu.
- Xấu nặng: THĐV khắc THT: thất bại nặng.
Địa lợi: (ảnh hưởng 30%)
- Tốt nhứt: cung đại vận sinh cho mạng.
- Tốt nhì: cung đại vận đồng hành với mạng.
- Tốt 3: mạng khắc cung đại vận.
- Xấu: mạng sinh cung đại vận.
- Xấu nhứt: cung đại vận khắc mạng.
Nếu yếu tố Thiên, Nhân không có mà còn yếu tố Địa lợi thì hy vọng gỡ được.:smile 31:

Đóan tiểu vận (niên vận):
1-Xem can của niên vận so với can của tuổi:
- Can năm vận sinh can tuổi: tốt nhứt.
- Can tuổi khắc năm vận: tốt nhì.
- Can tuổi hòa can vận: bình hòa.
- Can tuổi sinh can năm vận: xấu.
- Can năm vận khác can tuổi: xấu nhứt.
(2 can cùng âm hay cùng dương thì ảnh hưởng tốt/xấu mạnh hơn)
2-Hành cung niên vận so với hành mạng: (dùng để vớt vát khi yếu tố trên xấu)
- Hành cung tiểu vận sinh cho hành mạng: tốt nhứt.
- Hành cung tiểu vận bị hành mạng khắc: tốt nhì.
- 2 hành hòa nhau: bình hòa.
- Hành mạng sinh hành cung tiểu vận: xấu.
- Hành cung tiểu vận khắc hành mạng: xấu nhứt.
- Phải là đại vận xấu/tốt, năm xấu/tốt (về hàng can) : cái xấu/tốt mới xảy ra ở tiểu vận.
- Đại vận tốt/xấu rõ ràng thì việc tốt/xấu xảy ra cách biệt nhau.
- Tam hợp của nhị hợp sinh cho tam hợp tiểu vận thì cho tiểu vận các sao ở cung nhị hợp (cũng dùng ng.tắc này cho nguyệt vận).
- Tam hợp cung xung chiếu khắc tam hợp cung tiểu vận thì gán cho tiều vận các sao xấu. Tam hợp cung tiều vận khắc tam hợp cung xung chiếu thì đọat lấy các các sao tốt.

Đóan nguyệt vận:
- Đang ở tháng nào lấy can tháng đó so với can năm sinh là thấy tốt hay xấu (đúng 60%)
- Xem các sao trong cung Nguyệt vận để biết chi tiết 40% còn lại.
- Năm vận dương/âm, thì sự việc tốt xấu (tùy theo năm tốt xấu) thường xảy ra vào tháng dương/âm.
- Chờ tháng 1 sự kiện xấu sẵn có, thì tháng mà hành can khắc được hành năm vận, nếu năm vận xấu.
Trường hợp đại/niên vận có sự tốt/xấu rõ ràng, chỉ cần xem tháng đó tốt/xấu trong đại cương thì biết việc sẽ xảy ra.

Đóan nhật vận:
- Lấy hành can ngày so với hành can năm sinh (như các nguyên tắc ở trên).
(kề từ tháng tính là mùng 1 tính tới, thí dụ: tháng tỵ, từ cung tỵ là mùng 1, cung ngọ là mùng 2…)
Đóan thời vận:
- Lấy hành can giờ so với hành can năm sinh (như các nguyên tắc ở trên).:smile 20:

manutd
05-06-2007, 08:21 AM
Thấy cutkit thắc mắc từ lâu về vòng này, ngoài 3 vòng Tuế Lộc Sinh đã biết, manutd post lên đây ít tư liệu tham khảo:

Vòng Tướng Tinh, một trong 4 bộ tạo thành bộ tứ tượng tử vi?

... Một số sao như đã nói ở trên mà nằm ở Mệnh, Thân, Quan thì con người ấy tài năng khí phách hơn người. Ví như Kình Thiên thủ Mệnh thì bản tính ngang tàng "dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Còn như sao Tướng Tinh, sách vở có nhắc tới như sau:

- "Tướng tinh bị hại, Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi) bảo thiên chi oan" (ôm trời kêu oan), hoặc
- "Trai sinh Hoa Cái, gái Tướng Tinh" - Đi về võng lọng đón đường cái - tiến lộc cửa nhà vinh.
Nam nữ thông minh, thanh tân, nhan sắc quý tướng. hoặc câu:
- "Nam vinh nữ trọng quyền"
"Tướng Tinh đại cát lâm"
"Thiếu niên tài lộc thịnh"
"Bán thân mãi điền địa"
Tóm lại là "bẩm tính hoàng thiên nhất thân vinh, vận địa sinh nên đài các, vua quan hào phú thụ bảo thiêng".

Chỉ là một trung tinh thôi mà tinh lực của nó mạnh như vậy, thế thì vấn đề ở đâu? Có phải do vấn đề bí truyền của Tử Vi chăng hay vì người muốn giữ bí mật không lộ thiên cơ mà không dám phổ biến ra ngoài cho người đời sau biết ?

Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư không hề nhắc đến vòng sao Tướng Tinh, nhưng nhiều sách bên Trung Quốc có ghi chép về vòng này. Khoa tử vi Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều bởi Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư nên cũng ko có vòng này. Nhưng thực ra có dùng một số sao của vòng này mà không hay. Đó là Hoa Cái, Đào Hoa (Hàm Trì) và Kiếp Sát...

Trước tiên, ta cần phải biết cách an vòng Tướng Tinh như sau: Tướng Tinh an theo tam hợp Tuổi.
- Dần Ngọ Tuất: Tướng Tinh an tại Ngọ
- Thân Tí Thìn: Tướng Tinh an tại Tí
- Tỵ Dậu Sửu: Tướng Tinh an tại Dậu
- Hợi Mão Mùi: Tướng Tinh an tại Mão.

Vòng Tướng Tinh chỉ đi theo chiều thuận như Thái Tuế. Sau Tướng Tinh tới Phan Án- Tuế Dịch- Tức Thân - Hoa Cái - Kiếp Sát - Tai Sát - Thiên Sát - Chỉ Bối - Hàm Trì (Đào Hoa) - Nguyệt Sát - Vong Thần.

Hiện nay các sách tử vi phổ biến mới chỉ dùng 1 cặp 3 sao trong vòng Tướng Tinh là Đào Hoa (Hàm Trì), Hoa Cái, Kiếp Sát. Cách an cũng dùng tam hợp tuổi (hành của tuổi) như trên.

Trong vòng này, Phan Án có hai ý nghĩa cơ bản:

1 - Làm tăng thanh thế, tác dụng giống như Bát Tọa, chỉ khác ở điểm Phan Án có lưu niên trong khi Bát Tọa không. Bởi vậy Thai Tọa làm tăng thanh thế cho cả đời, còn Phan Án làm tăng thanh thế cho cả một năm/vận.

2- Gần cận người sang quý hay nói cách khác đi là dễ cận kề quý nhân. Phan Án rất hợp với Khôi Việt. Có Khôi Việt đứng bên thì quý nhân chiếu cố là điều khỏi phải bàn, nhưng ko thực, chỉ là hữu danh vô thực, kiểu nhân sĩ tư vấn vớ vẩn. (Thực là Khôi Việt cư chiếu).

Tuế Dịch được xem như một loại lưu niên Thiên Mã (Dịch) và tính chất là một. Lưu Lộc mà có Tuế Dịch thì cũng kể là cách Lộc Mã giao trì, vào Mệnh Tài hay Quan, Di, đều chủ về sự tấn tài tấn lộc.

Tuế Dịch gặp Lộc Tồn cố định trên lá số thì lại không kể làm Lộc Mã giao trì, chỉ gặp lưu Lộc mới tính. Nếu lưu Lộc đứng cùng, đối xung với Lộc cố định mà thêm cả Tuế Dịch nữa thì gây ra hiện tượng "Động" đưa đến đi xa hoặc thay đổi công việc lâu dài.

Tức Thần mang ý nghĩa thiếu xung động trì trệ nằm ì một chỗ. Tức Thần vào cung Phúc Đức tâm tư tiêu cực dễ bi quan, luôn luôn nghĩ đến thất bại thành ra bản thân kém nỗ lực phấn đấu.

Tức Thầnkhông nên cùng đứng với Thiên Cơ ở Mệnh hay Phúc Đức vì hễ làm việc thì sẽ thấy hơi khó là bỏ, không bền chí. Tức Thần hợp với sao Thiên Lương, đứng cùng nhau thì giỏi tùy hòa mà thành ra đắc lực.

Tức Thần gặp Hàm Trì (Đào Hoa) thì dễ thuận, dễ chấp nhận sự an bày của số mệnh, nhất là đối với duyên tình, thiếu ý chí mạnh, gặp sao hay vậy.

Tai Sát trên cơ bản tính chất là tai nạn và thường đem hung hiểm tới. Mức độ tai họa thế nào cần phải phối với các sao khác để đoán.

Tai Sát bao giờ cũng ở Tứ chính nên nếu gặp Đào Hoa, Mộc Dục hoặc Văn Xương thêm Hóa Kỵ, mà lưu niên lưu nguyệt thấy luôn các Sát, Kị xung hội, hẳn là sẽ có tai họa vì tình, bị gái lừa, trai gạt hay bị đánh đập vì ghen tuông.

Tai Sát vào cung Tật Ách làm tăng thêm sự hung hiểm, trầm trọng của tai họa. Tai Sát chỉ gây hung hiểm khi nó đến cung nào, toa rập với các hung sát tinh khác, trường hợp đó cát tường, có nhiều sao giải thì Tai Sát vô lực.

Thiên Sát tính chất ngược với Thiên Đức. Thiên Đức đem thuận lợi cho quan hệ với người trên, bố mẹ hoặc người hơn chức vị mình. Thiên Sát gây khó khăn cho quan hệ này. Thiên Sát ở Mệnh hay Vận thì khó được cấp trên nân đỡ, hoặc dễ bị người thân ghét bỏ.

Chỉ Bối là sao hay bị người khác nói xấu, nó cùng tính chất với Phi Liêm. Chỉ Bổi đi cặp với Văn tinh, Khoa, Xương Khúc thì hay bị người ghen về tài học mà phỉ báng.

Nếu Chỉ Bối đứng cùng Phi Liêm thì tình trạng bị dèm pha càng nặng, hoặc gặp Thiên Cơ cũng vậy. Chỉ Bối đứng với Lương, Hóa Lộc là con người tham lợi, việc gì cũng làm. Chỉ Bối kỵ đóng ở Mệnh cung, Huynh Đệ và Nô Bộc.

Nguyệt Sát na ná như Thiên Sát, nhưng tai ách thường đến một cách âm thầm. Nguyệt Sát ảnh hưởng mạnh với Nữ hơn Nam.

Nguyệt Sát phải có sự trợ lực của sao mà nó đứng cùng thì mới gây rắc rối mạnh. Nguyệt Sát vào cung Tật Ách thì có bệnh khó phát hiện. Nguyệt Sát gặp Văn Khúc, Văn Xương, Hóa Kị thì có thể gặp họa tình ái.

Vong Thần mang tính chất phá hoại bất ngờ, công việc đang trôi chảy đột nhiên bị phá vỡ hoặc do đối thủ, hoặc do hoàn cảnh thay đổi bất ngờ, làm cho mất tiền của, hao tài lộc.

Vong Thần là chuyên thất bại bất ngờ, nhưng nó cũng mang ý nghĩa lãng phí, nếu đứng với Hình Hao hay Không Kiếp thì là con người thiếu khả năng quản thủ tiền bạc.

Các sao còn lại trong vòng Tướng Tinh được nói khá kỹ trong các sách tử vi hiện nay.

Vậy mới thấy, còn hẳn một vòng sao, tác động của các sao và ý nghĩa luận giải quan trọng không được phổ biến. Tướng Tinh đi cùng với các cách Tử Phủ Vũ Tướng miếu vượng, sao phù trợ đẹp(Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc) thì là thượng nhân anh hùng hãn thế.

Ngoài ra khi ta kết hợp các bộ ba sao vòng Tướng Tinh (ví dụ: Tướng Tinh, Hoa Cái, Chỉ Bối...) thì chúng ta sẽ có những phân loại hữu ích.

Từ ý nghĩa của các sao trong vòng Tướng Tinh và tác dụng của sự kết hợp giữa chúng, ta thấy vòng này có tầm quan trọng như 3 vòng Sinh Tuế Lộc. Phải chăng tử vi có lưỡng nghi là hai vòng chính tinh và tứ tượng là 4 vòng, Sinh Tuế Lộc Tướng thì mới hoàn chỉnh? Mà vòng Tướng Tinh lâu nay vốn không được đề cập tới vì lý do bí truyền hay vì tam sao thất bản, hoặc giả do các thầy trước đây thấy một số tính chất giống nhau giữa các sao mà loại bớt đi chăng?

Để một lá số tử vi trở nên rõ ràng với đủ lưỡng nghi, tứ tượng và 64 sao trung phụ tinh thì ta cần phải xét thêm một số sao chưa hoặc ít thấy đề cập.

Như ở trên đã nói, sao Kình Thiên nhập Mệnh thì con người thường có tư tưởng đả phá quật ngược (chống trời). Tuy nhiên, nếu đi cùng Sát Phá Tham miếu vượng, gia Kiếp Sát, Hỏa Linh đắc thì mới trở thành tướng cướp chọc trời khuấy nước làm cho triều đình/chính quyền khiếp đảm được. Nếu thêm sao Thiên Tặc nữa vào thì càng ghê gớm, thuộc loại náo động Thiên cung như Tề Thiên Đại Thánh.

Lại bàn về số có đầu óc lãnh tụ. Người ta đã nói tới người có đầu óc lãnh tụ với Đế Vượng thủ Mệnh. Ngoài ra còn có các loại lãnh tụ nghịch thần thường được gán cho Tử Phá thủ Mệnh, có loại lãnh tụ ẩn mình sau bóng tối...Nhưng tử vi Việt ít khi đề cập tới loại lãnh tụ với Tướng Tinh và Kình Thiên...

Luận về bộ Tam Y: Thiên Y, Thần Y, Địa Y.

Tử vi Việt thường nghe và bàn bộ Tứ Đức, nhưng ít nghe thấy bộ Tam Y. Bộ Tam Y, đúng nghĩa của nó là liên quan tới Y, Dược. Trong thực tế, tử vi Việt đã dùng một trong tam y là Thiên Y.

Thiên Y an theo vòng Trực: Kiến, Trừ, Mãn... (vào trực khai). Tháng 3 Kiến ở Thìn, Trừ ở Tỵ... Thiên y ở Trực chủ về dược nhiều hơn. Thiên Y luôn đi cùng Thiên Diêu, thuộc Thủy, tính chất là sạch sẽ, cẩn thận chủ việc thuốc thang, có khả năng giải hạn nhẹ (đặc biệt hạn về bệnh tật), mặc dù vậy, cung Mệnh mà có Thiên Y thì thường hay đau ốm, hay phải thường xuyên dùng thuốc. Nếu đi cùng Thiên Tướng, Quang Quý thì làm thầy thuốc có tiếng, thêm Thiên Hình thì là thầy thuốc giải phẫu.

Thần Y và Địa Y. Cách an 2 sao này là theo tháng sinh, như sau:

Tháng sinh / Thần Y / Địa Y
Dần: Mão / Mão
Mão: Hợi / Hợi
Thìn: Thân / Tuất
Tỵ: Mùi / Tý
Ngọ: Tỵ / Dần
Mùi: Tý / Mùi
Thân: Hợi / Mão
Dậu: Sửu / Hợi
Tuất: Mùi / Tuất
Tý: Mão / Dần
Sửu: Hợi / Thìn

Hai sao này cũng chủ về y dược. Khi đi cùng hoặc chỉ cần nhị hợp với Thiên Y, càng nói lên tính chất y, dược cao. Nhiều trường hợp hội tụ tại Mệnh thì là ngoài bản thân đương số, còn cha mẹ, họ hàng, ông cha chú bác anh em cũng làm nghề Y Dược. Nhị hạn gặp bộ Tam Y hãm thì dễ bị bệnh phải dùng thuốc, gặp bộ này đắc thì đỡ lo về bệnh tật vì có thầy hay thuốc giỏi cứu giúp.

Âm Sát trong tử vi Việt không dùng. Nhưng trong tử vi TQ thì lại rất chú trọng. Âm Sát thuộc nguyệt hệ, an theo tháng như sau:
- Tháng 1 an tại Dần
- Tháng 2 an tại Tị
- Tháng 3 an tại Tuất
- Tháng 4 an tại Thân
- Tháng 5 an tại Ngọ
- Tháng 6 an tại Thìn
- Tháng 7 an tại Dần
- Tháng 8 an tại Tị
- Tháng 9 an tại Tuất
- Tháng 10 an tại Thân
- Tháng 11 an tại Ngọ
- Tháng 12 an tại Thìn

Như vậy sao Âm Sát chỉ nằm trong 3 trục Dần Thân, Tị Ngọ, Thìn Tuất, ko nằm trên trục tâm linh và âm dương. Âm Sát tính chất là nghi tâm, Âm Sát vào quan hệ giao tế là tiểu nhân. Âm Sát vào tư tưởng tâm lý là ảo giác thiên về những điều quái dị. Sao Âm Sát qua luận đoán của các vị tu hành là sao thuộc về linh giới.

Âm Sát vào Mệnh thì hay gặp tiểu nhân, bản tính nghi nghi hoặc hoặc nên dễ bị phiền não vô ích, nếu thấy cả Đà Kị Không Kiếp hãm thì dễ dàng đi dến ảo giác, suy nghĩ vớ vẩn hoặc vì ma túy mà thành người đầu óc lơ mơ. Tuy nhiên nhiều thầy bói có tiếng hay có Âm Sát ở Mệnh.

Âm Sát ở cung Di, con nười cô độc, ít hợp khó hòa hay ngại ngùng nghi kị, mê muội với sự vật hư ảo.

Âm Sát ở Tật thêm sát tinh, tư tưởng hành động thiếu thăng bằng, dễ bệnh về tâm trí.

Âm Sát ở Phụ ưa những vọng tưởng không thực về gốc gác của mình

Âm Sát ở Nô hay uất ức với bè bạn, với công việc hợp tác, nghi kị.

Âm Sát ở Bào, thường bị phản từ bên trong.

Âm Sát ở Phối, hay đau khổ ngẩn ngơ vì người thương yêu mất đi do sinh ly hay tử biệt.

Âm Sát ở Quan, dễ làm việc mê muội mà hại đến sự nghiệp, mê vợ, mê nhân tình hoặc cả tin vào bạn, người dưới quyền, người trên mà khốn khổ.

Âm Sát ở Tài, vì tự cao tự đại, vì tham mê mà dễ phá sản.

Âm Sát ở Phúc, tâm lý tư tưởng quá khích, cuồng tưởng, vọng tưởng, cuồng tính, gặp thêm các sát kị có thể thành thần kinh.

Âm Sát ở Tử thì con người rất chủ quan, lại hay đi vào tín ngưỡng tôn giáo đồng bóng, tuyệt đối tin rằng con cái mình giỏi hơn, đang kính yêu hơn bất cứ ai khác.

Âm Sát ở Điền thường gặp những nhà cửa có ma quỉ, hoặc vì vợ mất đi, con chết mà cứ lởn vởn thấy linh hồn vợ con phảng phất.

Còn sao Thiên Khố các sách thấy ít nhắc tới, chỉ nói sơ qua là một tiểu Thiên Phủ, chủ về tiền bạc. Đóng cung Tài Bạch và cung Mệnh thì là người quản thủ tiền bạc giỏi.


Một số cách giải tử vi mới được bộc lộ, cần kiểm chứng

- Mối quan hệ giữa Cục và Mệnh để luận độ số tăng giảm. Có câu phú:
Cục mà sinh Mệnh thời hay
Cục mà khắc Mệnh tai ương có ngày
Mệnh mà sinh Cục có ngày tổn hao...

Một số điều thú vị về các trục trong Tử Vi trong mối tương quan Lục Thân.

- Cung Ngọ có đặc điểm là "Cao". Mệnh đóng ở cung Thân thì cung Thê đóng ở cung Ngọ: Vợ dáng người cao. Cung Huynh Đệ đóng ở Ngọ thì anh em có người cao hơn mình. Mệnh đóng ở cung Ngọ thì người đó dáng cao. Điền trạch ở cung Ngọ thì nền nhà chỗ ở cũng cao hơn chung quanh. Nhưng chú ý, đây là trường hợp không gặp Tuần Triệt.

- Trục Tí Ngọ là trục thuộc về Bố Mẹ, chịu ảnh hưởng nhiều từ Bố Mẹ, kể cả về cung số và cung nhập hạn. Ví dụ hạn cung Tử tức đóng ở cung Tý thì con cái chịu ảnh hưởng nhiều về bố mẹ, phụ thuộc vào bố mẹ, phải nghe theo bố mẹ. Cung Tài ở Ngọ có Song Hao mà xấu lại gặp Triệt thì chẳng được nhờ tiền của bố mẹ. Khi Triệt hết tác dụng thì Song Hao phát huy tác dụng phải lo tiền của để cung phụng bố mẹ.

- Trục Sửu Mùi là trục thuộc về anh em, ảnh hưởng chi phối, phụ thuộc về anh em. Ví dụ cung Tử tức đóng ở Mùi có Tham Vũ gặp Triệt thì khi mình ngoài 30, con cái được nhờ anh và em vợ (vì ở cung Âm).

- Trục Dần Thân là thuộc về con cái, vì con cái, ảnh hưởng của con cái, được nhờ con cái. Cung Quan Lộc ở Dần, ảnh hưởng con cái về đường làm ăn sinh sống, do đó mà mình được hưởng nhiều. Cung Thê đóng ở Thân thì vợ nặng về tình cảm với con hoặc vợ mình cũng ảnh hưởng của con cái v.v.

Tương tự:

- Trục Thìn Tuất là về bè bạn (tốt cũng như xấu)
- Trục Tỵ Hợi là về nhà cửa, đất đai

Ngòai ra, cứ cung Nhị Hợp là chủ về đằng nhà vợ hay phía ngoại. Ví dụ cung Phụ Mẫu cha mẹ đẻ ở Hợi thì cung chủ về cha mẹ đằng nhà vợ là Dần. Cung Huynh Đệ ở Dậu thì anh em đằng nhà vợ ở cung Thìn. Cung Tài của mình ở Ngọ thì tài của vợ ở Mùi v.v..

Trên đây là một số điều mới biết, cần được nghiệm lý thêm. Cũng như vòng Tràng Sinh đại diện cho các thứ bậc cá nhân trong một đại gia đình. Kết hợp những điều này vào luận đoán vận hạn sẽ làm cho sự luận đoán trở nên đặc biệt phong phú và chi tiết. :boss:

CutKit
05-06-2007, 10:36 AM
arigatou huynh, chưa có nút cảm ơn nên post bài kiếm ngân lượng, hì hì
Ck.

manutd
05-06-2007, 11:30 AM
Cách tìm cung Phi, cung Sinh, cung Bát trạch và cung Bát tự

Cutkit thân, lần trước cutkit hỏi manutd cách tính tuổi trên bàn tay thế nào, lần này vào đây đọc nhé:

http://www.quangduc.com/Nghile/16nghile6.html

manutd
05-06-2007, 11:32 AM
Muốn xem tốt xấu hôn nhân thì vào đây:

http://www.quangduc.com/Nghile/16nghile9.html

manutd
05-06-2007, 01:26 PM
Sao Tử vi và sao Thiên văn học

Bắc Đẩu thất tinh

Bắc Đẩu thất tinh: tức là Bắc Thần mà Đạo giáo gọi là Thiên Cương, ở phía cực Bắc và hình dáng giống cái đấu đo lường (dipper), gồm 7 sao: 1. Thiên Xu (= Tham Lang), 2. Thiên Tuyền (= Cự Môn), 3. Thiên Ky (= Lộc Tồn), 4. Thiên Quyền (= Văn Khúc), 5. Thiên Hành (= Liêm Trinh), 6. Khải Dương (= Vũ Khúc), 7. Dao Quang (= Phá Quân). Bắc Thần, trong thiên văn học Trung Quốc, được xem là trung tâm vũ trụ (vũ = không gian; trụ = thời gian), là nơi Thượng Đế (tức Thái Nhất) ngự trị, do đó Bắc Thần còn có tên là: Thiên Hoàng Đại Đế, Thiên Cực Tinh: «Thiên Trung Cung, Thiên Cực Tinh, kỳ nhất minh giả Thái Nhất thường cư.» (Nơi trung cung trên trời, sao Thiên Cực, một sao sáng trong đó là nơi Thái Nhất thường cư ngụ). Tuy nhiên, theo Joseph Needham, trải qua mấy ngàn năm, nhiều vì sao đã đóng vai trò của Bắc Thần (pole star): (a) Tả Xu, Hữu Xu (khoảng năm 3000 tcn). Bắc Cực ở giữa hai sao này; (b) Thiên Ất (3067 i Draconis); (c) Thái Ất (42 hay 184 Draconis).

Hai sao Thiên Ất và Thái Ất ở gần sao Hữu Xu và có lẽ đã được coi là sao Bắc Thần. Thái Ất được coi là sao Bắc Thần vào khoảng năm 2000 tcn; (d) Thiên Đế Tinh (Ursae Minoris, Kochab) đóng vai Bắc Thần khoảng năm 1000 tcn; (e) Thiên Xu hay Nữu Tinh (4339 Camelopardi). Sao này có lẽ đã đóng vai Bắc Thần thời Hán (200 tcn-200 cn); (f) Thiên Hoàng Đại Đế (Ursae Minoris) đóng vai Bắc Thần hiện nay.

Đạo giáo coi trọng Bắc Thần vì đó là nơi thường cư của Thượng Đế, và cầu đảo Bắc Thần là nhằm ‘tiêu tai giải ách, bảo mệnh trường thọ’. Trong khoa nghi của Đạo giáo gọi là trai tiêu (trai: giữ giới để thanh khiết; tiêu: cầu đảo thần linh) thì đạo sĩ hành lễ phải có bước đi theo hình 7 sao Bắc Đẩu, gọi là bộ Cương đạp Đẩu (bước chân theo chòm sao Thiên Cương = Bắc Đẩu), cũng gọi là Vũ bộ (bước đi của Đại Vũ, vốn được xem là nguồn gốc của pháp thuật).

manutd
05-06-2007, 01:35 PM
Câu chuyện về Quan phù và Quan phủ

Hai sao tuy cùng hoả và tính chất hơi giống nhau, nhưng khi hợp thành cách thì có khác nhau. Vả lại, một nằm chòm Lộc Tồn, một nằm thái tuế cho dù giống nhau nhưng xem hạn chẳng hạn nằm vị trí khác nhau, nên vào thời hạn khác nên chẳng phải là mâu thuẫn hay thừa thãi.

Quan Phù nằm trong sinh - vượng - mộ của Thái Tuế (an theo Địa Chi). Quan Phủ nằm trong sinh - vượng - mộ của Lộc Tồn (an theo Thiên Can).

Đại khái thế này:

Thái Tuế (Tri) - Quan Phù (Ý) - Bạch Hổ (Lực) tam hợp với nhau để thực hiện chuyện thuộc về địa.

Tiểu Hao - Hỷ Thần - Quan Phủ tam hợp với nhau để thực hiện chuyện thuộc về thiên.

Khoa tử vi đã có từ xưa cần được bổ túc vì xã hội ngày càng phức tạp, tuy vậy khi đoán nếu biết đưa về căn bản âm dương, ngũ hành rồi luận đoán cho phù hợp với xã hội và môi trường sống thì nó sẽ rất là thuận lý. Lá số là nhân, cuộc đời là quả. Đã nói đến quả phải nói đến môi trường. Đoán một lá số phải kỹ càng và biết du di là vậy, không nên cứng ngắc theo sách. Nguyên phương Tây là kim, Phương đông là mộc, chỉ điều đó thôi cũng thấy khi đoán một lá số cho Tây hay đông phải xem khác rồi. Tuần Triệt nằm giữa hai cung theo phép tính âm qui nhị bát và dương hành tam thất là một điều khác nữa cho biết ảnh hưởng âm dương nhiều ít ra sao của Tuần triệt vào từng cung.

Triệt ảnh hưởng mạnh hơn Tuần, Tuần ảnh hưởng lâu dài hơn, không mâu thuẫn hoặc bù trừ nhau.

Có câu: "Kiếp Không lâm tài phúc chi hương sinh lai bần tiện" (Hai sao Không Kiếp này rơi vào cung Tài cung Phúc thì mới sinh ra đã nghèo hèn) chứ gì nhàn nhàn đã là may mắn rồi!

manutd
05-06-2007, 01:49 PM
Bài viết hay từ Vietshare.

Trước hết, bộ sao Linh Hỏa được an theo tam hợp tuổi tức là theo tam hợp hội cục và giờ sinh. Sự vận chuyển của chúng an theo giờ sinh, tức đơn vị thời gian tạm gọi là nhỏ nhất, cực vi đối với khoa Tử Vi, ta có thể tạm xem chúng theo nghĩa Sát Na của nhà Phật.:smile 54:

Do tính chất cực vi nhỏ nhiệm, nên tác dụng của chúng rất nhanh và khó thấy. Do đó đứng ở đứng ở phần căn bản bộ sao Linh Hỏa chủ về tính khí, và sức khoẻ của ta. Do tính khí hiên ngang, cương quả quá mức, hình dáng uy nghiêm, tình cảm không lộ ra mặt nếu đắc địa. Hoặc do hãm địa mà ẩn tàng sự thâm hiểm gian ác ngấm ngầm, hình dáng bị phá tướng, kiên định trong mê muội để làm càn, sẵn sàng bỏ đạo nghĩa đều gặp tai nạn. Do chủ về sức khỏe nên thường chủ về bệnh bẩm sinh, bệnh về thần kinh, chiết giảm tuổi thọ. Nếu hiểu theo nghĩa Sát Na, thì chúng có thể là biểu tượng cho Niệm khởi sinh diệt liên tục lôi cuốn vây bọc lấy ta như dòng nước chảy xiết bùng vỡ muôn triệu bụi nước biểu tượng cho Hành ấm trong Ngũ Ấm Ma.

Nếu bộ sao này chủ về tính khí và sức khỏe vậy ta có thể tự hỏi chúng có mang tính di truyền hay không? Nếu có tính di truyền thì phải chăng ngoài biệt nghiệp của ta, chúng còn biểu tượng cho cộng nghiệp giữa ta và mọi người, mật thiết nhất là song thân đã sinh ta ra? Nếu lý này đúng thì việc đối chiếu giữa lá số Tử Vi của ta và lá số của song thân, cùng anh chị em hẳn phải có mối tương quan nhân quả nào không khi ứng dụng "phương tiện" Căn Chủ và bộ sao Linh Hỏa vào việc truy tìm này?

Công cuộc dò tìm xem ra còn nhiều vấn nạn. Vì chúng rất lớn rộng do song thân phải hiểu theo nghĩa rộng là ông bà chú bác cô cậu dì... mà sách Tử Vi của Thái Thứ Lang khi nói về mồ mả trong cung Phúc Đức có liệt kê các sao tọa thủ làm biểu tượng cho mồ mả của bác, cậu, cô, nội, ngoại....cùng các loại dáng đất và các hình tượng vật chất cũng như súc vật. Điều này đã chứng tỏ trong thực tế một khi có cải táng hay xây mồ một thân tộc thì ảnh hưởng của việc này hoàn toàn có tác dụng cát hung khác nhau cho từng cá nhân trong tộc họ có những lá số tưởng như là riêng biệt nhau.

Dù sao với sự diễn suy này cũng đủ cho thấy việc ta đang sống đây chẳng phải chỉ một mình ta sống, mà là toàn bộ người thân dù họ đang sống hay đã khuất mặt, cũng đều đang ở đây và bây giờ đều cùng hiện hữu "trong Ta", sinh hoạt cùng ta trong dòng đời. Vậy việc giữ hay phá hoại danh giá gia đình, hành động của ta tốt hay xấu chắc chắn sẽ là Nhân tạo Quả cho con cháu về sau. Và lớn rộng hơn nữa, khi một câu niệm phật từ miệng của "cái người" tạm gọi là "mình" hồi hướng cho tứ thân phụ mẫu, anh chị em cùng mọi người trên thế giới được an lạc chắc hẳn chẳng phải chỉ có ta đang niệm và phải có tác dụng bao trùm lên chúng sanh chứ ? Hướng dò tìm này xem ra khá lý thú. Nhất là nếu mượn được những phương tiện khá tinh xảo và thâm mật của Căn Chủ, Mệnh Chủ, Thân Chủ, bộ Linh Hỏa, và có thể là bộ Xương Khúc, bộ Không Kiếp đều an theo giờ sinh trong ứng dụng.

Đó là vấn đề giờ sinh, nay nói đến yếu tố bộ Linh Hỏa được an theo tam hợp tuổi tức tam hợp hội cục của năm. Ở đây khoan nói tới tác dụng cát hung của chúng, mà chỉ tìm cách tác dụng của chúng như thế nào.

1. Với tính chất đi thuận hay nghịch của Hỏa Tinh và đi nghịch hay thuận của Linh Tinh, tùy Dương Nam Âm Nữ hay Âm Nam Dương Nữ, tất chúng phải là một cái gì mang nặng tính chất Âm Dương và chúng không thể tách rời nhau, hai loại khác nhau mang tính riêng lẻ, mà phải là bộ sao đôi như bộ Xương Khúc, Không Kiếp. Việc dự đoán tất không thể bỏ quên tính chất này. Và nếu xét chúng trong toàn thể bộ đôi không thể tách rời thì ý niệm về Trục là căn cứ duy nhất ta cần phải dựa vào để xét. Đó là vấn đề thứ nhất.:smile 15:

2. Theo thông thường của các trường phái thì:

Tuổi Dần Ngọ Tuất: Hỏa khởi tại Sửu. Linh khởi tại Mão. Dương Nam Âm Nữ thì Hỏa đi thuận, Linh đi nghịch. Âm Nam Dương Nữ thì Hỏa đi nghịch, Linh đi thuận.

Tuổi Hợi Mão Mùi: Hỏa khởi tại Dậu. Linh khởi tại Tuất. Dương Nam Âm Nữ thì Hỏa đi thuận, Linh đi nghịch. Âm Nam Dương Nữ thì Hỏa đi nghịch, Linh đi thuận.

Tuổi Thân Tý Thìn: Hỏa khởi tại Dần. Linh khởi tại Tuất. Dương Nam Âm Nữ thì Hỏa đi thuận, Linh đi nghịch. Âm Nam Dương Nữ thì Hỏa đi nghịch, Linh đi thuận.

Tuổi Tỵ Dậu Sửu: Hỏa khởi tại Mão. Linh khởi tại Tuất. Dương Nam Âm Nữ thì Hỏa đi thuận, Linh đi nghịch. Âm Nam Dương Nữ thì Hỏa đi nghịch, Linh đi thuận.

Riêng tam hợp hội cục Tỵ Dậu Sửu, có trường phái an Hỏa khởi tại Tuất. Linh khởi tại Mão. Dương Nam Âm Nữ thì Hỏa đi thuận, Linh đi nghịch. Âm Nam Dương Nữ thì Hỏa đi nghịch, Linh đi thuận.

Việc an theo một trong bốn tam hợp hội cục cho bộ Linh Hỏa, mỗi tam hợp hội cục này đều có ngũ hành riêng. Vậy tất nhiên đã ám chỉ mang nặng tính chất Ngũ Hành của tam hợp hội cục. Cuối cùng ta cũng thấy và hiểu ảnh hưởng của chúng đều do Âm Dương Ngũ Hành mà ra.

Trong Tử Vi, trục Dần Thân là trục phân chia Âm Dương quân bình nhất. Nếu ta đứng xét 4 tam hợp hội cục dựa trên Tứ Chính làm chủ. Thì Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa, Hợi Mão Mùi thuộc Mộc. Hai hành của tam hợp hội cục này thuộc phần Dương (lấy Mão và Ngọ làm chủ). Thân Tý Thìn thuộc Thủy, Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim. Hai hành của tam hợp hội cục này thuộc phần Âm (lấy Dậu và Tý làm chủ) nếu lấy trục Dần Thân làm ranh giới.

Dựa vào phần lý này cho thấy, Hỏa Tinh của Dần Ngọ Tuất được "bắn" đi từ Sửu thuộc phần Âm, tức từ tam hợp hội cục Hỏa và Kim tương Khắc (nhấn mạnh chữ Khắc). Hỏa Tinh của Hợi Mão Mùi được "bắn" đi từ Dậu thuộc phần Âm, tức tam hợp hội cục Mộc và Kim tương Khắc. Tức hai tam hợp hội cục của phần Dương được khởi đi từ phần Âm.

Hỏa Tinh của Thân Tý Thìn được "bắn" đi từ Dần thuộc phần Dương, tức từ tam hợp hội cục Thủy và Hỏa tương Khắc. Hỏa Tinh của Tỵ Dậu Sửu được "bắn" đi từ Mão thuộc phần Dương, tức từ tam hợp hội cục Kim và Mộc tương Khắc. Tức hai tam hợp hội cục của phần Âm đượïc khởi đi từ phần Dương.:smile 4:

Đó là dựa trên trục Dần Thân và lấy Tứ Chính của tam hợp hội cục làm căn cứ, để thử tìm độ chính xác của vị trí khởi đầu giờ Tý của sao Hỏa Tinh cho từng năm thuộc bốn tam hợp hội cục. Vậy phải chăng, các vị trí này là do ứng dụng Lý Dương Trung Hữu Âm, Âm Trung Hữu Dương và lý khắc Ngũ Hành giữa các tam hợp hội cục. Và do sự Hình Khắc về Ngũ Hành giữa các tam hợp hội cục này, nên ở phương diện "Số Mạng" chúng là tai họa đem đến cho ta?

3. Riêng trường hợp của tam hợp hội cục Tỵ Dậu Sửu có trường phái cho Hỏa Tinh khởi từ Tuất. Theo thiển ý có lẽ dựa trên lý như sau.

Trước hết, đứng về phương diện thiên văn thì trục Sửu Mùi là do trục Tý Ngọ biến ra. Nguyên do tháng nóng nhất và lạnh nhất không phải là tháng Ngọ và tháng Tý. Vì tiết Đại Hàn coi là lạnh nhất trong một năm là ngày 21 tháng Một Dương Lịch tương ứng với tháng Sửu. Ngày nóng nhất trong năm là tiết Đại Thử nhằm ngày 23 tháng 7 Dương Lịch, tương ứng với tháng Mùi. Tức trục Sửu Mùi là trục quân bình về nóng lạnh, tức thời tiết. Đây phải là trục Âm Dương. Trong đó khoa Tử Vi đã xếp hai sao Thái Dương và Thái Âm đồng cung tại trục Sửu Mùi.

Dựa trên trục này để phân định, thì Dần Ngọ Tuất thuộc tam hợp hội cục Dương (Dần, Ngọ, Tuất đều là cung Dương, tức xét trên bản chất tự nội của cung), Hỏa Tinh khởi đi từ Sửu thuộc Dương theo sự phân định Âm Dương của trục Sửu Mùi. Sở dĩ cho Sửu thuộc phần Dương là ứng theo lý Thăng Giáng của Âm Dương, theo đó tại Sửu Dương "sẽ" thịnh và Âm "sẽ" suy (quẻ Địa Trạch Lâm, quẻ của tháng chạp).

Cũng vậy, tam hợp hội cục Dương Thân Tý Thìn, Hỏa Tinh khởi đi từ Dần thuộc Dương. Tam hợp hội cục Âm Hợi Mão Mùi khởi Hỏa Tinh từ Dậu thuộc Âm. Tam Hợp hội cục Âm Tỵ Dậu Sửu khởi Hỏa Tinh từ Tuất thuộc Âm. Vậy tam hợp hội cục Dương khởi Hỏa Tinh từ phần Dương, tam hợp hội cục Âm khởi Hỏa Tinh từ phần Âm.:smile53:

Vậy phải chăng việc an sao Hỏa Tinh cho tam hợp hội cục Tỵ Dậu Sửu từ Tuất, không phải từ Mão là do dựa trên trục Sửu Mùi phân định Âm Dương, thời tiết để phân bố ? sự phân bố này lấy tam hợp hội cục Dương khởi đi từ tam hợp hội cục Dương, và trái lại. Hoàn toàn khác với cách phân bố điểm bắn sao Hỏa Tinh dựa trên trục Dần Thân.

4. Còn một cách an bộ sao Linh Hỏa theo đa số các sách Tử Vi Trung Hoa, và trong số các nhà Tử Vi Việt Nam có tiên sinh Quản Xuân Thịnh an bộ sao này theo lối khác (Số Tử Vi Kinh Nghiệm, quyển thượng, trang 35).

Điểm "bắn" của bộ sao Linh Hỏa đều giống nhau trong các tam hợp hội cục Thân Tý Thìn, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi. Riêng tam hợp hội cục Tỵ Dậu Sửu thì lấy Tuất làm điểm bắn cho sao Hỏa Tinh, lấy Mão làm điểm bắn cho sao Linh Tinh. Đặc biệt hơn cả là tất cả hai sao đều an theo giờ sinh theo chiều thuận kim đồng hồ.

Riêng với sao Linh Tinh người viết chưa tìm được căn do, vì sự vận hành của chúng chưa có lý nào thỏa đáng vì chúng quá phức tạp. Nhưng một khi nếu ta tạm chấp nhận việc dựa trên trục để biểu hiện tính cặp đôi không thể tách rời của bộ Linh Hỏa, thì hai sao này phải làm nhân làm duyên, làm hình bóng cho nhau.

Người viết không dám kết luận đúng sai giữa hai lối an sao khác biệt nhau, cho trường hợp Tỵ Dậu Sửu với giờ Tý khởi Hỏa Tinh tại Mão hay tại Tuất. Bài viết này chỉ nhằm thử tìm hiểu tác dụng "cặp đôi" của bộ sao Linh Hỏa ra sao, đối với từng tam hợp tuổi như thế nào.

5. Dù sao Hỏa Tinh có khởi đầu từ Mão hay Tuất cho trường hợp Tỵ Dậu Sửu. Nhưng bộ đôi Linh Hỏa của tam hợp hội cục này luôn đứng trong thế nhị hợp trong khoa Tử Vi. Không bao giờ có thế lục hại, tam hợp, xung chiếu, các cách giáp.

Cũng vậy, bộ đôi Linh Hỏa của tam hợp hội cục Hợi Mão Mùi luôn đứng trong thế lục hại. Không bao giờ có thế nhị hợp, tam hợp, xung chiếu, các cách giáp.

Bộ đôi Linh Hỏa của tam hợp hội cục Dần Ngọ Tuất luôn dùng trục Dần Thân là trục đối xứng. Tức sinh ra các cách như cách Linh Hỏa đồng cung ở Dần Thân, giáp Linh Hỏa ở trục Dần Thân, thế tam hợp ở Thìn và Tý, thế xung chiếu ở Tỵ và Hợi, thế tam hợp ở Dần và Ngọ. Không bao giờ có lục hại, nhị hợp.

Cũng vậy ở tam hợp hội cục Thân Tý Thìn, bộ Linh Hỏa vận hành lấy trục Tý Ngọ làm trục đối xứng, tạo ra cách Linh Hỏa đồng cung Tý và Ngọ, giáp Linh Hỏa ở Tý và Ngọ, tam hợpï Linh Hỏa ở Dần và Tuất, xung chiếu Linh Hỏa ở Mão và Dậu, tam hợp Linh Hỏa ở Thìn và Thân. Không bao giờ có cách nhị hợp và lục hại.

Nếu ta đem ứng dụng các thế đặc thù của mỗi tam hợp hội cục và giao thoa chúng với các thế tam hợp Thái Tuế, tam hợp Thiếu Dương, tam hợp Tang Môn, tam hợp Thiếu Âm, thì mỗi chúng ta sẽ tìm được những kỳ đặc của bộ Linh Hỏa cho từng trường hợp.

Như vậy, ở mỗi tam hợp hội cục bộ sao Linh Hỏa đều có tác dụng đặc sắc riêng tư, trong đó ảnh hưởng của chúng làm cho các cung liên hệ có Linh Hỏa tọa thủ, phải dính liền vào nhau một cách chặt chẽ, không thể tách rời khi ứng dụng trong chiêm nghiệm cùng giải đoán.

Theo thiển ý, giả thuyết này có thể chấp nhận được vì tương ứng với các cách của bộ sao Xương Khúc, Không Kiếp, như đồng cung, cách giáp, cách tam hợp, cách sao Tử Vi luôn lục hại với sao Cự Môn, Thiên Tướng luôn lục hại với sao Thiên Cơ và xung chiếu với sao Phá Quân, Thất Sát luôn lục hại với sao Thái Dương và xung chiếu với sao Thiên phủ, Phá Quân luôn nhị hợp với sao Thiên Cơ và xung chiếu với sao Thiên tướng, Tham Lang luôn nhị hợp với sao Thiên Đồng, Vũ Khúc luôn nhị hợp với sao Thái Âm. Thái Dương luôn nhị hợp với sao Thiên Phủ và lục hại với sao Thất Sát, Liêm Trinh luôn nhị hợp với sao Thiên Lương.:smile 54:

6. Trường hợp an bộ Linh Hỏa theo Trung Hoa và tiên sinh Quản Xuân Thịnh lại cho thấy rõ cách giáp rất quan trọng trong tam hợp hội cục Dần Ngọ Tuất, hoàn toàn không có đồng cung, tam hợp, xung chiếu, nhị hợp, lục hại. Cũng vậy Tam hợp Thân Tý Thìn chỉ có cách tam hợp. Tam hợp Hợi Mão Mùi vừa có Lục Hại ở Mão Thìn, Dậu Tuất, vừa có Nhị hợp ở Tý Sửu, Ngọ Mùi. Tam hợp Tỵ Dậu Sửu có nhị hợp ở Thìn Dậu, và Mão Tuất và lục hại ở Sửu Ngọ và Mùi Tý.

Sự vận hành của bộ sao này luôn đi thuận theo chiều kim đồng hồ bằng giờ sinh, bất luận tam hợp hội cục nào, bất luận tuổi thuộc Dương Nam Âm Nữ hay Âm Nam Dương Nữ. Phải chăng với sự vận hành của bộ sao Linh Hỏa, người xưa đã "gần như" xem nhẹ tính Âm Dương của TUỔI?

7. Có thể nêu trường hợp của Saddam Hussein tuổi Đinh Sửu, sinh ngày 18 tháng 3 Âm Lịch giờ Mão.

Xin nhấn đây để xem lá số của Saddam Hussein

Với tuổi Đinh Sửu thuộc tam hợp hội cục Tỵ Dậu Sửu, thì cách nhị hợp phải được xem là quan trọng và cần thiết khi chiêm nghiệm.

Cái độc đáo và cũng là oan khiên của Saddam là tuổi Sửu, Mệnh ở Sửu, Thân cư Thiên Di tại Mùi đều có Linh Hỏa nhị hợp trong tam hợp Thái Tuế hoặc tam hợp Tuế Phá, hai loại tam hợp mạnh dù tuổi Tỵ Dậu Sửu có hai cách an Linh Hỏa.

Độc đáo hơn nữa là với Cung Sửu là loại cung "đáy", nếu so với Cung Ngọ là đất đứng sở hữu tối cao của Đế Tinh đứng thế lục hại. Cung Nô ở Ngọ với đầy đủ Khoa, Quyền, Lộc, Lộc Tồn, Đào Hoa, Cung Quan Lộc ở Tỵ là cung phía sau chạm phải bức tường hoành tráng của Cung Nô cản địa, không dễ dầu tiến liên cướp đoạt nếu không nhờ cách Long Phượng Hổ Cái, Toái Quân Lưỡng Phá, và cách Vô Chính Diệu Đà La độc thủ, cũng là cách "tàng hình", đi luồn từ Cung Hợi (Lưu Đại Vận theo Âm Nam Dương Nữ) để tiến.

Nếu chỉ bàn cách nhị hợp không thôi, Cung Ngọ là cung của Đế Tinh thì với bức tường hoành tráng với các sao tốt nói trên, cũng chỉ làm lợi cho sao Tử Vi đồng cung Phá Quân cũng là Cung an Thân. Nếu cho rằng thế nhị hợp giữa Cung Ngọ và Mùi là Mùi (tam hợp Mộc) sinh Ngọ (tam hợp Hỏa), thì cái "sinh" này lại càng làm cho Cung Nô chết sớm, vì Phá Quân thuộc Âm Thủy đồng hành Mệnh, lấy được thêm Địa Không tạo thành đủ cách giáp Không Kiếp ở Mùi, tức biến Cung Nô thành đám lâu la của mình, cùng biến bộ Xương Khúc phù trợ cho Thiên Cơ thành loại giấy khống, bằng giả, mục nát. Cái hay của Cung an Thân ở Mùi là Cung Mùi nhị hợp Cung Ngọ là cung của Đế Tinh, tức là lợi dụng được cách kề cận quân vương lấy trọn Linh Hỏa đốt Thiên Cơ.

Thế nhị hợp giữa Cung Mệnh và Cung Bào cũng vậy. Nếu cho rằng Sửu (tam hợp Kim) sinh Tý (tam hợp Thủy). Tức Thái Tuế, Kình, Đà ở tam hợp Mệnh sinh tam hợp Bào thì lại làm cho Cự Môn, Hóa Kỵ bị chụp mũ là loại chống đối ngoan cố (cái tưởng của Saddam chăng?), càng chóng chết. Theo thiển ý, ở đời hẳn không bao giờ có chuyện cho đi mà không nhận lại gì (giúp hoặc cho ai cái gì dù chỉ có niềm vui trong lòng cũng là một cách nhận lại). Nếu ta không chấp chặt vào quan niệm thế nhị hợp Sửu luôn sinh Tý (vì một khi đã gọi là" Hợp" ít nhất cũng cùng phải chung một quan điểm nào đó), mà hiểu theo sự tác động qua lại đúng với lý Âm Dương, thì Cung Mệnh ở Sửu lấy lại Tả Hữu và được cách giáp Không Kiếp, thêm Hóa Kỵ, chính là cách gian hùng siêu nhân.:smile 54:

Tương tự ta có thể xem cách nhị hợp giữa Cung Phụ Mẫu và Phu Thê, giữa Cung Phúc và Tử Tức, giữa Cung Điền Trạch và Tài bạch, giữa Cung Quan Lộc và Tật Ách sẽ minh chứng được những hành động xem ra có một không hai của Saddam.

Nếu cho rằng cách giáp Không Kiếp là cách vất vả, lao đao thì cũng không nên chấp chặt lý này, vì muốn làm chuyện phi thường, trở thành con người phi thường (dù chỉ là cái tưởng, tức tướng tùng tâm sinh), thì chuyện lao đao đương nhiên là phải có. Và với sao Thái Tuế ở Mệnh, Tuế Phá ở Cung an Thân, thì chuyện chịu hiểm nguy, dùng cách vô độc bất trượng phu để được làm vua thua làm giặc chỉ là chuyện...nhỏ! Và một khi đã lấy được Cự Môn lục hại với Tử Phá (Cung an Thân) thì chiến lược tuyên truyền, thông tin, ca tụng, tôn sùng lãnh tụ cho cá nhân mình là cách tuyệt chiêu để sống còn và thụ hưởng.

Nếu ta lưu ý thêm về vị trí của Căn chủ tuổi Đinh là sao Thiên Cơ đóng trong Cung Nô Bộc, vị trí của Mệnh Chủ tuổi Sửu là sao Cự Môn ở Cung Huynh Đệ, vị trí của Thân Chủ tuổi Sửu là sao Thiên Tướng ở Cung Mệnh. Ta có thể hiểu được sự thâm trầm và lạnh lùng tàn nhẩn của bản tính không phải là sao Thiên Tướng thủ Mệnh, mà là sao Cự Môn (chính vì là "sao ám" nên khó biết ông là Phật hay ma. Và cũng chính vì là sao ám nên khi hạn gặp sao Cự Môn, tâm thành thiên biến vạn hóa khiến mọi việc phải thay đổi liên tục để ứng phó, tương ứng với Lưu Niên Đại Hạn 67 tuổi). Sự phát huy hết mức của cách Toái Quân Lưỡng Phá của Thân. Tất cả đều biến cuộc đời gặp huy hoàng rực rỡ hay lụi tàn bại vong đều dựa vào cái "gốc" Căn Chủ tuổi Đinh là sao Thiên Cơ ở Cung Nô Bộc (tỏ rõ được tâm ý người khác và giàu hay nghèo vì bạn), và ta hiểu được tại sao Cung Quan Lộc Vô Chính Diệu, Đà La độc thủ lại chiếm lĩnh được Cung Nô Bộc.

Người Việt Nam ta có câu lá rụng về cội, sinh ra từ đâu thì chết phải về đó. Ở đời, con người ta sống ít ai mà không làm chuyện nghiêng ngả, không nhiều thì ít. Cái "cây" Saddam đã bao năm mọc nghiêng lệch qua bên áp bức, cả vú lấp miệng em. Khi bị cưa cắt thì sẽ ngã đổ bằng sức mạnh áp bức và cả vú lấp miệng em (Vũ khí hủy diệt hàng loạt). Chơi xấu ai bằng cái gì thì bị người khác chơi lại cái đó.:smile 26:

Vinh quang đầy máu tanh trong vũ đài chính trị khởi từ Thái Tuế ở Mệnh, Tuế Phá ở Thân. Đến lúc lộ nguyên hình mình là Tuế Phá (Đại hạn 63-72) thì thật là hay cho nghiệp chướng phải trả. Bị cú đánh phủ đầu nặng ký vừa phi cơ, hỏa tiễn (dạng chụp mũ đánh phủ đầu), súng đạn (dạng đối mặt tỏ rõ ai ngon hơn ai), vừa tiền bạc (dạng biết lạm dụng phước báu vật chất) của sao Thiên Tướng, tức là sao hóa khí của Căn Bính thuộc tuổi Bính Tuất (Tổng Thống Bush) đóng ngay Mệnh (ta và ngươi là hai hay là một ?), và cũng là nơi trở về Thái Tuế trong Tiểu Hạn năm Mùi, Saddam còn lại gì không? Cái sống và cái chết của ông phải chăng chỉ nằm gọn trong 4 Cung Tý, Ngọ, Sửu, Mùi?

manutd
05-15-2007, 07:22 PM
Mười bốn chính tinh Tử vi đẩu số qua truyền thuyết dân gian

Đời Phong Thần, vương triều nhà Ân có ông vua cực tàn ác là vua Trụ. Một hôm, Trụ vương đi săn gặp mưa lớn, liền vào miếu Cửu Thiên Huyền Nữ để trú mưa. Trụ Vương vốn là người thô tục và hiếu sắc, thấy pho Tượng Cửu Thiên Huyền Nữ đẹp quá liền mê ngay, hạ lệnh cho quân sỹ vác pho tượng đó về xung vào đám tỳ thiếp của nhà vua. Mọi người tuy kính nể nữ thần nhưng họ còn sợ sự tàn ác của vua Trụ gấp bội nên nhất loạt vâng mệnh mang Cửu Thiên Hiền Nũ về cung.

Cửu Thiên Huyền Nữ giận lắm liền làm phép biến một con Hồ ly trong rừng thành một người đàn bà đẹp tuyệt sắc rồi sai đến mê hoặc Trụ Vương mà làm cho nhà Ân phải diệt. Người đàn bà tuyệt sắc ấy tên là Đắc Kỷ, vương phi sủng ái của vua Trụ. Quả nhiên Trụ Vương say mê Đắc Kỷ bỏ bê việc triều đình, làm hỏng việc triều chính.

Cùng lúc đó, trên trời đang thiếu nhiều thần linh. Ngọc Hoàng Thượng đế rất mừng khi thấy Cửu Thiên Huyền Nữ quyết tâm diệt nhà Ân. Ngài nghĩ khi một nước có loạn tất có nhiều anh hùng và trung thần chết vì quốc nạn. Ngài liền phái Thái Bạch Kim Tinh ra Nam Thiên Môn cầm sổ chờ sẵn, trong cơn binh lửa đón người chết chở về.

Ở phía tây giang sơn nhà Ân có nước chư hầu quốc giòng họ Chu văn minh, thịnh vượng. Sợ họ Chu một ngày kia sẽ lấn át mình nên Trụ Vương có ý định ra tay trước, lập kế mời vị Chu Văn Vương tới gặp. Chu Văn Vương tinh thông bát quái, dịch lý của Phục Hi, là người có trí tuệ bậc nhất thời bấy giờ. Trụ Vương nghĩ là cứ bắt Chu Văn Vương giết đi là mọi việc sẽ đâu vào đấy. Khi Chu Văn Vương đến nơi, Trụ Vương ra lệnh bắt ngay nhốt vào ngục chờ ngày hành quyết, kết cho Chu Văn Vương tội phản nghịch.

Con lớn của Văn Vương là Chu Bá Ấp, đẹp trai, tuấn tú, hiên ngang. Đàn bà con gái trông thấy Bá Ấp một lần là thương nhớ khó quên. Bá Ấp là người con rất có hiếu, nghe tin cha bị hại lòng như lửa đốt ngày đem phóng ngựa đến gặp Trụ Vương để minh oan cho cha mà không hề hay biết dã tâm của vua Trụ. Trụ Vương hẹn ba ngày sau cho Bá Ấp yết kiến và lưu Bá Ấp ở trong cung.

Đêm khuya, Bá Ấp ngồi đánh đàn, tiếng đàn như nước chảy trên đá, buồn như tiếng chim Đỗ quyên hót, chan hòa khắp cung điện khiến Đát Kỷ tỉnh giấc lắng nghe rồi theo tiếng đàn đến phong Bá Ấp. Đát Kỷ chỉ mặc trên người tấm lụa mỏng. Nhìn qua song cửa, Đát kỷ trông thấy dưới ngọn đèn bạch lạp một tràng trai khôi ngôi, tướng mạo cao sang tuyệt bực đang chăm chú với phím đàn. Đát kỷ là con Hồ ly tinh tay sai của Cửu Thiên Huyền Nữ, nó vốn tính cực dâm đãng nên chẳng phút ngần ngại, mở cửa phòng Bá Ấp dùng cử chỉ lả lơi quyến rũ. Nào ngờ, Bá Ấp chẳng chút động lòng còn lên tiếng mắng Đát Kỷ là đồ lả lơi, đĩ thõa. Đát Kỷ không thỏa mãn được dục vọng, lớn tiếng chửi Bá Ấp làm náo loạn cung đình, ngự quân kéo đến liền bắt giữ Bá Ấp. Sau đó Đắt Kỷ già mồm khóc lóc với vua Trụ rằng bị Bá Ấp làm xấu, khi đang đứng ngoài song cửa nghe đàn thì Bá Ấp xông tới kéo Đát kỷ vào buồng. Trụ Vương cả giận đùng đùng, không cần hỏi han đầu đuôi thế nào liền hô quân lính lôi Bá Ấp ra chém rồi băm thây ra viên thịt nướng chả đem cho Văn Vương ăn.

Sáng hôm sau khi quân lính mang chả nướng vào cho Văn Vương ăn, vốn là người tinh thông dịch lý, Văn Vương đã biết hết mọi chuyện nhưng vì đại nghiệp,Văn Vương vẫn ung dung ăn hết đĩa chả.

Trụ Vương thấy vậy cười ha hả nói : “ Thằng này đúng là đồ hư danh, ăn thịt con mà không biết thì có gì đáng sợ, không hiểu tại sao thiên hạ lại phục hắn về cái tài thần toán chiêm bốc “. Nói rồi Trụ Vương liền thả Văn Vương ra khỏi ngục.

Trên đường về Chu Quốc, nỗi mừng thoát nạn không thể nào che lấp được nỗi buồn cha ăn thịt con nên vẻ mặt Chu Văn Vương bi thảm không sao tả hết. Vừa về đến Chu, Văn Vương tìm khu vườn có lá xanh tốt, tự móc học để nhả miếng chả ra. Lạ thay, thịt Bá Ấp biến thành một con thỏ lông trắng muốt, đôi tai dài, mắt đỏ màu hồng ngọc chạy nhẩy tung tăng trông rất hiền hậu dễ thương. Nó cúi đầu chào Văn Vương rồi chạy vào đám cỏ xanh biến mất. Đó là con thỏ đầu tiên trên hạ giới.

Lúc đó Thái Bạch Kim tinh ở Nam Thiên Môn liền đưa tay đón nó về trời. Giữa lúc đó thì trên thiên đình có một ngôi sao hoa Tử Vi nở đỏ bát ngát. Ngôi sao này là chủ tinh của một chòm sao, Ngọc Hoàng và Thái Bạch Kim Tinh liền bổ nhiệm Bá Ấp về cai quản sao Tử Vi vì Bá Ấp hội đủ ba đức tính : Thiên lương, tôn quý và cao quý.

Văn Vương thề quyết tâm trả thù cho con nên ngày đêm nỗ lực xây dựng lực cơ sở, lực lượng. Do làm việc quá nhiều nên Văn Vương kiệp sức, chết. Việc diệt nhà Ân Văn Vương giao lại cho Vũ Vương, em trai của Bá Ấp.

Vũ Vương nối nghiệp cha, ngày đêm huấn luyện binh mã, chăm lo nông nghiệp, quốc lực tăng trưởng. Nhờ vị quân sư là Khương Thượng, Vũ Vương tiêu đánh bại Trụ Vương tiêu diệt Ân triều.

Khương Thượng hiệu là Tử Nha, tục xưng Lã Vọng là người cao minh trí tuệ, lúc chưa đắc chí chỉ ngồi câu cá ở nơi sông Vị, nghèo khổ cùng cực bị mụ vợ già chửi mắng suốt ngày. Mãi đến chín mưới tuổi mới gặp Văn Vương mời về làm quân sư. Văn Vương chết, Khương Thượng giúp Vũ Vương phạt Trụ.

Bình xong thiên hạ, Vũ Vương phong cho Khương Thượng cai quản đất Tề. Lúc Khương Thượng chết, Thái Bạch Kim Tinh mời về trời giao cho cho cai quản sao Thiên Cơ, bởi thế sao Thiên Cơ trong Tử Vi đẩu số tượng trưng cho trí tuệ, quyền biến và cơ mưu.

Trụ Vương tuy là bạo quân nhưng chung quanh ông có nhiều trung thần, đáng kể nhát là Tí Can. từng khuyên Trụ Vượng dứt bỏ con yêu tinh Đát Kỷ, Trụ Vương bực bội mắng Tý Can bất trung, để tỏ lòng trung thành Tý Can nói với vua Trụ :

“ Nếu bệ hạ không tin lời thần, thần xin đem tấm lòng son sắt này dâng bệ hạ “. Nói xong liền tự dùng dao đâm vào ngực lấy tim đưa cho Trụ Vương.

Tý Can chết, Thái Bạch Kim Tinh thương lắm, tới đón về trời giao cho cai quản tình cầu sáng rực, cực quang minh chính đại là Thái Dương.

Khương Thượng, Bá Ấp, Tý Can đã xong còn Văn Vương, Vũ Vương ra sao ?

Vũ Vương lên ngôi thi hành thiên chính, sống rất thọ. Sao khi Vũ Vương chết, Thái Bạch Kim Tinh thấy Vũ Vương văn võ song toàn, không những vũ dũng đánh dẹp bạo quân mà lại còn tài giỏi trong việc chăm dân làm cho đất nước ngày càng thịnh vượng. Do đó giao cho Vũ Vương cai quản sao sao Vũ Khúc.

Thảo phạt Trụ Vương là Vũ Vương, nhưng không có các công thần do Văn Vương để lại cho Vũ Vương thì đại sự cũng chẳng thành. Thái Bạch Kim Tinh nhận thấy Văn Vương là vị thần giỏi trong việc dung hòa sắp đặt, tính tình ôn thuận nên cho về cai quản ngôi sao Thiên Đồng.

Bên cạnh vua Trụ có tên đại gian thần là Phi Trọng, dùng nịnh nọt và gian kế đã hãm hại nhiều trung thần của Ân triều để đạt đại quyền quốc gia. Khi nhà Ân diệt vong, Phi trọng bị Khương Thượng bắt đem về chém đầu. Ngày hành hình, trên trời thiếu thần trị nhậm sao Liêm Trinh, Thái Bạch Kim Tinh liền dùng Phi Trọng làm vị thần của sự tà ác. Trong Tử vi đẩu số, sao Liêm Trinh chủ về những sự lắt léo, không ngay thẳng, tàn nhẫn.

Trụ Vương có một vị chính thức nguyên phối Hoàng hậu họ Khương, là người đàn bà hiền thục tài năng. Từ ngày Đát kỷ xuất hiện, bà Khương Hậu bị Trụ Vương bỏ rơi. Do sự xúi bấy của Đát Kỷ, Trụ Vương giết luôn bà Khương Hậu. Thái Bạch Kim Tinh liền đón luôn bà Khương Hậu cho về cai quản một tinh cầu đầy vật sản phì nhiêu là sao Thiên Phủ.

Trong tử vi đẩu số, sao Thiên Phủ mang tính chất là Tài năng và từ bi.

Ân triều có ông quan trung nghĩa Tên là Hoàng Phi Hổ có người vợ họ Giả, nhan sắc diễm lệ nức tiếng xa gần. Lệ triều đình hàng năm cứ đến ngày Tết Nguyên Đán, các quan cùng phu nhân phải vào bái yết Quốc vương. Giả phu nhân theo chồng vào cung. Đát Kỷ thấy giả phu nhân nói chuyện duyên dáng mà lại xinh đẹp nên đố kỵ, bảo Trụ Vương mời bà ở lại dự dạ yến để bày kế sát hại

Rượu say, Trụ Vương chả giữ nghi lễ Vua tôi gì nữa, thấy Giả phu nhân xinh đẹp liền chạy lại ôm lấy Giả phu nhân mà ép nài chuyện bậy bạ. Vốn là đàn bà trọng tiết tháo, không chịu được sự nhục nhã, bà liền bỏ chạy, cung đường đã lao mình từ trên lầu cao xuống đất tự tử, Linh hồn Giả phu nhân bay lên trời. Thái bạch Kim Tinh đặt bà là nữ thần của sự thanh khiết, cho đến trú ngụ nơi sao Thái Âm. Từ khi bà đến thì tinh cầu trở nên gọn gẽ, sáng sủa.

Trong Tử vi đẩu số thì sao Thái Âm tượng trưng cho sự thanh khiết, sáng sủa và ưa sạch sẽ.

Đát Kỷ, nữ yêu chủ yếu của nhiều biến cố, số phận ra sao?

Xuất thân là con Hồ ly hầu hạ của Cửu Thiên Huyền Nữ, qua danh ái nữ của một đại thần nên lọt vào cung đình. Dùng tửu sắc mê hoặc Trụ Vương. Đát Kỷ gây nhiều tai họa bị Khương Thượng xử tử hình. Thái Bạch Kim tinh cho bắt vong hồn Đát Kỷ về phong làm thần dục vọng, ác liệt, hoang đàng để cai quản sao Tham Lang. Tinh cầu này đầy chó sói hung dữ không thần nào trị nổi chúng. Nhưng lúc Đát Kỷ tới nơi thì chúng reo mừng.

Ở Tử Vi Đẩu số, Tham lang mang tính chất điếm đàng tửu sắc, ưa vung phí ăn chơi, tượng trưng cho đàn bà pha hoại chồng con, vô tài, bất đức.

Khương Thượng ngoài bảy mươi tuổi mới lấy người con gái lỡ thì hơn năm mươi tuổi tên là Mã Thiên Kim. Kể từ lúc chung sống, gia cảnh cực thanh bần, nhiều bữa không có cơm ăn. Mã Thanh Kim là người đàn bà thô tục,lăng loàn, chỉ nhờ có chút tiền duyên nên lấy được Khương Thượng. Sau mươi mấy năm, nghèo quá chịu không nổi.

Mã Thiên Kim bỏ khương Thượng. Khương Thượng bấm tay biết lúc con vợ lăng loàn thô tục ra đi chính là lúc bĩ vận của ông cũng hết, một sớm một chiều trở thành quân sư của Văn Vương.

Nghe tin, Mã Thiên Kim vừa tiếc vừa hối hận. Thắt cổ tự tử. Khương Thượng nghe tin nghĩ tình xưa nghĩa cũ cho người làm tang ma, tống táng. Hồn phách của Mã thiên kim được Thái Bạch Kim Tinh dùng làm nữ thần coi việc thi phi, nỏ mồm quai mỏ cấp cho ở sao Cự Môn.

Trong đám trung thần bên cạnh Trụ vương còn có Văn Thái Sư là tể tướng vừa là đại nguyên soái của Ân triều. Quân của nhà Ân bị nhà Chu đánh thua. Văn Thái Sư chết tại tiền trận. Vong hồn lên trời được Thái Bạch Kim Tinh cho cai quản sao Thiên Tướng.

Bất luận, theo lý ra phải sau khi chết mới được làm thần, chỉ duy Lý Nguyên Súy đại tướng của nhà Chu là Thái Bạch Kim Tinh theo lệnh của Ngọc Hoàng xuống mời về làm thần ngay từ lúc còn sống. Nơi trị nhậm của Lý Nguyên Súy là Thiên Lương tinh.

Hoang Phi Hổ uất ức vụ vua Trụ làm nhục vợ mình gây ra cái chết oan uổng cho Giả phu nhân nên nổi lên, đem binh mã đánh lại Trụ vương rồi về đầu hàng Vũ Vương, Ông đánh trận rất hăng, thu được được nhiều thắng lớn, cuối cùng Hoàng Phi Hổ chết thảm trong trận Thằng Trì. Thái Bạch Kim Tinh đón vong hồn Phi Hổ về cai quản sao Thất Sát và phong làm thần chiến tranh chuyên coi việc sát phạt.

Sau chót là Trụ Vương vì mê Đát kỷ, hãm hại trung thần bị Vũ Vương khởi binh phạt tội. Vũ Vương tấn công vào tận cung điện của Trụ Vương. Hết đường Trụ Vương leo lên lầu cao đốt lửa và chết trong đám cháy. Trụ Vương chết rồi, Thái Bạch Kim Tinh cho mang vong hồ về sao Phá Quân, phong làm thần Phá Hoại.

Trong Tử vi, Phá Quân tượng trưng tính hưng bạo, ngang ngược.

manutd
05-16-2007, 09:58 PM
Vận vô chính diệu đối với mệnh vô chính diệu

Ít nhất gặp vận VCD thì 1/3 vận đầu sẽ bế tắc, danh dỡ, thời gian còn lại thì tùy thuộc vào hai cung tam hợp của vận có sáng sủa hay không, đồng thời kết hợp theo thiên thời (Tam hợp vận d/v tam hợp mệnh), Hành cung Vận với hành Mệnh mà tăng hay giảm.

Theo bác Thiên không bên vietshare.com thì trong 01 đại vận thì chính cung vận quản 1/3 vận đầu, tùy theo Dương nam, âm nữ theo chiều thuận, Âm nam, dương nữ theo chiều nghịch cung tam hợp kế tiếp quản 1/3 vận kế tiếp, 1/3 vận còn lại do cung tam hợp vận còn lại quản. Cung Chính Chiếu là môi trường hoạt động của Vận (Giống như Thiên di chính chiếu mệnh). Nếu có T-T ở cung VCD thì giảm xấu cho 1/6 vận đầu.

Nguyên tắc trên tưởng là mới nhưng thật ra rất cũ, qui luật của hình xoắn ốc: nguyên tắc của vũ trụ, từ việc hình thành vũ trụ, qui luật các tinh tú xoay với nhau, tưởng phức tạp nhưng chia ra lại đơn giản, như trong dãi thiên hà, Mặt Trăng quay quanh trái đất, trái đất quanh Mặt trời (Mệnh là Mtrời, Dvận là Tđất, tiểu vận là Mtrăng). Trong Tử vi áp dụng rất rõ ràng, Đvận cũng quay quanh theo một hình xoắn ốc nhất định không nằm ngoài qui luật đó.

Tam hợp đvận nếu tổng luận thì lấy tất cả sao để luận, còn phân chia thời gian 1/3 để luận (VD: có K-K trong vận, thì K-k chỉ gây tác dụng thời gian nhất định thôi, K-k nằm ở đâu tác hại theo thời gian tương ứng chứ không thể tác hại trong 10 năm được) thì theo nguyên tắc trên, nếu kết hợp với qui luật lưu niên đại vận thì có sự hòa hợp nhịp nhàn với nhau. Còn qui luật Âm dương nam nữ thuận nghịch đó là qui luật đã được sách vở nói nhiều.

manutd
05-16-2007, 10:14 PM
Khác biệt giữa Tử vi Đài Loan và Việt Nam

1. Theo ông Vương Đình Chi, mệnh lý gia HK, thì tử vi Đài Loan là hậu thân của Mân Phái (địa bàn tỉnh Phúc Kiến).
2. Đại hạn khởi y như VN (chỉ mới thấy một quyển khởi từ phụ mẫu & huynh đệ).
3. An Linh Tinh khác Việt Nam (vận hành cùng chiều với Hỏa Tinh).
4. Hầu hết bỏ hẳn Tuần Triệt hoặc ghi trên lá số nhưng không xem. (Tuy nhiên, có gặp duy nhất một quyển nhấn mạnh rằng phải giữ Tuần Triệt mới đúng.)
5. Coi các sao Âm Sát, Thiên Vu khá quan trọng (những sao này Tử Vi VN không dùng đến).
6. Gọi sao Địa Không của Tử vi VN là Thiên Không.
7. ĐL không hề biết đền cách coi vòng Thái Tuế của cụ Thiên Lương.
8. Tử Vi đã qua mặt tử bình về trình độ phổ biến. Các bài dùng mệnh lý luận nhân vật trong khoảng thời gian 95-01 đều dùng tử vi.

manutd
05-16-2007, 10:18 PM
Thuyết Năng lượng về Tử vi

Bài viết của bác Đông Tà

Nhân vừa post bài nêu băn khoăn về sự can thiệp của y học hiện đại lên số mệnh con người và suy nghĩ về vấn đề này, ĐT vừa mới đọc được đâu đó (sorry, ĐT quên mất ở đâu vì lúc đó khuya quá) về một quan niệm về Tử Vi mà ĐT thấy rất thú vị và có thể giúp phần nào giải thích một số hạn chế của môn tử vi và băn khoăn của những người nghiên cứu môn tử vi. Nay ĐT post lên để mọi người bình và tham khảo. ĐT mạo muội đặt tên cho quan niệm này là Thuyết Năng Lượng về Tử Vi.

Khái niệm khoa học về tử vi: Mỗi một con người được kết hợp bởi các luồng năng lượng với các mức năng lượng khác nhau trong vũ trụ. Và tử vi là một môn nghiên cứu những luồng năng lượng này và biểu đạt chúng thông qua các tinh tú.

Vì vậy, lá số tử vi có thể được coi như một bảng mã năng lượng (như bảng mã gen) của mỗi con người. Mỗi tinh tú trong lá số tử vi tượng trưng cho một luồng năng lượng nhất định của đương số (Có nghĩa trong con người ta có 108 hay 114 loại năng lượng khác nhau tuỳ theo số sao mà mỗi trường phái tử vi xác định). Mức năng lượng mạnh yếu (độ sáng miếu, vượng, bình, hãm địa của sao) của một loại năng lượng (tinh tú tử vi) phụ thuộc vào điểm mốc không gian và thời gian (năm tháng ngày giờ địa điểm) mà đương số được sinh ra.

Quan niệm khoa học về tử vi này đưa ra một số quy tắc sau:

Quy tắc 1 - áp dụng cho tác động của luồng năng lượng (sao) đơn lẻ : Với mỗi một mức năng lượng khác nhau (sao miếu vượng bình hay hãm) mà người ta sẽ có tính cách (và) cách phản ứng lại các yếu tố tác động lên cuộc đời (mệnh) của họ một cách khác nhau. Điều này tạo nên sự khác biệt về mệnh giữa người này với người kia.

Quy tắc 2 - áp dụng cho sự kết hợp giữa các luồng năng lượng và các mức năng lượng khác nhau (sự phối chiếu giữa các sao tử vi): Với mỗi một sự kết hợp giữa các luồng năng lượng (phối chiếu giữa các sao tử vi) khác nhau và với các mức năng lượng khác nhau (sao miếu vượng bình hay hãm) mà đương số sẽ có tính cách (và) cách phản ứng lại các yếu tố tác động lên cuộc đời (mệnh) của họ một cách khác nhau. Điều này tạo nên sự khác biệt về mệnh giữa người này với người kia.

Quy tắc 3 - về sự khác biệt về mức độ tác động của các luồng năng lượng lên cuộc đời con người (hay sự phân loại chính tinh, phụ tinh): Con người bị tác động bởi một số luồng năng lượng đặc biệt (chính tinh) nhiều hơn các luồng năng lượng khác (phụ tinh). Và các luồng năng lượng này có thể được phân loại theo tính chất tác động hay tốt xấu (quý, phú, thiện, tài, hung, cát tinh...)

Quy tắc ...

Quy tắc n - Giải thích sự khác nhau về mệnh giữa những người sinh trùng năm tháng ngày giờ (thậm chí địa điểm): Bảng mã năng lượng chỉ chỉ ra xu hướng ứng xử, tính cách hay cách thức mà một người phản ứng lại các yếu tố tác động lên cuộc đời họ mà thôi chứ bảng mã năng lượng này không quyết định những yếu tố nào sẽ tác động lên cuộc đời của một người. Và mặc dù xu hướng ứng xử, tính cách hay cách thức mà hai người cùng phản ứng lại các yếu tố tác động lên cuộc đời họ là giống nhau vì hai bảng mã năng lượng của họ là giống nhau, nhưng các yếu tố tác động lên cuộc đời họ là khác nhau (hoặc giống nhau nhưng tại các thời điểm khác nhau) nên cuộc đời (số mệnh) của hai người có cùng năm tháng ngày giờ địa điểm là khác nhau (mặc dù vậy phải công nhận trên thực tế nhiều trường hợp những nét chính về cuộc đời của họ là tương tự nhau). Cách giải thích này nâng cao tầm quan trọng của các yếu tố xã hội (bên ngoài) tác động lên một người và cuộc đời của anh ta. Điều này phù hợp với học thuyết giai cấp tiên tiến.

Ta có thể thấy, có nhiều quy tắc hay các logic tử vi truyền thống mà ta có thể suy ra hay giải thích dựa vào quan niệm khoa học về tử vi này . Và với quan niệm này, ta có thể nhìn lại sự phát triển của môn tử vi và sự phát triển của thời đại. Hôm trước có bạn trên diễn đàn đề nghị nên thêm vào tử vi một số sao mới để tử vi có thể giải thích xã hội hiện đại một cách hợp lý hơn. Điều này hoàn toàn có thể nếu ta cho rằng những luồng năng lượng hình thành nên con người ngày nay khác ngày trước (chẳng hạn chúng ta ăn những đồ ăn khác trước, sử dụng máy vi tính và bị tác động bởi những luồng năng lượng khác trước...). Đây có thể dẫn tới một cách tân và mang lại một bộ mặt mới cho môn tử vi

Phải chăng nếu theo quan điểm này, ta có thể nhìn môn tử vi với một con mắt khoa học hơn và cận tâm lý hơn.

Phụ lục:

Một phần mười các ngôi sao có thể hỗ trợ sự sống

Cứ 10 vì sao trong dải thiên hà của chúng ta thì 1 có thể cung cấp những điều kiện sống cần thiết cho sinh vật bậc cao tồn tại, các nhà nghiên cứu Australia cho biết. Và hầu hết những ngôi sao này trung bình già hơn mặt trời 1 tỷ năm, trên lý thuyết là đủ lâu để bất cứ dạng sống nào tiến hóa.

Khái niệm "vùng cư trú thiên hà" (GHZ) trong Milky Way lần đầu tiên được đưa ra vào năm 2001. Nay Charles Lineweaver thuộc đại học New South Wales và cộng sự đã tìm ra một vùng GHZ thân thiện với sự sống, khi dùng mô hình tiến hóa của Milky Way để lập bản đồ sự phân bố trong không gian và thời gian của 4 nhân tố chính được xem là cần thiết cho dạng sống bậc cao.

Nhân tố đầu tiên là sự xuất hiện của các ngôi sao chủ trong một hệ mặt trời. Tiếp đó là sự xuất hiện của các nguyên tố nặng đủ để hình thành nên các hành tinh đất đá. Nhân tố thứ ba là vùng này phải có một khoảng cách an toàn với những vụ nổ siêu tân tinh. Và cuối cùng là phải có đủ thời gian để sự sống tiến hóa. Nhóm nghiên cứu đã xác định con số tối thiểu cho nhân tố thứ tư là 4 tỷ năm (đây là thời gian để các dạng sống phức tạp xuất hiện trên trái đất).

Phân tích cho ra kết quả vùng GHZ có dạng đĩa, hình thành khoảng 8 tỷ năm trước, nằm cách tâm Milky Way khoảng 25.000 năm ánh sáng. Nó mở rộng chậm chạp, chứa các ngôi sao có tuổi đến khoảng 4 tỷ năm trước, tức là gần 10% tất cả các ngôi sao từng được sinh ra trong thiên hà này.

Nhưng theo một số nhà nghiên cứu khác, hiện chúng ta còn biết quá ít về những điều kiện cần cho sự sống (như nguồn gốc sự sống) và do vậy rất khó để nói về vùng mà các dạng sống có thể cư trú.

Lineweaver nhấn mạnh nhóm của ông không ngụ ý rằng các dạng sống phức tạp ngoài trái đất là có thể, hoặc tồn tại trong vùng GHZ, mà chỉ cho biết vùng này có tiềm năng nhất để hình thành các sinh vật sống bậc cao. Nhóm nghiên cứu cũng cho biết các công trình tiếp theo sẽ thử nghiệm tầm quan trọng của 4 nhân tố trên.

manutd
05-16-2007, 10:34 PM
Bài thơ đoán các sao Tử vi

CÁC CHÍNH TINH

1. Tử Vi:
Tử vi mặt đỏ, lưng dầy
Tính tình trung hậu, người dầy phương viên
Mệnh an Ngọ, song tuyền phú quý
Tuổi Giáp, Đinh duy chỉ hai người
Tử vi toạ thủ cửa trời
Nếu vô Sát Tấu, một đời công khanh
Vận suy, hạn nhược chẳng lành
Được sao Tử đóng bên mình giải hung
Tử, Tang, Tả, Hữu hội trung
Có người con gái lộn chống tìm ra.

2. Thiên Cơ:
Sao Thiên Cơ đồng cung Quyền, Kỵ
Tổi Tuất, Thìn, túc trí cơ mưu
Thông minh, biến hoá đủ chiều
Cự, Cơ, Tý, Ngọ mỹ miều lắm thay
Tuổi Đinh, tuổi Quý mới hay
Thạch Trung Ẩn Ngọc, cách này trời ban
Những người tuổi Bính, tuổi Tân
Cự, Cơ, Mão, Dậu thập phần giàu sang
Lâu đài gấm vóc thênh thang
Xum xuê hoa lá, đầy dương bạc tiền
Cự Cơ Tuần Triệt tại Điền
Tư cơ cha mẹ không truyền cho con
Cơ, Lương, Thái Tuế, Tang Môn
Lâm vào chón hãm, cành con chớ trèo
Cự ngộ Hổ, chó đá chầu
Ngộ Dương Đà, có thạch đầu tại gia
Thiên Cơ, Bạch Hổ mà gia
Tang Mông, Điếu Khách, là sa hoàng tuyền.

3. Thái Dương:
Thái Dương chủ Quan lộc tinh
Ngọ cung, Hoả mệnh quang vinh nhất đời
Địch quốc chi phú là người
Tranh quyền chi vị nết thời khó thương
Cư cung Mão Lương, Xương, Lộc hội
Tuổi Tuất, Thìn cách tốt vinh xương
Chính là Nhật xuất phù tang
Giữ ngôi tể tướng quyền sang nhất triều
Dần đến Ngọ là chiều cát vượng
Trí thông minh, hình tướng gọn gàng
Ở ăn tuơm tất đoàng hoàng
Chuộng điều phước thiện, tránh đường vô liêm
Canh niên, Mão vị không hiềm
Tuổi Nhâm, cung Ngọ quý quyền hanh thông
Thái Dương, Hợi địa vất dung
Từ Dầu tới Sửu nghịch dòng chẳng hay
Dương, Đà, Không, Kiếp ăm mày
Mua phiền chuộc não lo ngày lo đêm
Thiết bi hãm sắc, tính hèn
Dương, Đà ngộ Kỵ, mắt phiền kém tươi
Gia nhân sạ khứ, sạ hồi
Bởi sao Nhật Nguyệt hãm ngồi Nô cung
Thiên Tài ngộ Nhật bất trung
Tình tình nhâng nháo, để dưng Phật Thần.

4. Vũ Khúc:
Vũ Khúc là sao Kim hình
Vóc người nho nhỏ, tính tình thanh cao
Chí cương chí nghị, anh hào
Khoan dung đại lượng lược thao gồm tài
Mệnh Sửu, Mùi đồng hai Văn, Vũ
Tuổi thổ phùng Thai, Toạ tam phương
Binh quyền vạn lý nghênh ngang
Anh hùng danh trấn chư bang một nhà
Ai người tuổi Thổ, Kim hoặc Mộc
Gặp Tham Lang, Vũ Khúc đồng liêu
Van mô, vũ lược kiêm ưu
Mộ trung Thai Toạ, cách siêu mọi người

5. Thiên Đồng:
Thiên Đồng Mắt lớn lưng dầy
Vóc người mập mạp, diện đầy phương viên
Tâm cao chí đại nhưng hiền
Không cao ngạo, dẫu bút nghiên thực tài
Đãn hiềm Đà, Kỳ lâm lai
Mắt lươn ti hí, lại hay ngồi đồng
Cùng Kình Dương toạ Ngọ cung
Với sao Phượng, Giải anh hùng một phương
Dần Thân cung, Đồng Lương đắc cách
Giáp, Tân, Canh Thủ bạch thành gia
Thiên Lương, Nguyệt Đức chiếu kề
Một là đạo sĩ, hai là tăng nhân
Với những người tuổi Thân, Thìn, Tý
Cách Đồng Lương Cơ Nguyệt tạo nên
Quan sang, lộc trọng vững bền
Cửa nàh cao rộng, bác tiền đầy kho.

6. Liêm Trinh:
Liêm Trinh hoả vượng thân tràng
Lộ hầu, lộ nhãn, mắt vàng mày thưa
Cư Thân, Mệnh hoá Đào Hoa
Ăn chơi, phóng đãng, xa hoa khác người
Hãm cung đóng tại Sửu, Mùi
Riêng hợp tuổi Bính thành người giầu sang
Cùng Tướng, Lộc hội tam phương
Quyền cao, lộc trọng, phong quan mọi đàng
Dần Thân với Khúc, Xương đồng củng
Văn đã hay, võ cũng đồng tài
Anh hùng cái thế trong đời
Liêm Tham Tỵ Hợi, gặp thời huyền tu

7. Thái Âm:
Mệnh Thân có Thái Âm toạ chủ
Hợi cung, người mệnh Thuỷ, Mộc, Kim
Các là Nguyệt Lãng Thiên Môn
Tư cơ đồ sộ, quyền môn chói loà
Âm hội Lộc, Quyền, Khoa cư Tý
Tuổi Quý, Nhâm, phú hiểm trăm phần
Thiên Lương, Nguyệt diệu, dâm bần
Ngộ Dương, Đà phải thương thân, tán tài
Hội Tả, Hữu, Lộc Tồn, Vũ Khúc
Cách riêng cho những bặc phú ông
Thái Âm ngộ Kỵ, Hình đồng
Mắt mờ, có tật, bằng không mù loà

8. Tham Lang:
Tham Lang biến khả thành Đào
Mệnh Tham Sinh Vượng ssống lâu hơn người
Tham Linh Hoả an bài Tứ Mộ
Ngôi công hầu triệu phú gia tư
Tham Lang ác sát đồng cư
Cẩu thân thử thiết nghề tư chính nòi
Tham với Tả, Hữu, Khôi, Việt hội
Mộc sinh nhân thầy bói lừng danh
Tham Lang, Vũ Khúc đồng hành
Mệnh cư Mùi, Sửu tất thành phú thương
Tham nhàn, hội Văn Xương, Văn Khúc
Chính thực chàng đại dóc ba hoa
Cư Hợi, Tý, ngộ Dương Đà
Cuộc đời phiếm thuỷ đào hoa bồng bềnh
Hai tù tinh Tham, Liêm Tỵ, Hợi
Ngộ Triệt, Tuần phản hữu kỳ công
Tham Hoả miếu, cách phú ông
Tham Linh tịnh thủ Tướng hùng vang danh.

9. Cự Môn:
Thân Mệnh, Cự Môn, Tý, Ngọ chuẩn
Phùng Triệt Tuần Ngọc ẩn thạch trung
Cách này phú quý vô song
Cự phùng Quyền, Lộc cũng đồng vinh xương
Cự, Đà, Tấu, Tuế một đoàn
Tháng ngày chầu chực công môn miệt mài
Cự Môn, Thìn, Tuất hai nơi
Đầu đình, góc chợ những người ngụ cư
Duy tuổi Tân phản vi phú quý
Vì Cự Môn phương vị Tốn, Tân
Sao Cự Nhật cung Dần, Thân
Ngộ Quyền, ngộ Phượng phong vân gặp thì
Ngành Tư Pháp luật sư cãi giỏi
Mệnh Cự Môn hội với Tuế, Hình
Ai người miệng kín như bình
Thái Tuế, Việt, Kỵ song hành Cự Môn.

10. Thiên Tướng:
Tướng Ấn chính vị Công Hầu
Binh, Hình, Lộc, Mã hội chầu Mệnh Viên
Cung Thìn, Tuất, Mệnh an Tướng thủ
Quan Lộc cung vượng khí công danh
Thiên Tướng chẳng kỵ Sát tinh
Chỉ hiềm Tuần, Triệt đầu mình phân hai
Thiên Tướng là mặt con người
Hương trời sắc nước mệnh ai Tướng, Hồng
Đãn hiềm lấn át quyền chồng
Tướng, Phục, Hình, Kỵ bóng đồng tốn hao
Tướng và Khúc hội Đào, Mộc, Cái
Sắc khuynh thành, chết nỗi dâm bôn.

11. Thiên Lương:
Thiên Lương mộc chủ Thọ tinh
Đóng cung Thân, Tuất, Thìn, Dần mới hay
Nữ lưu thủ mệnh phúc dầy
Hao, Hình, Kiếp, Sát một bầy tai ương
Mệnh cung Ngọ thượng Thiên Lương
Tuổi Đinh, Kỷ, Quý quyền sang nhất triều
Hội Thất Sát, Song Hao tại Tỵ
Phải đề phòng hiểm hoạ đao thương
Ngộ Trì soi bóng đài gương
Vị công hầu, hội Văn Xương một nhà
Tuổi hoa nở, đăng khoa cao chiếm
Bởi Thiên Lương thủ mệnh Tý cung
Xương Lộc hộ Nhật chiếu xung
Đè đầu sĩ tử, văn hùng nhất danh.

12. Thất sát:
Thất Sát thuộc Kim ưng đới Hoả
Đóng Dần, Thân miếu địa an bài
Giáp, Canh, Đinh, Kỷ bốn người
Danh cao, lộc trọng một đời vinh xương
Sát, Xương, Khúc tứ phương cùng phục
Tổi Mão, Thân thọ phúc song toàn
Tốn cung Sát, Tử đồng ban
Đề Huề Bảo Kiếm võ quyền kinh uy
Ai người Lộ thượng mai thi
Vì sao Liêm, Sát đồng cung Sửu Mùi
Ai người trận địa thây vùi
Vì sao Kình, Sát đứng ngồi Ngọ cung
Sát tuyệt địa Đà, Dương xung chiếu
Thầy Nhan Hồi yểu chết than ôi
Nữ mệnh Sát, Ngọ, Tý ngồi
Ngộ Riêu, Kiếp phải lệ rơi vì tình.

13. Phá Quân:
Phá Quân thuộc Thuỷ, Hao tinh
Hào hùng, phúc hậu gian manh tuyệt vời
Tuổi Canh, Quý Phá ngồi Ngọ, Tý
An Mệnh viên Miếu vị anh tinh
Anh hùng cái thế, tranh vanh
Cùng Vũ, Tỵ Hợi đóng thành tây tan
Phải chờ tới vãn niên mới khá
Đồng Khốc Hư Tịch thủ xưng hùng
Giang sơng một kiếm vẫy vùng
Miệng cười rộn rã nhưng lòng vẫn nghi
Đã táo bạo, còn ưa lịnh bốc
Phá, Tham cùng Mã, Lộc dâm lang
Hoả, Hao ngộ Phá tai ương
Phá Quân, Linh Hoả muôn phương dãi dầu
Kình đồng Phá lại chiều Phụ Bật
Mão Dậu cung là đất nghịch thường
Hoàng Sào lâm loạn trào cương
Nhân dân đồ thám, thực phường bất nhân
Trai bất nhân, Phá Quân Thìn Tuất
Ngộ Khoa, Tuần phản ác vi lương
Tuổi Mậu, Quý lắm bạc vàng
Hoạnh tài bộc phát giàu sang một đời.

manutd
05-16-2007, 10:35 PM
CÁC SAO PHỤ TINH

1. Văn Xương:
Sao Xương, Khúc chủ văn chương
Đồn lâm Thìn, Tuất chi hương tuyệt vời
Miên nhi bất tú Nhan Hồi
Văn Xương ngộ Kỵ một đời tài hoa.

2. Văn Khúc:
Văn Khúc chủ văn chương thuộc thuỷ
Mệnh, Thân lâm nhị mộ Tuất Thìn
Phùng Khoa, Tuế với Hoá Quyền
Văn chương hùng biện hoàn toàn giỏi giang
Ví cùng Vũ Khúc đồng hương
Tướng kiêm văn võ, vinh quang một đời.

3. Tả Phụ:
Tả Phụ là sao phù trì
Tả, Hữu thủ Mệnh, là đi phương ngoài
Gặp Tả, Hữu, Thân thủ đúng cách
Ngôi công hầu hiển hách một đời
Mộ cung Tả, Hữu đồng lai
Thăng quan tiến chức một đời hiển vinh.

4. Hữu Bật:
Phụ, Bật ngộ Thái Âm nhàn
Chuyên làm bà đỡ, gúp đàn sơ sinh
Phụ Bật, Khúc, Tướng đồng viên
Thầy lang, Bác sĩ danh truyền lương y.

5. Thiên Khôi - Thiên Việt:
Khôi, Lương Thanh, Việt, Cái, Hồng
Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
Hồng, Khôi, Xương, Tấu đề huề
Sân rồng, bảng hổ danh đề một hai
Khoa, Quyền, Lộc, Mã, Việt, Khôi
Công thành danh toại, một đời hiển vinh.

6. Thiên Mã:
Mệnh cung trung đóng sao Thiên Mã
Tại Dần cung gọi mã Trạng Nguyên
Tể tướng Mã, Thân cung an
Ô Truy Ngự Sử, Hợi nhàn Mã lâm
Phù thi Mã, Hình xâm Mã vị
Xích thố Mã, cung Tỵ Mã ngồi
Mã, Đà triết túc què rồi
Giao trì Lộc, Mã tiền tài đầy kho.

7. Lộc Tồn:
Mệnh có Lộc Tồn, Phá, Không
Cát biện phản biến vi hung tức thời
Uyên ương Lộc hội tốt vời
Công danh hiển hách một đời giầu sang
Song Lộc thủ Mệnh quyền chuyên
Lộc đảo, Mã đảo hết phiền lại lo.

8. Kinh Dương:
Kình Dương Thìn Tuất Sửu Mùi
Tam phương cát chiếu một đời giầu sang
Mệnh viên Ngọ, toạ Kình Dương
Mã đầu đới kiếm biên cương trị vì.

9. Đà La:
Đà La bản tính chẳng lành
Dần, Thân, Tỵ, Hợi đồng hành vượng cung
Đà La hãm địa tối hung
Cuộc đời cơ cực,k hình bồng độ thân.

10. Hoả Tinh:
Hoả Tinh lửa đốt tứ bề
Tỵ, Ngọ, Dần, Mão đề huề vượng cung
Hoả cư Hợi, ngộ Tuyệt đồng
Tham, Hình cũng hội, lẫy lừng uy danh
Hoả Tinh Điền Trạch độc hành
Của nhà tiền bạc tan tành ra tro.

11. Linh Tinh:
Linh tinh là điện lửa trời
Tý, Ngọ, miếu đại, hãm thời Dậu, Thân
Linh Tinh, Thiên Việt ở gần
Gió mưa sấm sét phải cần tránh xa
Kẻo mà sét đánh oan gia.

12. Hoá Lộc:
Hoá Lộc thủ Mệnh cung
Tý, Ngọ, Mão, Dậu là vùng tốt tươi
Lộc Tồn, Hoá lộc sánh vai
Chẳng bằng củng chiếu, đông Đoài song phương.

13. Hoá Quyền:
Hoá Quyền chủ thế anh hùng
Dần, Mão,Tý, Hợi là cung miếu đường
Quyền hội Thất Sát, Cự Môn
Công danh hiển hách, quyền tôn nhất Triều.

14. Hoá Khoa:
Hoá Khoa chủ văn chương thi cử
Hợi, Dần, Thân, Tỵ thủ Mệnh cung
Công danh khoa bảng hanh thông
Khoa tinh vị tướng giải hung tuyệt vời.

15. Hoá Kỵ:
Hoá Kỵ sao chính Kế Đô
Âm trầm, cơ sảo mưu đồ cạnh tranh
Hoá Kỵ hội với Quyền tinh
Đường mây nhờ ở cơ mưu tuyệt vời
Hợi, Tý, Dần, Mão, Dậu, Thân
Sáu cung vượng đại Kỵ tinh an bài.

16. Thiên Không:
Hạng Võ anh hùng ngộ Thiên Không táng quốc
Thạch Sùng hào phú, phùng Địa Kiếp vong gia
Thiên Không hội với Đào Hoa
Cầm kỳ, thi hoạ tài ba tuyệt vời
Cơ mưu quyền biến hơn người
Ngàn năm bạc mệnh là đời tài hoa.

17. Địa Kiếp:
Địa Kiếp là tốt hung thần
Đóng đâu hại đó, là phần hiểm nguy
Hai cung Tỵ, Hợi miếu vì
Hoạnh phát, hoạnh phá tựa thì sấm ran.

18. Thiên Hình:
Cung Dậu có Tuế ngộ Hình
Tai sinh, hoạ chí mà mình chẳng hay
Thiên Hình, Dương nhận cả hai
Hội cùng Kiếp Sát nay mai vào tù
Đến già chẳng có con thơ
Bởi Hình Sát, Hổ ngồi toà Tử cung
Hình lâm Quan lộc, Cự Đồng
Võ nghiệp tiến phát, đền rồng chầu vua.

19. Thiên Riêu:
Thiên Riêu phóng đáng ngao du
Quái tinh khi tỏ, khi mờ dâm phong
Hình Riêu phận gái long đong
Ví chẳng lộn chồng, ắt cũng phản phu
Thiên Riêu, Long, Phượng một nhà
Thiên hương quốc sắc, nõn nà giai nhân.

20. Thiên Khốc-Thiên Hư:
Khốc, Hư Tý, Ngọ cung Mệnh thủ
Hội Mã, Hình nghiệp võ hiển dương
Khốc, Hư hội với Kình Dương
Hữu sinh vô dưỡng, ngộ Tang mất người
Hậu thành, tiên trở trong đời
Bởi sao Hư, Khốc cùng ngồi Mệnh viên.

21. Hồng Loan:
Sao Hồng Loan hội cung Tử, Phủ
Gái chính chuyên, thục nữ ngàn xưa
Hồng Long ngộ Kỵ cung Phu
Gái ngồi quạt mồ, lòng dạ xốn xao
Hồng Cơ, Tấu, Vũ, Hỷ, Đào
Câu ca, điệu vũ nghề nào cũng tinh.

22. Thiên Hỷ:
Sao Thiên Hỷ, chủ mừng vui
Thiên Hỷ thủ mệnh, mệng cười có duyên
Hỷ Thần, Thiên Hỷ, Hồng Loan
Ba sao đem lại hân hoan trong đời.

23. Tham Thai - Bat Toạ:
Giáp Bát Tạo, giáp Tam Thai
Thiếu niên sớm dự lâu đài nghêng ngang
Hoả, Linh, Kình, Tấu đồng ban
Tung hoành bút phượng trong làng văn nhân
Bút hoa vùng vẫy phòng văn
Tài riêng thiên phú người, Tân, Tốn, Đoài
Cần Hợi ngoạ bút vẽ vời
Mão, Dậu bùa ấn, bút người Pháp sư.

24. Long Trì-Phượng Các:
Long Trì, Phượng Các hai sao
Cung Mùi, cung Sửu đóng vào vượng thay
Riêu, Hỷ, Khốc rồng bay gặp hội
Chốn thi đình danh vọi vọi cao
Cái cùng Long, Phượng, Hồng, Đào
Chủ quyền nội tướng, anh hào hàng hai
Phượng Long giáp Mệnh có tài
Trước sau vinh hiển ra ngoài lợi danh.

25. Ân Quang-Thiên Quý:
Mệnh Thiên Quý chẳng phùng Không sứ
Hội Khoa, Xương sĩ tử nể vì
Thông minh tài học ai bì
Lọng vàng, ngựa tía cờ khoe rợp trời.

26. Cô Thần:
Cô Thần, Quả Tú hai sao
Thiết thân chẳng có bạn nào với ai
Tử Tức mà ngộ cả hai
Gian truân vất vả về hài nhi sinh.

27. Quả Tú:
Quả Tú mà ngộ Thiên Hình
Tuổi già đầu bạc một mình không con
Chữ rằng: "Hoạ phúc vô môn"
Tam phương cát chiếu có con muộn màng.

28. Phi Liêm:
Phi Liêm ngộ Hoả, Linh, Hình, Việt
Thành đạn tên bắn giết hại thay
Phi Liêm hội Mã, hổ bay
Công thành danh toại, rồng mây gặp thời.

29. Thai Phụ-Phong Cáo:
Thai Phụ, Phong Cáo Khoa tinh ngộ
Bước công danh mở rộng đường mây
Cát tinh hội với Cáo, Thai
Công danh thẳng tiến lâu đài nghênh ngang.

30. Hoa Cái:
Khôi, Lương, Thanh, Việt, Cái, Hồng
Trai cận cửu trùng, gái tác cung phi
Hoá Quyền, Hoa Cái hội về
Cùng Hổ, Long, Phượng quyền uy hơn đời.

31. Đại Hao- Tiểu Hao:
Song Hao thuộc thuỷ đại hà
Mão, Dậu thủ mệnh, chính là miếu cung
Cách là: "Chúng Thuỷ Triều Đông"
Phát tài, phát lộc vào không bến bờ
Tham Lang ngộ Hao một nhà
Cầm vàng nhịn đói, lệ hoà miếng ăn.

32. Thiên Đức:
Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng
Trai lấy vợ đẹp gái chồng giầu sang
Thiên Nguyệt Đức tạo chiếu phương
Cùng là quan phúc trừ hung cứu người.

33. Thanh Long:
Thanh Long Mệnh, Phúc, Thân toạ thủ
Tại Thìn cung, mệnh Thổ Âm Nam
Hoạ Kỵ chiếu hợp tam phương
Tuổi Đinh, tuổi Kỷ toại đường công danh.

manutd
05-16-2007, 10:37 PM
Thơ đoán âm phần

Hoặc Thổ hoặc Kim
Khả suy hỷ dụng
Hoặc Mộc hoặc Hoả
Khả nhận kỳ hình

Coi sao cung Phúc-đức mà đoán họ hàng mồ mả

Thái-dương tam đại dương phần
Thái-âm tam đại âm phần
Hãm thời tứ đại mộ phần
Thiên-đồng tam đại mộ ông bồn đời
Vũ-khúc, Thiên-tướng năm đời
Cơ, Tham thứ sáu, bảy đời Cự Lương
Tử, Phủ thượng tổ ngôi dương
Liêm-trinh, Sát, Phá mộ nhường đất không
Mộ ông viễn tổ chẳng không
Việt, Khôi, Xương, Khúc mộ ông ba đời
Thiên-quan, Thiên-phúc hai đời
Phượng-các mộ mới cùng nơi Hỷ-thần
Mộ xưa phúc đức âm phần
Cửa nhà dương trạch đã phân xong rồi.

manutd
05-16-2007, 10:43 PM
Tử vi và Tử bình, cái nào chính xác hơn ?

Mỗi môn có sở trường riêng. Tứ trụ đoán được ít việc hơn, nhưng chính vì thề mà dễ luận đoán hơn. Chính xác hơn hay không lại là chuyện khác. Chưa ai có thể kết luận.

Về mặt lịch sử tại các nước ngoài VN, từ xưa đến đầu thập niên 80, tứ trụ là tiêu chuẩn ở Đài Loan HK Hoa Lục... Nhưng bắt đầu từ thập niên 80 có một phong trào dồn dập do rất nhiều nhân tài trí thức khởi xướng, xiển dương khoa Tử vi. Chính ông Phan Tử Ngư, một trong những mệnh lý gia nổi tiếng nhất của Đài Loan (có thuyết ngũ trụ để tăng phần chính xác, thay vì tứ trụ) nhìn nhận trong một quyển sách (Tử vi) rằng thập niên 80 quả là thời của Tử vi, và sự phát triển của Tử vi đã dẫn đến sự suy thoái của khoa tứ trụ trong làng mệnh lý đến độ khoa tứ trụ có nguy cơ bị lãng quên.

Hai môn Tử Vi và Tử Bình mỗi môn có sở trường sở đỏan khác nhau . Tử Bình chính xác hơn nhưng khó luận nhất là phần Dụng thần thủ pháp đã có tới mấy cách như : phù ức nhật nguyên thủ dụng pháp, phù ức dụng thần thủ pháp, thông quan thủ dụng pháp, bịnh dược thủ dụng pháp; qúa rắc rối kết cục nếu chưa có lâu năm kinh nghiệm thì chưa định được dụng thần. Định dụng thần sai thì giải đóan sẽ sai Về môn Tử Vi đã qua nhiều đời và có nhiều kinh nghiệm truyền lại nên dễ. Đóan tổng quát thì dễ nhưng đi sâu vào dự đóan lưu niên thì không chính xác vì chỉ có 12 cung là 4 tam hợp; đi lại cũng chừng đó.

Theo chỗ tôi thấy thì cả hai môn đều chính xác như nhau. Với một điều kiện là chúng ta phải gặp đúng những bậc chân sư. Mà muốn gặp được đúng những bậc chân sư thì cũng phải có cái số "gặp được những bậc chân sư" thì mới thưởng thức được hết những cái huyền diệu kỳ ảo của cả hai môn tử vi và tử bình.

Những bộ môn vận mệnh học huyền bí như tử vi tử bình và tướng mệnh có nhiều điểm tương đồng rất là kỳ dị đến độ "huyền bí" lắm lắm. Phương pháp của mỗi bộ môn khác nhau xa, nhưng kết quả giống y hệt như nhau (với điều kiện là phải gặp đúng bậc chân sư của mỗi bộ môn).

manutd
05-16-2007, 10:49 PM
Biểu tượng Cha mẹ, ông bà

Thiên Phủ; bà nội
Tử Vi: ông nội
Thái Âm: mẹ
Thái Dương: cha
đóng bất kì đâu trong lá số.

Người có cách Nhật Nguyệt là người hay nghĩ về bố mẹ.
Tại cung Phụ có Ân Quang: có cha mẹ nuôi.
Tại cung Bào có Thiên Quý: có anh chị em nuôi.

Coi Tử vi có 2 bước:
- nhận ra tín hiệu.
- xác định tín hiệu mạnh yếu, thành hiện thực hay không, tín hiệu sẽ biểu hiện ra như thế nào.
bước 2 là quyết định.
Coi số TV ai cũng có sai, nhưng người lấy tín hiệu làm dự đoán thì đa phần là sai.
Vì thế, nhiều bạn coi sách TV thấy băn khoăn thêm là vậy.

manutd
05-16-2007, 11:05 PM
Cách cục lập nghiệp ở xứ người

Mệnh/ Phụ/ Phúc ("/" có nghĩa là có thể là "hoặc", cũng có thể là "và", tùy theo lá số) có Triệt hoặc Tuần.

Mệnh có Tả/Hữu.

Thân cư Di (trường hợp này nếu cung Di lại có Tuần và cát tinh xung/hội chiếu thì về sau có thể lại hồi hương).

Việc xuất ngoại phải xem xét nhiều yếu tố như cung Phúc gặp Tuần Triệt là phải rời xa bản quán quê hương càng sớm càng tốt, mệnh được Tả Hữu cư chiếu cũng có yếu tố xuất ngoại. Thân cư Di gặp Tuần Triệt thì xuất ngoại, nếu gặp nhiều sát tinh cư chiếu thì suốt đời tha phương lập nghiệp, quy tiên ở xứ lạ quê người, còn nếu được nhiều cát tinh phò trì thì về hậu vận hay về gìa sẽ trở về quê hương đoàn tụ được. Muốn biết rõ hơn hạn đi thì xem Thiên Mã tam hợp Phượng các chiếu ở hạn nào thì xuất ngoại ở hạn đó. Thiên Mã cư Di thì là người hay đi lại xuất ngoại.

Ngoài ra kết hợp xem thêm cung Điền là cung Di thứ hai nếu có các sao Hỏa như Hỏa tinh thì phải ly tổ, ly tông sống ở quê người. Nếu cung Điền có sao Thiên Hình ở Dậu cung thì sẽ ly tổ, thay đổi toàn cục cuộc đời. Thiên mã mà cư cung Phu Thê thì yếu tố lập gia đình với người ngoại quốc rất cao. Tôi đã xem qua nhiều lá số trước đây thì thấy khi đến hạn xuất ngoại thì Thiên mã xung chiếu tiểu hạn tam hợp với sao Phượng các hay cung Di thì năm đó họ lên đường xuất ngoại.

việc ly hương xuất ngoại để tạo lập nghiệp phương xa và việc đi xa một thời gian là 2 việc khác nhau. Việc lập nghiệp phương xa mới kể là xuất ngoại, thông thường ai cũng muốn gắn bó với gia đình quê hương cả tuy vậy khi có những biến cố có chiều hướng bước ngoặt hay những những hoàn cảnh bế tắc cần có lối thoát hoặc những cơ hội đưa đến thì người ta xuất ngoại. Con người ai cũng có số mệnh cả do đó không theo ý muốn con người mà theo vận số. Một sự thay đổi nào về vận mệnh thì trước đó sẽ là một biến cố dù tốt hay xấu để chuyển hướng cuộc đời.

Cung Phúc gặp Tuần Triệt án ngữ thì ít nhiều gì là kém phúc rồi do đó cuộc đời không được phong lưu, tọa hưởng kỳ thành. Việc ở lại sinh sống ở quê hương bản quán khi đó không có nghĩa là làm dòng họ suy sụp mà là không thể cất đầu lên được, sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống do đó việc đi xa là giải pháp hóa giải vận số được tốt hơn.

Sao Tả Hữu ở Di thì sẽ lập nghiệp phương xa. Tuần Triệt ở Phụ Mẫu thì dù cung này có tốt hay xấu thì sẽ sớm khắc 1 trong 2 thân, nếu không cũng xa cách song thân tuy vậy khi xem phải bổ cứu thêm các yếu tố khác cho sáng tỏ chính xác.

Tử vi là môn nhiều người biểt, nhiều người tìm học và nghiên cứu nhưng những người thực sự tinh thông thì không nhiều. Theo tôi việc tìm được chân sư cũng không phải là vấn đề tiên quyết mà chính là vấn đề kinh nghiệm + năng lực giác quan thứ 6 nhạy bén.

Sách vở Tử Vi thì nhiều nhưng khi đã đọc qua tất cả các loại sách từ cổ đến kim thì tự nhiên tâm người ta chỉ còn đọng lại nhưng quy luật chủ yếu không phân biệt là sách nào và thầy nào. Sau đó qua quá trình xem nhiều và chứng nghiệm thì việc xem trở thành một quá trình tư duy trừu tượng. Nếu người xem tử vi vẫn còn sa vào những quy luật mang tính máy móc toán học thì chưa thể có những luận giải chính xác và ngoạn mục. Nói tóm lại những công thức và quy luật mang tính sách vở chỉ chi phối đến 50% còn lại là kinh nghiệm và giác quan thứ 6, cái này còn gọi là “duyên nghiệp” với nghề.

Việc xuất ngoại cần xét cung Phúc trước tiên. nếu Phúc tốt, ngành trưởng phát được thì khó ly tổ xuất ngoại. Nếu phúc bị Tuần Triệt, các cách Cự, Đồng, Song Hao + Hoả Linh hoặc Không Kiếp hãm, hoặc có Khôi Hình+ Kiếp Sát thì ngành trưởng khó phát lên, họ lý tán đó là dấu hiệu xuất ngoại.

Nếu cung Di có các cách xuất ngoại thì là điều kiện tiên quyết. Ví dụ có cách Đồng Mã hoặc Cơ Lương, Tả Hữu. Nếu cung Di có các bộ Quang Quý, Tứ Đức hoặc Khoa thì sẽ về đoàn tụ. Quan trọng hơn cả là xét hành của cung Di, Nếu đồng hành hoặc tương sinh thì chỉ đi công tác, du lịch hoặc ngắn ngày. Nếu tương khắc là sinh sống ở đó.

Các bộ khác ở mệnh hoặc ở cung Quan để luận đoán về sự xuất ngoại do công việc hoặc trong thời gian ngắn. Nhiều khi những cách Tả Hữu, Mã, Đồng, Song Hao chỉ luận về tính cách hoặc đặc thù công việc, không thể luận là xuất ngoại một cách vội vàng.

Còn riêng bản thân thì lượm lặt từ sách của cụ Thiên Lương nói Thiên Mã ở Tị của người mệnh Hỏa chứ không phải của người mệnh Thủy. Đối với người mệnh Thủy, Mã này là Mã cùng đường, chỉ có thể chạy loanh quanh Việt Nam thôi.

manutd nghĩ không đi xa được còn thêm yếu tố cung Quan nữa! Vả lại, thấy có trường hợp Mã (hoặc lưu Mã) gặp Triệt (hoặc lưu Triệt) cũng sẽ chẳng đi được đâu xa, có chăng chỉ là ý định hoặc có dịp mà không (hoặc không muốn) tận dụng! Hơn nữa, dù có đầy đủ yếu tố xuất ngoại trong lá số mà trên bàn tay chưa có đường xuất ngoại, cung Di trên mặt chưa có biến chuyển (động hay còn gọi là Dịch mã) thì cũng chả đi đâu được! Có lẽ đây là xác suất 30% còn lại không chính xác của Tử vi chăng?

manutd mới sực nhớ lại có 1 câu phú trong số đàn bà là "Không Vong ngộ Mã quyết tình ly hương" nghĩa là xuất ngoại đó. Không Vong đây là Tuần Triệt. Số trên là Triệt ở Hỏa cung mà. Có Triệt đắc địa mới quí, để mở lối cho Mã chiếu Di cung.

manutd
05-20-2007, 09:28 PM
Cách cục sinh đôi

Nhật nguyệt, Thai đồng cung
Thai, Tả, hữu đồng cung
Tả hữu không đồng cung + Thiên hỷ
Thiên mã, Tả, hữu, Địa không đồng cung
Tả hữu + Thiên phúc + Hoá lộc + Hỷ thần, giáp Thai + Thai phụ.
Thái dương + Thiên hỷ, chiếu có Thái âm + Thiên phúc.

manutd
05-20-2007, 09:34 PM
Ngẫm nghĩ về vòng Thái tuế

Trong Tử vi, phái Thiên Lương đưa ra quan niêm khá đề cao tam hợp Thái Tuế Quan Phù Bạch Hổ. Kiểu như: Thái Tuế là quý, thiếu âm là hèn. Nhưng thiết tưởng vấn đề này còn chưa được kiểm chứng đầy đủ. Nhất là khi mà tiếp quản Tử vi từ cổ xưa chưa thấy Sư tổ Hy Dy Trần Đoàn nhấn mạnh vấn đề này.

Theo tôi vòng Thái Tuế có 12 sao, được chia đều theo 3 tam hơp:

Thái Tuế- Quan Phù - Bạch Hổ
Thiếu Dương- Tử Phù - Phúc đức
Tang Môn - Tuế Phá - Điếu Khách
Thiếu Âm - Long Đức- Trực Phù

thì mỗi một thế cách nó đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, đắc trưng cho mỗi nhóm người. Một khi nhưng ưu điểm của từng nhóm được kết hợp với những cách cục bộ sao cần thiết thì lại là ưu điểm để thành đạt, còn không thì cũng chẳng phải là đã tốt đẹp mà có khi tai hoạ.

Cách Thái Tuế thì kiêu ngạo, có khi cũng là tai và kiện tụng tù tội. Cách thiếu âm nhận nhịn mà có khi ăn thiên hạ. Tôi có anh bạn có Thiếu âm thủ mệnh, thường hay có câu cửa miệng: Chín nhịn, mười lành; càng ngẫm càng thấy thâm sâu.

Theo tôi, học Tử Vi cần nhất là phải có kiểm nghiệm thực tế, sau đó mới kết luận thì sự giải đoán ngày một chính xác hơn nhất là trong bối cảnh nhiều thầy, nhiều sách, nhiều phái như hiện nay. Tôi đọc sách của Thái Thứ Lang, lúc đầu thấy viết rất sơ sài, không giải thích nhiều, nhưng càng đọc, càng ngẫm càng thấy hay. Vòng Thái Tuế cũng vậy, các bạn cứ kiểm chứng thêm nhiều lá số rồi sẽ rõ. Theo tôi môi tam hợp sao chỉ nói lên đặc điểm phong cách của mỗi nhóm người mà thôi, còn nhóm nào cũng có thể thành công trong điều kiện của nó, tuỳ theo sở trường khác nhau mà cách hành động sẽ khác nhau trong thời thế khác nhau.

manutd
05-20-2007, 09:41 PM
Giáp Tử Phủ

Trong Tử vi thường hay nói đến cách giáp Tả Hữu, giáp Khoa Quyền, giáp Khôi Việt, giáp Xương Khúc, Quang Quý, Âm Dương, Tử Phủ...Nhưng có lẽ cách giáp Tử Phủ ít được nói đến.

2 sao Tử Phủ tụ lại theo trục dần thân, tán theo trục tỵ hợi. Vì vậy mà chi có cách giáp Tử Phủ khi Mệnh Thân an tại Dậu, Mùi giáp Tử Phủ đồng cung tại thân, an tại Sửu, Mão giáp Tủ Phủ đồng cung tại Dần, hoặc mệnh tại dần hoặc Thân được giáp Tử vi tại Sửu Mùi, Phủ tại Mão Dậu.

Nhưng xét ra những cách giáp này chỉ có trường hợp mệnh thân tại Mùi, hoặc Dậu có Thiên Cơ, hoặc Thái Âm sáng sủa là hưởng được nhiều cái hay của cách giáp Tử Phủ, còn những trường hợp còn lại thường chính tinh mờ ám nên cũng có phần thua sút mà người đời không coi trọng cách giáp này lắm không?

Thực ra, giáp Tử Phủ cũng là một cách hay của nó đấy. Vì Tử Phủ là đế tinh, gân Vua cung lợi lắm chứ, phúc lộc nhiều. Tôi có người bạn mệnh Thái Âm ở dậu, giáp Tử Phủ ở Thân là cung Huynh đệ nên mặc dù cung tài bạch sinh xuất cho cung Huynh nhưng anh này ngược lại hoàn toàn không hao tán cho anh chị em mà toàn được bà chị giúp đỡ. Chị gái anh ta phát tài, nói chung anh này được lo mọi chuyện, đến khi về nước lập nghiệp chị vẫn phải cho nhà, cho đất, cho vốn mở business. Nhân chuyện này mới này ra ý: có phải chăng cứ cung Âm sinh xuất cho cung Dương mà cung Âm không thu được gì? luận điểm của phái Thiên Lương về chuyện này có thể chưa hết ý. Theo tôi, cung Âm nguyên tắc sinh cho cung Dương, nhưng nó vẫn được lợi nếu như cung Dương sáng sủa vì có sự chiếu qua lại.

Những phú quý Cách như trên còn có giáp Mã Cái (tiền mã hậu cái), giáp Long Phượng, Thai Tọa, Đào Hồng (không lợi cho phái nữ)... Riêng giáp Phúc Ấm thì đã ít nghe nhắc đến, hoặc như giáp Quan Phúc thì duy nhất có người tuổi Giáp mệnh ở Thân mới được mà thôi, ắt quý đến dường nào? Đến như "giáp sinh Lộc", "giáp sinh Khoa", hay "giáp sinh Quyền"... hoặc những cách tương tự cách "giáp sinh" càng ít người biết và chú ý hơn nữa.

Ở đây bàn về giáp Tử Phủ thì sách có câu: "Tử Phủ giáp mệnh vi quý cách". Song Mệnh ở Dần Tử Phủ ở Sửu Mão, hay Mệnh ở Thân Tử Phủ ở Mùi Dậu thì quý hơn là Mệnh ở Mão Dậu hay Sửu Mùi có Tử Phủ ở Dần Thân (dù sao cũng là quý cách). Cách này người Mệnh Giáp, Ất, Bính, Đinh rất đẹp; Mậu Canh khá hiềm Hóa Kỵ; Kỷ Tân đều tốt; Nhâm nên ở Thân. Các cách này còn tuỳ thuộc vào Tuần Triệt, Sát Tinh mà gia giảm...

Trường hợp Tử Phủ Dần nếu mệnh thân ở sửu Mão thì tuổi Bính Đinh Mậu Kỷ Tân Quý tối vi; tuổi Giáp tương đối đẹp, tuổi Nhâm khá tốt không hoàn hảo kẹt Triệt. Ất Canh khá hay hiềm đa lý sự, lý thuyết nhiều hơn thực hành, hoặc có hành động mờ ám vì hắc vân trên đầu. Nếu Tử Phủ ở cung Thân có mệnh thân ở Mùi Dậu thì tuổi Bính Đinh Mậu Kỷ Tân Quý tối vi; Nhâm Quý khá tốt; Ất Canh khá hay hiềm đa lý sự, giống cách Ất Canh ở Dần. Các cách này còn tuỳ thuộc vào Tuần Triệt, Sát Tinh mà gia giảm...

TUVIPHAQUAN
05-23-2007, 10:11 AM
mình muốn hỏi nếu giáp TẢ HỬU XƯƠNG KHÚC THÌ SAO?
MỆNH CÓ TỬ,PHỦ TẠI DẦN,GIÁP TẢ HỬU XƯƠNG KHÚC TẠI SỬU.thì cách này sẽ được xem giáp hay không?
tôi đang giả thiết đây là 1 lá số có thật ngoài đời: mệnh tử ,phủ,thiên việt,phi liêm,quan phù+ ông nội tuần.
xung chiếu có sát.lộc tồn,mã khốc khách.
tam hợp chiếu có: vũ, tướng,bạch hổ ,thái tuế,+ ông nội triệt tại cung quan mới chết chứ
nhưng lá số nay hôm nay thì thành công rực rỡ lắm.

manutd
05-23-2007, 10:46 AM
chào anh, lá số anh nói ở đây. đó là lá số của anh chứ ai.
http://www.tinvietonline.com/KHHB/tuvi/print.php?topic=1,1970110317,VU_PHONG,1,1970,11,03 ,18,0,7,11,10,10,5&session=86

giáp là giáp 2 bên anh ạ, giáp một bên thì ko được tính. dù sao có Xương, khúc, Tả hữu hộ vệ cũng tốt rồi. bộ Tử phủ sáng sủa của anh sợ nhất gặp Tuần triệt và Không kiếp thì ở đây lại gặp cả đôi, cũng may Không kiếp đắc địa bốc lên cao rồi quật mới mạnh. bộ Mã khốc khách ở Dần Thân là tiếng nhạc chuông ở cổ ngựa reo vang, kết hợp cùng Thiên việt + Phi liêm, khác nào ngựa có cánh bay, tốt lắm. điều đó giải thích những thành công của anh bây giờ, nhất là khi anh đi làm ăn xa.

TUVIPHAQUAN
05-23-2007, 02:24 PM
mình đang xem lại giờ sinh sợ không đúng.cậu coi lại đường công danh cho mình xem thử từ đại vận 25-34 ,35-44.

TUVIPHAQUAN
05-23-2007, 02:59 PM
ủa mà cậu xem lại coi manutd: hôm trước cậu xem là tử ,phá hội tả hửu xương khúc+ phá toái: đại khái là giờ tuất.
hôm nay mình đưa lên là tử phủ vủ tướng mà: giờ dậu
chỉ có 2 giờ thôi mà đảo lộn hết cậu ơi.

manutd
05-23-2007, 03:21 PM
thế tóm lại là anh sinh vào giờ nào ?

TUVIPHAQUAN
05-23-2007, 03:47 PM
nếu cậu giúp mình thì chúng ta cùng trao đổi và kiểm chứng:

http://www.tinvietonline.com/KHHB/tuvi/print.php?topic=1,1970110317,VU_PHONG,1,1970,11,03 ,18,0,7,11,10,10,5&session=86