PDA

View Full Version : TĂNG SAN BỐC DỊCH (Dã-Hạc lão nhơn )



Thieuvihoa
02-08-2007, 12:57 AM
TĂNG SAN BỐC DỊCH

Trứ tác: Dã-Hạc lão nhơn
Tăng san: Lý-văn-Huy Giác-tử

Nguyễn-Minh-Thiện dịch

CUỐN THỨ NHỨT:

1: Bát quái
2: Bát quái đồ
3: Bát cung
4: Hỗn-thiên giáp-tý
5: Lục thân ca
6: Thế Ứng
7: Động b iến
8: Dụng-thần
9: Dụng-thần, Nguyên-thần, Kỵ-thần, Cừu-thần
10: Nguyên-thần, Kị-thần suy vượng
11: Ngũ hành tương sanh
12: Ngũ hành tương khắc
13: Khắc xứ phùng sinh
14: Động tịnh, sinh khắc
15a: Động biến, sinh khắc, xung hạp
15b: Tứ thời vượng tướng
16: Nguyệt tướng
17: Nhựt thần
18: Lục thần
19: Lục hạp
20: Lục xung
21: Tam hình
22: Ám động
23: Động tán
25: Phản phục
26a: Tuần không
26b: Sanh, Vượng, Mộ, Tuyệt
26c: Các môn loài đề-đầu tổng chú
26d: Các môn loại ứng-kỳ tổng chú
26e: Quy-hồn, Du-hồn


CUỐN THỨ NHÌ

27: Nguyệt-phá
28: Phi, Phục thần
29: Tấn-thần, Thối-thần
30: Tùy quỉ nhập mộ
31: Độc phát
32: Lưỡng hiện
33: Tinh sát
34: Tăng san Huỳnh-kim Sách, Thiên-kim Phú
35: Thiên thời
TỰA

Thánh Dã Hạc nói: Đạo bói quẻ Dịch là Tâm pháp của bốn vị Thánh lớn: Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, và Khổng Tử.

Ai học cho tinh vi thì có thể biết việc Trời Đất. Còn học lý chút ít, cũng có thể hiểu việc cát hung.

Phàm học bói có thể học đến chỗ cao xa, mà cũng có thể học những điều sơ cạn, thì trước cần học trang quẻ, biết chỗ động biến, cùng là những quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, hay những quẻ lục hợp cùng là quẻ biến lục hợp. Hãy coi kỹ trong chương "Dụng Thần": chiếm cho người nào? Chiếm về việc gì? Rồi mới biết lấy hào nào làm Dụng Thần.

Lại nên xem coi: Thế nào là Tuần Không? Thế nào là Nguyệt Phá? Thế nào là bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, suy vượng? Thế nào là sinh khắc, là xung hình, thì sẽ tự biết quyết đoán họa phúc.

Giả như chiếm quẻ:

CẦU CÔNG DANH: Nếu đặng vượng quan trì Thế hoặc ngày, tháng, hào động làm Quan Tinh (lâm hào Quan Quỷ) sinh hợp với Thế hào, thì cầu danh như là lấy đồ trong túi. Nếu gặp Tử Tôn trì Thế, hoặc Tử Tôn động ở trong quẻ, thì cầu thi đậu hay cầu thăng chức, đều là như mò trăng đáy nước.

CHIẾM CẦU TÀI: Nếu đặng Tài Tinh trì Thế, hoặc ngày, tháng, hào động lâm Tử Tôn, sinh hợp Thế hào, hoặc Quan Quỷ trì Thế được Tài động sinh ra nó, hoặc Phụ Mẫu trì Thế, Tài động khắc Thế đều là hứa chắc cầu tài, dễ như bực trưởng giả gải ngứa mà thôi. Nếu gặp Huynh Đệ trì Thế, hoặc hào Huynh Đệ động ở trong quẻ, hoặc Thế trúng Tuần Không, Nguyệt Phá, thì chẳng khác nào leo cây bắt cá.

CHIẾM VẬN HẠN NĂM, THÁNG: Nếu là người hiện đang nhiệm chức quan thì phải Quan Tinh trì Thế, Tài động sinh ra nó, đều là hứa chắc cát khánh. Nếu gặp Quan Quỷ tương khắc hay ngày, tháng, hào động, lâm Tử tôn xung khắc Thế hào (tức Quan Quỷ trì Thế), hoặc lâm Quan Quỷ xung khắc Thế hào (tức Huynh Đệ trì Thế), hoặc Thế lâm Tuần Không, Thế bị Nguyệt Phá, hay Quan bị Nguyệt phá hoặc lâm Tuần Không, hoặc Thế động hóa ra hồi đầu khắc, hoặc Tử Tôn trì Thế đều là điềm Hung.


Thường dân chiếm Vận Hạn một tháng, mừng được hào Tài hay Tử Tôn trì Thế, hứa chắc một năm hanh thông. Nếu gặp Quan Quỷ trì Thế mà đặng ngày tháng, hào động làm Tài Tinh, sinh hợp Thế hào (tức Quan Quỷ trì Thế) thì sẽ có cát lợi. Nếu không có Tài động sinh hợp Thế hào mà Quan Quỷ trì Thế phải gặp tai nạn, thị phi (hoặc không có công việc làm, hoặc bị mất viêc...). Nếu Thế bị Nguyệt Phá hay hồi đầu khắc phá, Thế lâm Tuần Không, cùng Quỷ động khắc Thế, hay Thế suy nhược lại bị hình, xung, khắc; hoặc Huynh động khắc Thế, sẽ gặp khẩu thiệt, phá tài, hoặc bệnh tật.

Thường Dân chiếm lưu niên (đoán Vận mỗi năm), tháng hợp với Thế hào thì kiết, tháng xung với Thế hào thì hung. Không nên có Thế hào biến Quỷ và hóa ra hồi đầu khắc, định có hung nguy. Lại cũng không nên Tài động hóa Phụ, Phụ động hóa Tài, hoặc Quỷ động hóa Phụ Mẫu, phải có tai nạn cho cha mẹ (người bề trên), hoặc bệnh tật nặng nề. Còn Huynh Đệ động hóa Quỷ, Quỷ biến Huynh Đệ, phòng anh em có tai ách và mình. Tài hóa Quỷ, Quỷ hoá Tài, Tài hóa Huynh, Huynh hóa Tài, chắc có thương khắc vợ hầu, tôi tớ, người làm công. Tử hoá Quỷ, Quỷ hóa Tử, Phụ hóa Tử Tôn, Tử Tôn hóa Phụ, thì trẻ nhỏ sẽ thọ hại.

Thanh Long, Thiên Hỉ (Dụng Thần) trì Thế, sinh Thế, thì có điềm vui, hể Quỷ phá động sẽ có hiếu phục (có tang tóc). Phi Xà, Chu Tước gia ngay hào Huynh trì Thế, Quỷ động khắc Thế tu phòng khẩu thiệt, miệng tiếng thị phi, kiện tụng. Huyền Vũ gia ngay hào Huynh trì Thế, Quỷ động khắc Thế tu phòng đạo tặc (bị cướp), hoặc kẻ xấu hãm hại. (Theo tôi kiểm nghiệm thấy, dù Huynh Đệ trì Thế mà hóa Quỷ thì mình bị khẩu thiệt nhiều hơn, hoặc anh em gặp nạn, còn thân mình chẳng sao. Nếu mình không có anh em thì mới ứng vào mình. Trường hợp Quan trì Thế suy nhược lại động hoá khắc, hóa mộ thì chắc chết, thêm Phi Xà hay Bạch Hổ thì chắc nhập hoàng tuyền, được truy tặng mộ bia. Chắc hơn nữa, nên xủ lại nhiều lần, nếu quẻ đều hiện thế mà không lo tu hành chắc phải chết).

CHIẾM TRÁNH TỤNG SỰ, PHÒNG THỊ PHI, TAI HỌA: như cừu nhân làm hại, và đi sông biển, vào hiểm địa, (ngủ đêm lữ điếm, tá túc chùa miểu), hoặc kinh doanh mậu dịch, mua lầm vật trộm, hoặc thấy nhà gần lửa cháy, hoặc hỏi về ôn dịch lưu hành, phòng hổ lang, phòng trộm cướp, hoặc đi gấp trong đêm, hoặc đã vào trường thị phi, lòng lo hoạn họa, hoặc muốn ngăn ngừa việc chi mà e sinh tai phi, hoặc vào nhà người bệnh, đề phòng truyền nhiểm, hoặc ăn lầm đồ độc e phải chết, hoặc mang trọng tội cầu mong ân xá, hoặc vương bệnh hiểm mà muốn phong nguy, hoặc hỏi xem món vật này hoặc món thuốc kia có nên dùng không, hoặc hỏi về người lạ thú dữ có hại đến mình không, phàm gặp các việc đề phòng mà đặng Tử Tôn trì Thế hoặc Tử Tôn động ở trong quẻ, hoặc Thế động biến ra Tử Tôn, hoặc Thế động hóa hồi đầu tương sinh, hoặc Quan Quỷ động để tương sinh, thì dù thân mình ở trong miệng cọp, hứa chắc được yên ổn như ngồi trong núi Thái Sơn. Duy kỵ Quan Quỷ trì Thế ngờ vực lo lắng khó giải. Quỷ khắc Thế, tai họa sẽ xâm. Thế động hóa Quỷ và hoá hồi đầu khắc, họa đã đến mình, không thể trốn khỏi. Duy Thế hào lâm Tuần Không, không lo. Thế hào bị phá thì không lợi.

CHIẾM BỆNH: Như mình chiếm bệnh cho mình, nếu đặng hào Thế vượng tướng, hoặc ngày tháng, hào động sinh hợp với Thế hào, hoặc Tử Tôn trì Thế, hoặc Tử Tôn động ở trong quẻ, chẳng luận bệnh lâu, bệnh mới, hoặc cầu thần, hoặc uống thuốc, tức khắc sẽ an khang.

Bệnh mới hào Thế gặp Tuần Không, hoặc Thế động hóa Không, hoặc quẻ gặp lục xung hay biến lục xung, chẳng cần uống thuốc mà hứa chắc sẽ lành mạnh.

Bệnh lâu quan Quỷ trì Thế hưu tu, hoặc ngày, tháng, hào động khắc hào Thế, hoặc Thế gặp Tuần Không, Nguyệt Phá, Thế động hóa Không, hóa khắc phá, hoặc gặp quẻ lục xung, hoặc quẻ biến lục xung thì dù cho Biển Thước cũng khó chữa.

Như có người bị bệnh khá nặng mà không biết, đến khi phát hiện bác sĩ cho hay có thể bị ung thư, chờ khám nghiệm trong khi hiện tại lại thấy còn đang rất khỏe. Gia đình rất sợ, gọi hỏi tôi xem sống chết thế nào? Chính đương sự xủ được quẻ Bát Thuần Khôn, ngày Quý Mão tháng Đinh Mùi.

Khôn vi Địa
- - Tử Dậu Thế (ám động)
- - Tài Tý
- - Huynh Sửu
- - Quan Mão Ứng
- - Phụ Tỵ
- - Huynh Mũi

Xem quẻ Thấy Tử Tôn trì Thế lẽ ra phải đoán là bình an vô sự, nhưng vì là quẻ lục xung, mà bệnh trì trệ không biết lâu mau, vì người này đã bị bệnh ì ạch lâu rồi mà không biết, nên tôi đoán rằng: "Nếu là mới bệnh thì nhất định mạnh, còn bệnh lâu thì chắc là chết, tuỳ theo lâu mau thôi. Mong rằng chị ấy mới bệnh thì tháng 7 Âm Lịch Thế lâm vượng địa Hỏa của mùa hè không khắc được nữa thì lành. Còn bệnh lâu thì ngược lại vì Tử Tôn lâm Bạch Hổ". Quả nhiên, chết ngày Đinh Sửu tháng Mậu Thân (7) năm Nhâm Ngọ.]

CHIẾM CHA MẸ BỆNH: Lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng Thần. Nếu gặp hào Phụ Mẫu vượng tướng, hoặc ngày, tháng, hào động sinh Phụ Mẫu, hoặc Phụ Động hóa vượng, chẳng luận bệnh đau lâu hay mới bệnh, uống thuốc lập tức bình an.

Bệnh mới đau, mà hào Phụ gặp Tuần Không, Phụ động hoá Không, hoặc gặp quẻ lục xung, chẳng uống thuốc mà mạnh. Bệnh đau lâu, mà hào Phụ gặp Tuần Không, Nguyệt phá, hoặc phụ động hóa Không, hóa phá, Phụ động hóa Tài, Tài hoá Phụ Mẫu, gặp quẻ lục xung, hoặc hào Phụ hưu tù, lại bị ngày, tháng, hào động xung khắc, làm con phải gấp lo chạy thuốc men, bản thân săn sóc, chớ khá rời xa.


CHIẾM ANH EM BỆNH: Nếu đặng hào Huynh Đệ vượng tướng, hoặc đồng với ngày, tháng, hoặc ngày, tháng hào động tương sinh, hoặc Huynh Đệ động hóa vượng, hóa sinh, chẳng luận bệnh củ hay mới, hứa sẽ bình an.

Bệnh mới đau, hào Huynh gặp Tuần Không và động mà hóa Không, gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, uống thuốc thì mạnh. Bệnh đau lâu, hào Huynh gặp Tuần Không, Nguyệt phá, và động mà hóa Không hóa phá, gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, Huynh động hóa quỷ, quỷ hóa Huynh hào, hoặc hào Huynh hưu tù, bị ngày tháng, hào động xung khắc, mau gấp uống thuốc, cầu phước. Bằng trể thì khó mà trị lành (chết nhiều hơn sống).


CHIẾM CON CHÁU BỆNH: Hào Tử Tôn vượng tướng, hoặc đồng cung với ngày, tháng, hào động, sinh hợp, hoặc hào Tử Tôn hồi đầu hóa sinh, hóa vượng, chẳng luận bệnh đau lâu hay mới đau, uống thuốc, cầu phước thì mạnh.

Bệnh mới đau, Tử Tôn lại gặp Tuần Không, và động mà hóa Không, gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, chẳng uống thuốc, mà mạnh. Bệnh đau lâu, Tử Tôn gặp Tuần Không, và động mà hóa Không, gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, Tử Tôn động mà hóa Quỷ, Quỷ hóa Tử Tôn, Phụ hóa Tử, Tử hóa Phụ và ngày, tháng, hào động xung khắc, thì phải mau uống thuốc. Bằng trể thì khó mà sống.


CHIẾM CHO VỢ HẦU ĐAU: Lấy Tài làm Dụng Thần. Hào Tài vượng tướng, hoặc đồng với ngày, tháng, hào động tương sinh, hoặc hào Tài động hóa Tử Tôn, hoặc động hóa sinh vượng, chẳng luận lâu mau, trị thì thấy lành.
Bệnh mới đau, Tài gặp Tuần Không và động mà hóa Không, hoặc gặp lục xung, quẻ biến lục xung, chẳng cần uống thuốc, dám hứa nạn qua. Nếu bệnh đau lâu, hào Tài hóa Không, hóa Phá, gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, hoặc Tài động biến Quỷ, Quỷ động hóa Tài, Huynh Đệ hóa Tài, Tài hóa Huynh Đệ, trên đời dù có lương y cũng khó trị lành (chết nhiều hơn sống).

Phàm chiếm bệnh cho ba đảng: Phụ Tộc, Mẫu Tộc, Thê Tộc (bà con bên Nội, bà con bên Ngoại, và bà con phía vợ) cùng là quan trưởng, Thầy trò, tôi tớ, người giúp việc, đều phải coi chương Dụng Thần mà chọn cho đúng Dụng Thần, thì có thể xem rõ lành bệnh, hoặc sống chết. Còn chiếm bệnh cho bằng hữu là kẻ ngoại nhân, thì lấy ứng hào làm Dụng Thần. Đó cũng là lẽ thường, nhưng có khi không ứng nghiệm. Tại sao? Có lẽ vì không phải ruột rà, nên không hết lòng thành mà ra vậy.



(Theo tôi đã nghiệm thấy, đối với bạn bè mà người có niềm tin, và là bạn bè chí thân, hết lòng cho nhau, thì quẻ ra vẫn ứng rõ ràng. Ta có thể dùng Ứng hào, hoặc chọn ngay Dụng Thần là Huynh Đệ, tuỳ theo quẻ, vẫn đoán rất chính xác)



Thánh Dã Hạc nói: Có người hỏi tôi rằng, "Cứ theo lời thầy nói, bói quẻ là một việc rất dễ dàng. Như chiếm công danh, quan chức, mà đặng vượng Quan trì Thế, sẽ thành danh; Tử Tôn trì Thế thì thất vọng. Chiếm tật bệnh, bệnh mới đau mà gặp lục xung, gặp Tuần Không, chẳng uống thuốc cũng hết bệnh. Bệnh đau lâu, mà gặp xung, gặp Tuần Không, dù có thuốc linh đơn cũng không thể cứu. Như đặng thấy hiển nhiên như vậy thì thật không phải khó biết. Còn như chiếm tật bệnh mà không gặp lục xung, Dụng Thần chẳng thấy Tuần Không, vượng chẳng vượng, suy chẳng suy, hung chẳng hung, mà cát chẳng cát. Lại như chiếm công danh, sự nghiệp, Quan với Tử Tôn không trì Thế, 6 hào Loạn động, Tài phụ đồng hung, thì mới lấy chi mà nhất quyết?”

- Nếu anh xủ rèm mà làm nghề bói mướn, mỗi ngày xủ nhiều quẻ, thì đâu mà đặng toàn là những quẻ hiển nhiên dễ thấy. Cũng trong hung mà ẩn cát, trong cát mà ẩn hung, thì phải ráng tìm áo lý để ý xét suy.



Nếu anh muốn tự biết xu kiết tỵ hung, tất nhiên không có loạn chiếm nhiều quẻ, không có tạp niệm trong lòng. Mỗi khi gặp một việc gì, thì tức khắc bói liền. Thần chẳng gạt người. Hễ chiếm danh mà đặng thành, thì có Quan trì Thế. Còn không đặng thành, thì Tử Tôn sẽ động ở trong quẻ. Hoặc như có quẻ không minh bạch rõ ràng thì mai sớm hết lòng thành bói lại coi. Nếu còn rối reng nữa, thì bói lại nữa, tự nhiên có tương ứng. Nhưng khi chiếm trong lòng chẳng nên tưởng nhớ hai việc. Lòng thành nhất niệm, thì sẽ thấy ứng. Nếu một lần chiếm đôi ba việc thì quẻ không linh.

Lại như chiếm tật bệnh, còn dễ dàng lắm vậy. Một người có bệnh trong nhà ai khác cũng có thể chiếm thay, tha hồ mà chiếm giùm. Nếu là bệnh mới đau, chỉ có một quẻ, một hào gặp lục xung, hoặc quẻ biến lục xung, hoặc Dụng Thần gặp Tuần Không, hoặc động mà hóa Không, đó là bệnh dễ mạnh. Bệnh đau lâu, mà nhằm nó, thì mang tai, vì khó trị. Lại như phòng tai sợ nạn, chỉ đặng hào Tử Tôn trì Thế thì ở trong chỗ sấm sét, hứa chắc bình an, không sao cả. Vậy thì có gì là khó đâu.

Khách nói: Chiếm một lần đã phiền nhọc Thần linh, chẳng dám hỏi lần thứ hai thứ ba nữa, đâu dám bói luôn mấy ngày như vậy.

Thánh Dã Hạc trả lời: Vì một lời nói đó mà hết thả những người bói quẻ phải lầm lạc. Vậy anh nghe nói: "Ba người chiếm thì do lời hai người bàn" không? Một việc mà đã chiếm ra ba chỗ, thì tái cầu có hại gì? Cũng có một trường hợp không chiếm lại là, trong một khắc mà chiếm hoài một việc. Phải chờ mai xem lại mới là tốt.

Lại cũng có trường hợp chiếm liên tiếp mà nhiều ngày cũng không nên, là như chiếm công danh, đã đặng Tử Tôn trì Thế, trong lòng không thích, muốn chiếm lại sao cho được Quan trì Thế mới chịu thôi. Đó gọi là làm phiền nhọc Thần linh nhiều lần. Nhưng tôi cũng thấy có kẻ làm như vậy, mà Thân linh cũng chưa từng không ứng.

Tôi nhân thuở nhỏ lao bề công danh, chiếm đến 7 lần. Sáu lần đặng Tử Tôn trì Thế. Đó là Thần Linh chẳng phải chán, vì tôi hỏi nhiều lần. Mỗi lần hỏi, thì mỗi lần có báo tin. Mà chán tôi nhiều là, như tôi hỏi quẻ cầu tài, để chỉ rõ số tiền hiện hữu, lòng tôi đã rõ rồi mà cứ hỏi hoài, thì Thần không nói nữa. Có nói, là nói về viêc tôi không có hỏi.



Như có một ngày kia, tôi chiếm cầu tài. Vượng Tài trì Thế thì tôi đã rõ ngày Thìn đặng tài. Ngày kế, tôi chiếm một quẻ coi quả ngày Thìn đặng có Tài không? Quẻ đặng hào Thân Kim Huynh động, mà không rõ là nói gì. Đến ngày Thìn đặng tài, đến ngày Thân vì việc khác mà mất tài. Mới biết Thần cho tôi rõ ngày Thìn có tài, mà ngày kế tôi còn hỏi nữa nên Thần không nói. Thần lại nói, "ngày Thân mất tài", cho nên biết rằng hỏi nhiều lần, Thần cũng không trách, mà lại báo tin về việc ta không hỏi. Việc như vậy rất nhiều.



Tôi viết cuốn sách này ra, là để truyền bí pháp cho bực hậu hiền. Nhưng không phép nào khác, chỉ dạy người học bực sơ cạn, phàm gặp quẻ mơ hồ trong lòng chưa biết rõ, thì chiếm nhiều lần vô ngại. Nếu trong quẻ đã hiện rỏ ràng rồi, thì chớ nên hỏi nữa.



Chí như chiếm bệnh, một người có bệnh, thì cả nhà ai cũng chiếm thế cho được, tự có quẻ ứng linh. Lại gặp việc, thì chiếm liền, thừa lúc chưa loạn, chẳng khá nghĩ nhiều việc trong lòng. Việc nhiều tâm loạn, thì không phải là lòng thành nhất niệm nữa.

Còn dạy kẻ học bói đến chỗ sâu xa, sau có chia phép chiếm và nói về chỗ sai lầm ở trong các sách, chỉ thêm chỗ áo lý, nên nghiền ngẫm mà hiểu cho rõ cái ý nghĩa.

Đó là công trình của tôi trong bốn chục (40) năm, cả ngày ăn rồi chỉ lo một việc đó, chẳng lìa ra chốc lát nào hết, mới là đặng vậy. Đó là chỗ tiên hiền chưa truyền. Phải ráng từ đầu đến cuối, tỷ mỉ xét rõ, tự nhiên xảo đoạt thiên công. Muốn tham cứu chỗ hóa dục (sinh biến) của Trời Đất, suy trắc lý ẩn vi của Quỷ Thần, không phải khó.

Giác Tử cũng có nói: "Nếu gặp việc gấp dù trong một giờ, cũng có thể chiếm năm ba quẻ liên tiếp".

Cá nhân tôi có kinh nghiệm với một cô em dâu chưa cưới, Cô này đang chuẩn bị vào trường thuốc để học bác sĩ, và cô chỉ thích làm bác sĩ không học gì khác, nên đã đến nhờ tôi xem quẻ có được nhận hay không. Từ năm ngoái đến năm nay xủ gần chục quẻ, từ quẻ đầu cho đến quẻ cuối, không quẻ nào mà không Tử Tôn trì Thế. Nên tôi đã đoán nhất định số cô làm bác sĩ thôi không thể làm gì khác. Và tôi cũng đã có cơ hội xem cho 3 người bác sĩ đã hành nghề nhiều năm, hễ họ xủ quẻ hỏi về Vận Số là Tử Tôn trì Thế. Còn tôi có ông bạn làm Cha nhà thờ, xủ khá nhiều quẻ về bản Mệnh mà không hề có quẻ nào là Tử Tôn trì Thế cả, thật tôi không hiểu lý do, nhưng đó là việc rất lạ. Cũng như số Thánh Dã Hạc được làm Thầy Thiên Hạ và làm Vĩ Nhân nên 6 lần đều Tử Tôn trì Thế là vậy. Nên nhớ Thầy thuốc, Tăng đạo, Thầy tướng, trung thần lương tướng, cửu lưu thuật sĩ, con cháu, phước đức đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng Thần).



Dám chắc với các bạn là sắp tới sẽ có người mặc dù chê bai Bốc Dịch, còn viết ra thành văn nữa, nhưng sẽ thử áp dụng cách tôi đã viết ra ở trên hoặc sắp tới, để xem có khả năng làm Thầy không. Và cũng xin thông báo trước nếu khi xủ quẻ bản Mệnh thấy mình không có Tử Tôn trì Thế mà đoán số càn bậy thì nghiệp không phải ít đâu nhé. À, tôi còn quên một điều này nữa, có cô bạn làm Đông y sĩ châm cứu, đã xủ quẻ hỏi bản mệnh năm nay. Cô ta xủ tổng cộng 3-4 quẻ gì đó, đều là Tử Tôn trì Thế!

Từ từ tôi sẽ viết ra cách các bạn có thể xem thử cho mình khi đi gặp bác sĩ khám bệnh, Thầy coi Tử Vi, coi bói, Thầy dạy học hay thầy dạy Tử Vi, hoặc xem người mình hỏi là người giỏi hay dỡ hay là bọn nói dốc, hay là người ta đây chỉ nói khoác lác... Các bạn đều có thể xem biết hết! Khỏi phải sợ ai lường gạt. Lấy vượng suy để đo lường khả năng, tiền bạc, cũng như học thuật của mình của người.
Chương 1: BÁT QUÁI ĐỒ

Đạo Càn là cha thuộc Dương: sinh ra Chấn = trưởng nam, Khảm = trung nam, Cấn = thiếu nam

---
--- Càn
---

- -
- - Chấn
---

- -
--- Khảm
- -

---
- - Cấn
- -

Đạo Khôn là mẹ thuộc Âm: sinh ra Tốn = trưởng nữ, Ly = trung nữ, Đoài = thiếu nữ

- -
- - Khôn
- -

---
--- Tốn
- -

---
- - Ly
---

- -
--- Đoài
---
Chương 2: QUÁI TƯỢNG ĐỒ

CÀN tam liên (3 gạch liền): được 3 hào Dương không có hào bị đứt khúc

KHÔN lục đoạn (6 đoạn): được luôn 3 hào Âm có 6 đọan ngắn

CHẤN ngưỡng bồn (chậu để ngửa): hào đầu dương, hào 2 hào 3 là Âm

CẤN phúc oản (chén để úp): hào 1 hào 2 là Âm, hào 3 Dương

Ly trung hư (giữa ruột trộng): hào 1 và hào 3 Dương, hào 2 ở giữa Âm

KHẢM trung mãn (giữa ruột đầy): hào 1 và hào 2 là Âm, hào 2 Dương

ĐOÀI thượng khuyết (trên khuyết): hào 1 hào 2 Dương, hào 3 là Âm

TỐN hạ đoạn (dưới đứt khúc): hào đầu Âm, hào 2 hào 3 là Dương



Cách Xủ Quẻ (dùng 3 đồng tiền)

1 đồng sấp (head) là Dương, thì gạch 1 gạch dài ( --- )

2 sấp (2 heads) là Âm thì gạch 2 gạch ngắn ( - - )

3 sấp là Lão Dương, thì vẽ 1 vòng tròn ( O )

3 ngữa là Lão Âm, thì vẽ hai đường chéo ( X )


Một gạch dài (---) là Thiếu Dương, còn vòng tròn (O) gọi là Lão Dương - tức là hào Dương động. Hai gạch ngắn (- -) là Thiếu Âm, còn chữ (X) gọi là Lão Âm - tức là hào Âm động. Phàm trong quẻ có vòng tròn, dấu chéo, thì gọi là quẻ động.



Muốn hỏi việc chi, thì lòng phải chí thành, bày tỏ tên họ, chỗ ở, cầm 3 đồng tiền gieo vào trong mâm, hoặc đĩa, hoặc trên bàn, hoặc dưới nền nhà, coi mấy đồng ngữa mấy đồng sấp. Thấy 1 sấp thì gạch 1 gạch dài (---), 2 sấp thì vạch 2 gạch ngắn (- -), 3 sấp thì vẽ vòng tròn (0), 3 ngửa thì viết chữ X (X). [Dùng tiền xưa, thì bên không chữ là sấp Dương (---), bên có chữ là ngửa - Âm (- -). Tại sao thế, vì Dương chủ là Khí, còn Âm chủ là Thể, như khí của cha truyền qua mẹ tạo thành hình thể của con là vậy, đó là nguyên lý mà cổ nhân đặt ra như thế.]

Thí dụ gieo tiền 6 lần ta được quẻ Hỏa Thủy Vị Tế hóa Thủy Hỏa Ký Tế như sau:


--- O
- - X (3 hào trên hợp lại là quẻ ngoại, gọi ngoại quái)
--- O
- - X
--- O (3 hào dưới hợp lại là quẻ nội, gọi nội quái)
- - X

Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế hóa Thủy Hỏa Ký Tế, nạp thành 6 hào như sau:

Hỏa Thủy Vị Tế è Ký Tế
Huynh Tỵ Ứng O è Quan Tý
Tử Mùi X è Tử Tuất
Tài Dậu O è Tài Thân
Huynh Ngọ Thế X è Quan Hợi
Tử Thìn O è Tử Sửu
Phụ Dần X è Phụ Mão

Chú Ý: khi vạch quẻ thì vạch từ dưới lên, mà khi đọc quẻ thì đọc từ trên xuống. Như quẻ trên có Ly trên (Ly trung hư), Khảm dưới (Khảm trung mãn), nên đọc là Hỏa Thủy Vị Tế (tượng là chưa xong). Khi biến ra thì có quẻ Khảm trên, Ly dưới, nên đọc là Thủy Hỏa Ký Tế (tượng đã xong).


Lại nên ghi nhớ: Quẻ có động thì có biến, hào có động thì có biến. Động hào là lão Âm thì biến thành Thiếu Dương; nếu động hào là Lão Dương thì biến thành Thiếu Âm.

Mới đầu hơi khó nên bình tâm suy gẫm, và gắng sức sẽ hiểu
Chương 3: TÁM CUNG TƯỢNG HÀO 64 QUẺ


I. CUNG CÀN có 8 quẻ đều thuộc Kim (nên học thuộc lòng)

1. CÀN VI THIÊN
2. THIÊN PHONG CẤU
3. THIÊN SƠN ĐỘN
4. THIÊN ĐỊA BỈ
5. PHONG ĐỊA QUAN
6. SƠN ĐỊA BÁC
7. HỎA ĐỊA TẤN
8. HỎA THIÊN ĐẠI HỮU



CÀN VI THIÊN

--- Phụ Mẫu Tuất Thổ (Thế)
--- Huynh Đệ Thân Kim
--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa
--- Phụ Mẫu Thìn Thổ (Ứng)
--- Thê Tài Dần Mộc
--- Tử Tôn Tý Thủy

THIÊN PHONG CẤU

--- Phụ Mẫu Tuât Thổ
--- Huynh Đệ Thân Kim
--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa (Ứng)
--- Huynh Đệ Dậu Kim
--- Tử Tôn Hợi Thủy
- - Phụ Mẫu Sữu Thổ (Thế)



THIÊN SƠN ĐỘN

--- Phụ Mẫu Tuất Thổ
--- Huynh Đệ Thân Kim (Ứng)
--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa
--- Huynh Đệ Thân Kim
- - Quan Quỷ Ngọ Hỏa (Thế)
- - Phụ Mẫu Thìn Thổ



THIÊN ĐỊA BỈ

--- Phụ Mẫu Tuất Thổ (Ứng)
--- Huynh Đệ Thân Kim
--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa
- - Thê Tài Mão Mộc (Thế)
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ

PHONG ĐỊA QUAN


--- Thê Tài Mão Mộc
--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Thế)
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Ứng)

SƠN ĐỊA BÁC


--- Thê Tài Dần Mộc
- - Tử Tôn Tý Thủy (Thế)
- - Phụ Mẫu Tuất Thổ
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa (Ứng)
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ

HỎA ĐỊA TẤN


--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ
--- Huynh Đệ Dậu Kim (Thế)
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Ứng)

HỎA THIÊN ĐẠI HỮU


--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa (Ứng)
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ
--- Huynh Đệ Dậu Kim
--- Phụ Mẫu Thìn Thổ (Thế)
--- Thê Tài Dần Mộc
--- Tử Tôn Tý Thủy



Đó là 8 quẻ thuộc cung Càn. Cung Càn ngũ hành thuộc Kim nên Thân Dậu là hào Huynh Đệ vì giống nhau; Thìn Tuất Sửu Mùi là Phụ Mẫu vì Thổ sinh Kim; Tỵ Ngọ là hào Quan Quỷ vì là hào khắc (khắc mình là bệnh tật, hay quan lộc); Dần Mão là hào Tài vì mình khắc (sai khiến hay xài), là Thê Tài (vợ và tiền bạc); Hợi Tý là hào Tử Tôn vì mình sinh ra là con cháu (cũng là phúc đức vì do mình tạo ra).



2. CUNG ĐOÀI:

1. ĐOÀI VI TRẠCH

2. TRẠCH THỦY KHỐN

3. TRẠCH ĐỊA TUY

4. TRẠCH SƠN HAM

5. THỦY SƠN KIỀN

6. ĐỊA SƠN KHIÊM

7. LÔI SƠN TIỂU QUÁ

8. LÔI TRẠCH QUY MUỘI



ĐOÀI VI TRẠCH


- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Thế)
--- Huynh Đệ Dậu Kim
--- Tử Tôn Hợi Thủy
- - Phụ Mẫu Sửu Thổ (Ứng)
--- Thê Tài Mão Mộc
--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa

TRẠCH THỦY KHỐN


- - Phụ Mẫu Mùi Thổ
--- Huynh Đệ Dậu Kim
--- Tử Tôn Hợi Thủy (Ứng)
- - Quan Quỷ Ngọ Hỏa
--- Phụ Mẫu Thìn Thổ
- - Thê Tài Dần Mộc (Thế)

TRẠCH ĐỊA TUỴ


- - Phụ Mẫu Mùi Thổ
--- Huynh Đệ Dậu Kim (Ứng)
--- Huynh Đệ Hợi Thủy
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa (Thế)
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ

TRẠCH SƠN HÀM


- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Ứng)
--- Huynh Đệ Dâu Kim
--- Tử Tôn Hợi Thủy
--- Huynh Đệ Thân Kim (Thế)
- - Quan Quỷ Ngọ Hỏa
- - Phụ Mẫu Thìn Thổ



THỦY SƠN KIỀN


- - Tử Tôn Tý Thủy
--- Phụ Mẫu Tuất Thổ
- - Huynh Đệ Thân Kim (Thế)
--- Huynh Đệ Thân Kim
- - Quan Quỷ Ngọ Hỏa
- - Phụ Mẫu Thìn Thổ (Ứng)

ĐỊA SƠN KHIÊM


- - Huynh Đệ Dậu Kim
- - Tử Tôn Hợi Thủy (Thế)
- - Phụ Mẫu Sửu Thổ
--- Huynh Đệ Thân Kim
- - Quan Quỷ Ngọ Hỏa (Ứng)

- - Phụ Mẫu Thìn Thổ



LÔI SƠN TIỂU QUÁ


- - Phụ Mẫu Tuất Thổ
- - Huynh Đệ Thân Kim
--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa (Thế)
--- Huynh Đệ Thân Kim
- - Quan Quỷ Ngọ Hỏa
- - Phụ Mẫu Thìn Thổ (Ứng)

LÔI TRẠCH QUY MUỘI


- - Phụ Mẫu Tuất Thổ (Ứng)
- - Huynh Đệ Thân Kim
--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa
- - Phụ Mẫu Sửu Thổ (Thế)
--- Thê Tài Mão Mộc
--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa

Đó là 8 quẻ của cung Đoài. Cung Đoài cũng thuộc hành Kim như cung Càn, nên vẫn lấy Kim làm Huynh Đệ và lục thân giống như cung Càn ở trên.



3. CUNG LY

1. LY VI HỎA

2. HỎA SƠN LỮ

3. HỎA PHONG ĐÌNH

4. HỎA THỦY VỊ TẾ

5. SƠN THỦY MÔNG

6. PHONG THỦY HOÁN

7. THIÊN THỦY TỤNG

8. THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN



LY VI HỎA


--- Huynh Đệ Tỵ Hỏa (Thế)
- - Tử Tôn Mùi Thổ
--- Thê Tài Dậu Kim
--- Quan Quỷ Hợi Thủy (Ứng)
- - Tử Tôn Sửu Thổ
--- Phụ Mẫu Mão Mộc

HỎA SƠN LỮ


--- Huynh Đệ Tỵ Hỏa
- - Tử Tôn Mùi Thổ
--- Thê Tài Dậu Kim (Ứng)
--- Thê Tài Thân Kim
- - Huynh Đệ Ngọ Hỏa
- - Tử Tôn Thìn Thổ (Thế)



HỎA PHONG ĐỈNH


--- Huynh Đệ Tỵ Hỏa
- - Tử Mẫu Mùi Thổ (Ứng)
--- Thê Tài Dậu Kim
--- Thê Tài Dậu Kim
--- Quan Quỷ Hợi Thủy (Thế)
- - Tử Tôn Sửu Thổ

HỎA THỦY VỊ TẾ


--- Huynh Đệ Tỵ Hỏa (Ứng)
- - Tử Tôn Mùi Thổ
--- Thê Tài Dậu Kim
- - Huynh Đệ Ngọ Hỏa (Thế)
--- Tử Tôn Thìn Thổ
- - Phụ Mẫu Dần Mộc

SƠN THUỶ MÔNG



--- Phụ Mẫu Dần Mộc
- - Quan Quỷ Tý Thủy
- - Tử Tôn Tuất Thổ (Thế)
- - Huynh Đệ Ngọ Hỏa
--- Tử Tôn Thìn Thổ
- - Phu Mẫu Dần Mộc (Ứng)

PHONG THUỶ HOÁN


--- Phụ Mẫu Mão Mộc
--- Huynh Đệ Tỵ Hỏa (Thế)
--- Tử Tôn Mùi Thổ
- - Huynh Đệ Ngọ Hỏa
--- Tử Tôn Thìn Thổ (Ứng)
- - Phụ Mẫu Dần Mộc

THIÊN THỦY TỤNG


--- Tử Tôn Tuất Thổ
--- Thê Tài Thân Kim
--- Huynh Đệ Ngọ Hỏa (Thế)
- - Huynh Đệ Ngọ Hỏa
--- Tử Tôn Thìn Thổ
- - Phụ Mẫu Dần Mộc (Ứng)

THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN


--- Tử Tôn Tuất Thổ (Ứng)
--- Thê Tài Thân Kim
--- Huynh Đệ Ngọ Hỏa
--- Quan Quỷ Hợi Thủy (Thế)
- - Tử Tôn Sửu Thổ
--- Phụ Mẫu Mão Mộc

Đó là 8 quẻ của cung Ly. Cung Ly ngũ hành thuộc Hỏa, nên lấy Hỏa làm hành chính mà phối với lục Thân, như sinh ra Hỏa là Mộc Dần Mão là cha mẹ. Hỏa sinh ra Thổ nên Thìn Tuất Sửu Mùi là Tử Tôn...



4. CUNG CHẤN



1. CHẤN VI LÔI

2. LÔI ĐỊA DƯ

3. LÔI THỦY GIẢI

4. LÔI PHONG HẰNG

5. ĐỊA PHONG THĂNG

6. THỦY PHONG TỈNH

7. TRẠCH LÔI ĐỊA QUÁ

8. TRẠCH PHONG TÙY

CHẤN VI LÔI


- - Thê Tài Tuất Thổ (Thế)
- - Quan Quỷ Thân Kim
--- Tử Tôn Ngọ Hỏa
- - Thê Tài Thìn Thổ (Ứng)
- - Huynh Đệ Dân Mộc
--- Phụ Mẫu Tý Thủy

LÔI ĐỊA DỰ


- - Thê Tài Tuất Thổ
- - Quan Quỷ Thân Kim
--- Tử Tôn Ngọ Hỏa (Ứng)
- - Huynh Đệ Mão Mộc
- - Tử Tôn Tỵ Hỏa
--- Thê Tài Mùi Thổ (Thế)



LÔI THUỶ GIẢI


- - Thê Tài Tuất Thổ
- - Quan Quỷ Thân Kim (Ứng)
--- Tử Tôn Ngọ Hỏa
- - Tử Tôn Ngọ Hỏa
--- Thê Tài Thìn Thổ (Thế)
- - Huynh Đệ Dần Mộc

LÔI PHONG HẰNG


- - Thê Tài Tuất Thổ (Ứng)
- - Quan Quỷ Thân Kim
--- Tử Tôn Ngọ Hỏa
--- Quan Quỷ Dậu Kim (Thế)
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Sửu Thổ



ĐỊA PHONG THĂNG


- - Quan Quỷ Dậu Kim
- - Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Sửu Thổ (Thế)
--- Quan Quỷ Dậu Kim
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Sửu Thổ (Ứng)

THUỶ PHONG TỈNH


- - Phụ Mẫu Tý Thủy
--- Thê Tài Tuất Thổ (Thế)
- - Quan Quỷ Thân Kim
--- Quan Quỷ Dậu Kim
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy (Ứng)
- - Thê Tài Sửu Thổ

TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ


- - Thê Tài Mùi Thổ
--- Quan Quỷ Dậu Kim
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy (Thế)
--- Quan Quỷ Dậu Kim
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Sửu Thổ (Ứng)

TRẠCH LÔI TÙY


- - Thê Tài Mùi Thổ (Ứng)
--- Quan Quỷ Dâu Kim
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Thìn Thổ (Thế)
- - Huynh Đệ Dân Mộc
--- Phụ Mẫu Tý Thủy

Đó là 8 quẻ thuộc cung Chấn. Cung Chấn ngũ hành thuộc Mộc, nên dựa theo Mộc mà phối lục thân.



5. CUNG TỐN



1. TỐN VI PHONG

2. PHONG THIÊN TIỂU SÚC

3. PHONG HỎA GIA NHÂN

4. PHONG LÔI ÍCH

5. THIÊN LÔI VÔ VỌNG

6. HỎA LÔI PHỆ HẠP

7. SƠN LÔI DI

8. SƠN PHONG CỔ






TỐN VI PHONG


--- Huynh Đệ Mão Mộc (Thế)
--- Tử Tôn Tỵ Hỏa
- - Thê Tài Mùi Thổ
--- Quan Quỷ Dậu Kim (Ứng)
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Sửu Thổ

PHONG THIÊN TIỂU SÚC


--- Huynh Đệ Mão Mộc
--- Tử Tôn Tỵ Hỏa
- - Thê Tài Mùi Thổ (Ứng)
--- Thê Tài Thìn Thổ
--- Huynh Đệ Dần Mộc
--- Phụ Mẫu Tý Thủy (Thế)

PHONG HỎA GIA NHÂN


--- Huynh Đệ Mão Mộc
--- Tử Tôn Tỵ Hỏa (Ứng)
- - Thê Tài Mùi Thổ
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Sửu Thổ (Thế)
--- Huynh Đệ Mão Mộc

PHONG LÔI ÍCH


--- Huynh Đệ Mão Mộc (Ứng)
--- Tử Tôn Tỵ Hỏa
- - Thê Tài Mùi Thổ
- - Thê Tài Thìn Thổ (Thế)
- - Huynh Đệ Dần Mộc
--- Phụ Mẫu Tý Thủy

THIÊN LÔI VÔ VỌNG


--- Thê Tài Tuất Thổ
--- Quan Quỷ Thân Kim
--- Tử Tôn Ngọ Hỏa (Thế)
- - Thê Tài Thìn Thổ
- - Huynh Đệ Dần Mộc
--- Phụ Mẫu Tý Thủy (Ứng)

HỎA LÔI PHỆ HẠP


--- Tử Tôn Tỵ Hỏa
- - Thê Tài Mùi Thổ (Thế)
--- Quan Quỷ Dậu Kim
- - Thê Tài Thìn Thổ
- - Huynh Đệ Dần Mộc (Ứng)
--- Phụ Mẫu Tý Thủy

SƠN LÔI DI


--- Huynh Đệ Dần Mộc
- - Phụ Mẫu Tý Thủy
- - Thê Tài Tuất Thổ (Thế)
- - Thê Tài Thìn Thổ
- - Huynh Đệ Dần Mộc
--- Phụ Mẫu Tý Thủy (Ứng)

SƠN PHONG CỔ


--- Huynh Đệ Dần Mộc (Ứng)
- - Phụ Mẫu Tý Thủy
- - Thê Tài Tuất Thổ
--- Quan Quỷ Dậu Kim (Thế)
--- Phụ Mẫu Hợi Thủy
- - Thê Tài Sửu Thổ

Đó là 8 quẻ của cung Tốn. Cung Tốn ngũ hành thuộc Mộc



6. CUNG KHẢM


1. KHẢM VI THỦY

2. THỦY TRẠCH TIẾT

3. THỦY LÔI TRUÂN

4. THỦY HOẢ KÝ TẾ

5. TRẠCH HỎA KẾ

6. LÔI HỎA PHONG

7. ĐỊA HỎA MINH DI

8. ĐỊA THỦY SƯ


KHẢM VI THỦY


- - Huynh Đệ Tý Thủy (Thế)
--- Quan Quỷ Tuất Thổ
- - Phụ Mẫu Thân Kim
- - Thê Tài Ngọ Hỏa (Ứng)
--- Quan Quỷ Thìn Thổ
- - Tử Tôn Dần Mộc

THỦY TRẠCH TIẾT


- - Huynh Đệ Tý Thủy
--- Quan Quỷ Tuất Thổ
- - Phụ Mẫu Thân Kim (Ứng)
- - Quan Quỷ Sửu Thổ
--- Tử Tôn Mão Mộc
--- Thê Tài Tỵ Hỏa (Thế)





THỦY LÔI TRUÂN


- - Huynh Đệ Tý Thủy
--- Quan Quỷ Tuất Thổ (Ứng)
- - Phụ Mẫu Thân Kim
- - Quan Quỷ Thìn Thổ
- - Tử Tôn Dần Mộc (Thế)
--- Huynh Đệ Tý Thủy

THỦY HOẢ KÝ TẾ


- - Huynh Đệ Tý Thủy (Ứng)
--- Quan Quỷ Tuất Thổ
- - Phụ Mẫu Thân Kim
--- Huynh Đệ Hợi Thuỷ (Thế)
- - Quan Quỷ Sửu Thổ
--- Tử Tôn Mão Mộc

TRẠCH HỎA CÁCH


- - Quan Quỷ Mùi Thổ
--- Phụ Mẫu Dậu Kim
--- Huynh Đệ Hợi Thủy (Thế)
--- Huynh Đệ Hợi Thủy
- - Quan Quỷ Sửu Thổ
--- Tử Tôn Mão Mộc (Ứng)

LÔI HỎA PHONG


- - Quan Quỷ Tuất Thổ
- - Phụ Mẫu Thân Kim (Thế)
--- Thê Tài Ngọ Hỏa
--- Huynh Đệ Hợi Thủy
- - Quan Quỷ Sửu Thổ (Ứng)
--- Tử Tôn Mão Mộc

ĐỊA HỎA MINH DI


- - Phụ Mẫu Dậu Kim
- - Huynh Đệ Hợi Thủy
- - Quan Quỷ Sửu Thổ (Thế)
--- Huynh Đệ Hợi Thủy
- - Quan Quỷ Sửu Thổ
--- Tử Tôn Mão Mộc (Ứng)

ĐỊA THỦY SƯ


- - Phụ Mẫu Dậu Kim (Ứng)
- - Huynh Đệ Hợi Thủy
- - Quan Quỷ Sửu Thổ
- - Thê Tài Ngọ Hỏa (Thế)
--- Quan Quỷ Thìn Thổ
- - Tử Tôn Thân Kim

Đó là 8 quẻ thuộc cung Khảm. Cung Khảm ngũ hành thuộc Thủy.



7. CUNG CẤN



1. CẤN VI SƠN

2. SƠN HỎA BÔN

3. SƠN THIÊN ĐẠI SÚC

4. SƠN TRẠCH TỐN

5. HỎA TRẠCH KHÊ

6. THIÊN TRẠCH LÝ

7. PHONG TRẠCH TRUNG PHU

8. PHONG SƠN TIỆM


CẤN VI SƠN



--- Quan Quỷ Dần Mộc (Thế)
- - Thê Tài Tý Thủy
- - Huynh Đệ Tuất Thổ
--- Tử Tôn Thân Kim (Ứng)
- - Phụ Mẫu Ngọ Hỏa
- - Huynh Đệ Thìn Thổ

SƠN HỎA BÔN


--- Quan Quỷ Dần Mộc
- - Thê Tài Tý Thủy
- - Huynh Đệ Tuất Thổ (Ứng)
--- Thê Tài Hợi Thủy
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
--- Quan Quỷ Mão Mộc (Thế)

SƠN THIÊN ĐẠI SÚC


--- Quan Quỷ Dần Mộc
- - Thê Tài Tý Thủy (Ứng)
- - Huynh Đệ Tuất Thổ
--- Huynh Đệ Thìn Thổ
--- Quan Quỷ Dần Mộc (Thế)
--- Thê Tài Tý Thủy

SƠN TRẠCH TỔN


--- Quan Quỷ Dần Mộc (Ứng)
- - Thê Tài Tý Thủy
- - Huynh Đệ Tuất Thổ
- - Huynh Đệ Sửu Thổ (Thế)

--- Quan Quỷ Mão Mộc
--- Phụ Mẫu Tỵ Hỏa



HỎA TRẠCH KHUÊ


--- Phụ Mẫu Tỵ Hoả
- - Huynh Đệ Mùi Thổ
--- Tử Tôn Dậu Kim (Thế)
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
--- Quan Quỷ Mão Mộc
--- Phụ Mẫu Tỵ Hỏa (Ứng)

THIÊN TRẠCH LÝ


--- Huynh Đệ Tuất Thổ
--- Tử Tôn Thân Kim (Thế)
--- Phụ Mẫu Ngọ Hỏa
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
--- Quan Quỷ Mão Mộc (Ứng)
--- Phụ Mẫu Tỵ Hỏa

PHONG TRẠCH TRUNG PHU


--- Quan Quỷ Mão Mộc
--- Phụ Mẫu Tỵ Hỏa
- - Huynh Đệ Mùi Thổ (Thế)
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
--- Quan Quỷ Mão Mộc
--- Phụ Mẫu Tỵ Hỏa (Ứng)

PHONG SƠN TIỆM


--- Quan Quỷ Mão Mộc (Ứng)
--- Phụ Mẫu Tỵ Hỏa
- - Huynh Đệ Mùi Thổ
--- Tử Tôn Thân Kim (Thế)
- - Phụ Mẫu Ngọ Hỏa
- - Huynh Đệ Thìn Thổ

Đó là 8 quẻ thuộc cung Cấn. Cung Cấn thuộc Thổ.



8. CUNG KHÔN



1. KHÔN VI ĐỊA

2. ĐỊA LÔI PHỤC

3. ĐỊA TRẠCH LÂM

4. ĐỊA THIÊN THÁI

5. LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG

6. TRẠCH THIÊN QUẢI

7. THỦY THIÊN NHU

8. THỦY ĐỊA TỶ







KHÔN VI ĐỊA


- - Tử Tôn Dậu Kim (Thế)
- - Thê Tài Hợi Thủy
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
- - Quan Quỷ Mão Mộc (Ứng)
- - Phụ Mẫu Tỵ Hỏa
- - Huynh Đệ Mùi Thổ

ĐỊA LÔI PHỤC


- - Tử Tôn Dậu Kim
- - Thê Tài Hợi Thủy
- - Huynh Đệ Sửu Thổ (Ứng)
- - Huynh Đệ Thìn Thổ
- - Quan Quỷ Dần Mộc
--- Thê Tài Tý Thủy (Thế)

ĐỊA TRẠCH LÂM


- - Tử Tôn Dậu Kim
- - Thê Tài Hợi Thủy (Ứng)
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
- - Quan Quỷ Mão Mộc (Thế)
--- Phụ mẫu Tỵ Hỏa

ĐỊA THIÊN THÁI


- - Tử Tôn Dậu Kim (Ứng)
- - Thê Tài Hợi Thủy
- - Huynh Đệ Sửu Thổ
--- Huynh Đệ Thìn Thổ (Thế)
--- Quan Quỷ Dần Mộc
--- Thê Tài Tý Thủy



LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG


- - Huynh Đệ Tuất
- - Tử Tôn Thân Kim
--- Phụ Mẫu Ngọ Hỏa (Thế)
--- Huynh Đệ Thìn Thổ
--- Quan Quỷ Dần Mộc
--- Thê Tài Tý Thủy (Ứng)

TRẠCH THIÊN QUẢI


- - Huynh Đệ Mùi Thổ
--- Tử Tôn Dậu Kim (Thế)
--- Thê Tài Hợi Thủy
--- Huynh Đệ Thìn Thổ
--- Quan Quỷ Dần Mộc (Ứng)
--- Thê Tài Tý Thủy

THỦY THIÊN NHU


- - Thê Tài Tý Thủy
--- Huynh Đệ Tuất
- - Tử Tôn Thân Thế (Thế)
--- Huynh Đệ Thìn
--- Quan Quỷ Dần
--- Thê Tài Tý Thủy (Ứng)

THỦY ĐỊA TỶ


- - Thê Tài Tý Thuỷ (Ứng)
--- Huynh Đệ Tuất Thổ
- - Tử Tôn Thân Kim
- - Quan Quỷ Mão Mộc (Thế)
- - Phụ Mẫu Tỵ Hỏa
- - Huynh Đệ Mùi Thổ

Đó là 8 quẻ thuộc cung Khôn. Cung Khôn ngũ hành thuộc Thổ.
Dã Hạc nói: Xưa kia tôi có lấy toàn đồ này mà gửi cho 1 người bằng hữu, lúc đi ra cầu sĩ (làm quan).

- Người bằng hữu hỏi: Tôi không biết ngũ hành, làm sao mà đoán quẻ được?

- Tôi trả lời: Trước học chấm quẻ. Khi đặng quẻ rồi, coi là quẻ gì, rồi tìm quẻ ấy trong toàn đồ, chiếu theo đó mà viết ra, nào là Thế Ứng, nào là Ngũ Hành, nào là Lục Thân. Không cần đọc sách quẻ, tức là không biết lý ngũ hành sinh khắc, vẫn đoán được bốn việc lớn. Không kể gì trong quẻ có động, cùng là không có động, cứ chiếu theo toàn đồ, và chỉ coi hào thế mà thôi.

BỐN VIỆC LỚN:



1. Chiếm Phòng Ngừa Ưu Hoạn: Nếu đặng Tử Tôn trì Thế, không có gì lo. Đặng Quan Quỷ trì Thế, ưu nghi khó giải; phải để ý phòng ngừa.
2. Chiếm Công Danh: Nếu đặng Quan Quỷ trì Thế, thì hứa sẽ nên danh. Đặng Tử Tôn trì Thế, thì phải chờ thời.
3. Chiếm cầu Tài: Thê Tài trì Thế chắc sẽ đăng. Huynh Đệ trì Thế thì khó cầu.
4. Chiếm Tật Bệnh: Nếu đặng quẻ lục xung, bệnh mới đau, không uống thuốc mà mạnh. Còn bệnh đau lâu, thần tiên cũng khó cứu.

- Người bằng hữu hỏi: Sao là Tử Tôn trì Thế?

- Tôi trả lời: Tử Tôn và chữ Thế đồng ở chung một hào, tức là Tử Tôn trì Thế. Nếu gặp Quan Quỷ và chữ Thế đồng ở chung một hào, tức là Quan Quỷ trì Thế. Kỳ dư Huynh Đệ, Thê Tài trì Thế, thì cũng đồng như nói trên.

Phải biết sao gọi là quẻ lục xung. Trong mỗi cung những quẻ đầu là: Kiền Vi Thiên, Đoài Vi Trạch, Ly Vi Hỏa, Chấn Vi Lôi, Tốn Vi Phong, Khảm Vi Thuỷ, Cấn Vi Sơn, Khôn Vi Địa, đều là quẻ lục xung cả, thêm quẻ Thiên Lôi Vô Vọng, Lôi Thiên Đại Tráng, cũng là quẻ lục xung. Tổng cộng là 10 quẻ, còn lại thì không phải.



- Có kẻ hỏi: Cầu quan nếu đặng Quan Quỷ trì Thế, cầu danh chắc thành. Cầu tài nếu đặng Thê Tài trì Thế, cầu tài chắc thành. Nếu như hào Quan Quỷ với hào Thê Tài, hoặc gặp Tuần Không, Nguyệt Phá, hoặc bị trong quẻ có Tử Tôn phát động để hại Quan. Huynh Đệ phát động để hại Tài, tuy gặp Quan Quỷ trì Thế, Thê Tài trì Thế, có ích chi đâu?

- Tôi trả lời: Nếu anh biết lý ngũ hành, thần linh đã rõ rồi. Cái quẻ anh chiếm đặng, không phải trong hung ẩn kiết, định cũng là trong kiết ẩn hung. Đó là thần thánh dẫn người được biết chỗ áo lý, tự nhiên phải xem Tuần Không, Nguyệt Phá, Sinh Khắc, Xung Hình.

Còn anh không biết lý ngũ hành, thần thánh cũng đã sớm biết rồi. Như cầu danh, thì van vái rằng: Công danh nếu thành, cho tôi quẻ Quan Quỷ trì Thế. Nếu không có hy vọng, cho tôi quẻ Tử Tôn trì Thế. Như chiếm phòng ngừa ưu hoạn, hãy van vái rằng: Nếu có hoạ, xin cho Quan Quỷ trì Thế. Nếu thoát khỏi tai nạn, xin cho quẻ Tử Tôn trì Thế. Trong quẻ chiếm đặng, tự nhiên rõ ràng dễ thấy. Nếu có chỗ ẩn vi (không rõ) thì thần thánh cũng khi người, đâu còn phải là thần.

Huống tôi bày ra phép giản dị này, chỉ để cho người không biết lý ngũ hành mà thôi. Ai biết chiếm quẻ, cứ chiếu theo 8 cung mà lập quẻ, thì sẽ biết quyết đoán 4 VIỆC LỚN. Nếu biết chút lý ngũ hành, thì chớ nên dùng phép này. [Trích Tăng San Bốc Dịch]



Thánh Dã Hạc lại nói:

Phải xem kỷ lời trong sách này giải: Sao là không mà chẳng không, phá mà chẳng phá. Sao là Mộ mà chẳng mộ, Tuyệt mà chẳng Tuyệt. Sao là chân phản ngâm, giả phản ngâm. Sao là tiến mà chẳng tiến, thối mà chẳng thối. Sao là hồi đầu khắc mà sinh, hồi đầu khắc mà tử. Chỗ nào phải xem Dụng Thần, chỗ nào không xem Dụng Thần. Sao là chiếm đây mà ứng đó (hỏi việc này mà ứng việc kia), chiếm xa mà ứng gần. Sao là đắc pháp, bách chiếm bách linh (xủ quẻ trăm phát trăm ứng). Sao là chẳng đắc pháp chiếm hoài không nghiệm. Sao là Nguyên Thần hữu lực, chẳng sinh Dụng Thần. Sao là Kỵ Thần vô lực, hay hại Dụng Thần. Chỗ nào sai lầm, phải bác ở các sách. Chỗ nào kỳ diệu, thêm xảo nghiệm cho mình. Phải xét kỷ các thứ bí pháp đó, mới có thể nhất quyết mỗi việc như thần.



- Có kẻ hỏi: Xin một quẻ không rõ, chiếm một quẻ nữa, nếu một quẻ nữa mà không được hiểu rõ, thì ngày mai sẽ chiếm lại. Xưa kia, người ta câu nệ không dám chiếm lại, cho nên hết phương pháp.



Tôi thấy Kinh Dịch nói: "Ba người chiếm, thì theo lời bàn của hai người". Người xưa có một viêc mà có thể quyết ở ba chỗ người nay tái cầu có hại chi đâu. Tôi bình sinh, ít đặng áo lý, toàn là nhờ sức chiếm lại nhiều lần. Nếu việc không gấp có thể từ từ chiếm lại. Nếu gặp việc gấp, nghỉ một chút rồi lại chiếm nữa. Chẳng luận sớm trưa, chẳng cần đốt nhang, nữa đêm canh khuya, cũng có thể chiếm. Chỉ cần chiếm một việc đó mà thôi, chớ đừng có chiếm lại việc khác. Duy có người chiếm quẻ mà trong lòng tưởng đôi ba việc, chẳng phải có lòng thành nhất niệm, thì quyết chắc không linh nghiệm.



Giả như chiếm công danh, hoặc là Quan Quỷ trì Thế, hoặc là Tử Tôn trì Thế, đặng một trong hai quẻ đó, thì đã biết thành bại nên hư, không cần và không nên chiếm nữa. Chớ khá thấy Tử Tôn trì Thế, mà trong lòng không vui, muốn cầu cho đặng Quan Quỷ trì Thế mới chịu cho. Như vậy là trái lẽ. Như chiếm cầu tài, hoặc là Tài trì Thế, hoặc là Huynh Đệ trì Thế, trong hai lẽ có có đặng một thì thôi, có cần chi chiếm nữa.

Thỉnh thoảng cũng một việc mà có nhiều người đồng chịu ảnh hưởng họa phước, thì mỗi người chiếm một quẻ cho chắc. Như đi thuyền gặp bảo tố, trong nhà phòng hỏa hoạn, thì ai ai cũng đều chiếm được. Nếu có một quẻ mà đặng Tử Tôn trì Thế, thì hết thảy có gì lo. Còn chiếm tật bệnh, người bệnh nặng tự chiếm cho mình, nếu không đặng quẻ lục xung, thì trong nhà ai ai cũng có thể chiếm giùm. Nếu có một người đặng quẻ lục xung, hoặc thuộc bệnh mới đau, hoặc thuộc bệnh đau lâu, thì sự cát hung đã thấy rõ ràng.

Tôi nói với bạn rằng: Người thế gian, phàm có nghi nan, mở miệng thì nói: cầu thần hỏi bói, đủ biết họ muốn rõ sự kiết hung sẽ đến. Ngoài việc bói ra, không còn phép nào nữa. Tôi học tập Chu Dịch mấy năm, việc nào hỏi bói, xem lý cảm ứng, như thần thánh mở miệng nói chuyện với mình, làm cho con người phải rỡn ốc cùng mình. Vì đó mà có kẻ không biết cái áo diệu của Dịch, chẳng đọc sách bói, tôi không đành không chỉ cái bí pháp ấy, cho người ta theo đó mà thí nghiệm. Nếu bạn thấy linh thì tự nhiên mới ham đọc sách, học bói. Phép này rất hay, bạn cũng có thể truyền cho người khác. Dù quan lớn, thứ dân, dù làm ăn, buôn bán, không có ai mà chẳng nên dùng.

Phải nhớ: Người nào dốt đặc lý ngũ hành sinh khắc thì mới nên dùng phép này. Nếu có kẻ biết chút ít ngũ hành thì thần cho hiện quẻ ẩn vi. Vậy trước phải đọc hỗn thiên Giáp Tí, lục Thân ca, hễ chiếm đặng quẻ, thì phải trang ngũ hành, lục Thân. Rồi còn học biến động. Trong quẻ phải có hào động, hễ động thì biến. Đã biết động biến rồi, phải coi Dụng Thần, Nguyên Thần, Kỵ Thần. Biết cái này mới vào được cửa Bói Dịch. Kế coi chương bốn mùa Vượng Tướng; chương Ngũ Hành tương sinh, tương khắc; chương Ngũ Hành tương xung, tương hợp; chương Tuần Không, Nguyệt Phá, Sinh Vượng, Mộ Tuyệt thì lại như vào nhà khách của Bói Dịch.



Sau lại còn phải coi cuốn chót nói về các môn, các loại, chiếm việc gì, lấy phép nào mà đoán, lần lần do cạn vào sâu.

Phàm muốn hỏi việc, trước biên năm, tháng, ngày, giờ, kế chiếu theo Chương Lục Thần, viết ra sáu Thần, rồi sau mới xem quẻ.

Như chiếm đặng quẻ Càn vi Thiên:



Phụ Mẫu Tuất Thổ (Thế)
Huynh Đệ Thân Kim
Quan Quỷ Ngọ Hỏa
Phụ Mẫu Thìn Thổ (Ứng)
Thê Tài Dần Mộc
Tử Tôn Tý Thủy


Người tự chiếm kiết hung, lấy Thế hào làm Dụng Thần. Trong quẻ này thế hào ở Tuất Thổ, tức là lấy Tuất Thổ làm Thân Mệnh của mình. Nó phải được vượng tướng, rất sợ hưu tù. Nó hạp (thích) gặp Tỵ Ngọ Hỏa để sinh, kỵ (sợ) Dần Mão Mộc tương khắc. Lại Thế hào chẳng nên lạc Không Vong (Tuần Không), lại cũng chẳng nên trúng Nguyệt phá.

Cái Thế hào Tuất Thổ này có 4 chỗ: Sinh, Khắc, Xung, Hợp.
. Nguyệt Kiến năng Sinh, Khắc, Xung, Hợp

Theo quẻ trên, thế hào là Tuất Thổ. Nếu chiếm quẻ này nhằm tháng Dần, Mão, thì bị Dần Mão, mộc tương khắc. Vậy thì Thế hào chịu thương (khắc), người tự chiếm cát hung gọi đó là hưu tù, bất lợi. Nếu chiếm quẻ nhằm tháng Thìn, Thìn xung Tuất Thổ, Tuất là bị Nguyệt phá, cũng như thân mình bị phá cách, không làm được việc gì hết.



• Nếu chiếm quẻ này nhằm tháng Tỵ, Ngo. Tỵ Ngọ tức là Quan Quỷ có thể sinh Tuất Thổ, gọi là Hỏa vượng, Thổ tướng, Thế hào gặp vượng tướng, thì các việc đều làm được.

• Nếu chiếm quẻ này nhằm tháng Sửu Mùi, trong hai tháng đó thì lúc Thổ vượng, cũng có thể phò trì giúp Tuất Thổ. Cái Thế hào Tuất Thổ này, cũng gọi là vượng tướng, thì cũng là kiết.

• Nếu chiếm nhằm tháng Tuất, Thế hào Tuất Thổ làm Nguyệt Kiến, đó là vượng tướng. Đương lúc đó mà tự chiếm cát hung mọi việc đều được hanh thông.

• Nếu chiếm ở tháng Thân Dậu, Hợi Tý thì Tuất Thổ trúng nhằm lúc tiết khí (hao sức), gọi là Thế hào hưu tù vô lực.

Đó gọi là Nguyệt Kiến có thể sinh, khắc, xung, hợp Dụng Thần, là Thế hào Tuất Thổ. Phải biết sao là Dụng Thần? Mình tự chiếm cát hung, dùng Thế hào làm chủ, chẳng gọi là Thế hào, mà kêu là Dụng Thần. Chiếm cho cha mẹ, thì lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng Thần...

II. Nhật Thần năng Sinh, Khắc, Xung, Hợp



Trong quẻ trên, Thế hào là Tuất Thổ. Nếu chiếm quẻ nhằm ngày Dần Mão, Dần Mão Mộc có thể khắc tuất Thổ. Đó là Thế hào bị Nhật Thần tương khắc, bất lợi.

• Nếu chiếm nhằm ngày Thìn, Thìn xung với Tuất Thổ, gọi là Thế hào (ám động).
• Nếu chiếm nhằm ngày Tỵ Ngọ, Hỏa của Tỵ Ngọ là Quan Quỷ, hay sinh được Tuất Thổ. Đó gọi là Thế hào được Quan Quỷ, mà sinh ra vượng, nên mọi việc đều cát.
• Nếu chiếm quẻ nhằm ngày Sửu Mùi, Thổ gặp Thổ thì phù trợ, vậy Tuất Thổ cũng được giúp.
• Nếu chiếm quẻ nhằm ngày Tuất, gọi là Thế lâm (ở) Nhật Kiến, được lệnh đăng quyền.
• Nếu chiếm nhằm ngày Thân Dậu, Hợi Tí, đó là đối với Tuất Thổ không khắc, không sinh.

Đó là Nhật Kiến có thể sinh, khắc, xung, hợp Dụng Thần.

III. Quái Trung chi động (trong quẻ hào động), năng Sinh Khắc, Xung, Hợp



Theo quẻ trên, Thế hào là Tuất Thổ. Như trong quẻ hào thứ 2 là Thê Tài Dần Mộc phát động, thì nó hay khắc được Tuất Thổ. Hào thứ 4, Ngọ Hỏa Quan Quỷ phát động, thì hay sinh được Tuất Thổ. Hào thứ 3 Phụ Mẫu Thìn Thổ phát động, thì nó hay xung Tuất Thổ.

Đó gọi là, trong quẻ, hào động có thể sinh, khắc, xung, hợp Dụng Thần.



IV. Thế hào tự động biến xuất chi hào, năng hồi đầu sinh khắc.



Thế hào phát động (Tuất Thổ theo quẻ trên), động thì phải biến, biến ra Tỵ Ngọ Hỏa, gọi là hồi đầu sinh Thế; biến ra Dần Mão Mộc, gọi là hồi đầu khắc Thế; biến ra Thìn Thổ gọi là hồi đầu xung Thế; biến ra Mão Mộc, gọi là hợp Thế. Đó gọi là: hào Dụng Thần (Thế) tự động thành biến hào, hay sinh khắc xung hợp với Dụng Thần (Thế).

Dẫn lên là 4 chỗ (4 chỗ tức là tháng ngày, hào động, Thế hào tự động), nếu đặng hoàn toàn sinh hạp Dụng Thần, thì việc chiếm toàn kiết. Nếu được 3 chỗ tương sinh, một chỗ tương khắc, cũng là đoán theo kiết. Nếu có hai chỗ khắc, hai chỗ sinh phải coi vượng suy. Nếu Nguyên Thần sinh Dụng Thần được vượng tướng thì đoán kiết. Còn Kỵ Thần khắc Dụng Thần vượng tướng thì bàn hung.

Nếu gặp 3 chỗ tương khắc, 1 chỗ tương sinh, mà hào tương sinh được vượng tướng, cũng có thể gọi là: "khắc xứ phùng sinh hung trung đắc giải" (trong chỗ khắc gặp sinh, tuy thấy hung mà được cứu). Bằng hưu tù, chỗ tương sinh này có danh, không có thật, thì đoán mọi việc đều là đại hung, như 4 chỗ đều khắc hết.
- Có kẻ hỏi: Trong quẻ này (quẻ đã nói trên), Thế hào là Tuất Thổ không có biến ra Dần Mão, Tỵ Ngọ.

- Tôi trả lời: Mấy hào khác thường có biến ra hồi đầu sinh khắc. Đây là mượn đỡ nó để làm kiểu mẫu mà thôi.

- Lại hỏi: Mão mộc hay khắc Tuất Thổ, lại hợp với Tuất (theo lục hợp), vậy phải kể là khắc hay hợp?

- Tôi trả lời: Trong chương Ngũ Hành tương hợp, có giải nghĩa rất rõ ràng.

- Hỏi: Quẻ này là quẻ Kiền Vi Thiên, trong đó Ngọ Hỏa là Quan Tinh. Sao mà tháng Ngọ, ngày Ngọ, chiếm quẻ cũng lấy Ngọ Hỏa làm Quan Tinh?

- Trả lời: Bất luận chiếm được quẻ nào, nếu trong quẻ lấy Tỵ Ngọ Hỏa làm Quan Tinh, mà chiếm quẻ lại nhằm ngày tháng Tỵ Ngọ, thì tháng hay là ngày đó cũng là Quan Tinh. Nếu trong quẻ, lấy Tỵ Ngọ làm Tài Tinh, thì ngày tháng Tỵ Ngọ cũng là Tài Tinh. Kỳ dư, cứ vậy mà suy.

Vượng, tướng, hưu, tù, thì tra trong chương Tứ Thời Vượng Tướng.

Không, phá, thì coi trong chương Tuần Không, Nguyệt phá.

Xung, hợp, thì coi trong chương Ngũ Hành tương sinh, Ngũ Hành tương hợp.

Sinh khắc, thì tra ở chương Ngũ Hành tương sinh, Ngũ Hành tương khắc.

Nguyên Thần thì tra trong chương Nguyên Thần, Dụng Thần, Quan Tinh thì tra trong chương Dụng Thần.

Ám động thì tra trong chương ám động.

Hồi đầu sinh, hồi đầu khắc, thì tra trong chương biến động sinh khắc.

Nhật Thần, Nguyệt Kiến, tra ở trong chương Nhật Thần, Nguyệt Kiến.


Nếu chiếm về Phụ Mẫu, thì lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng Thần. Trong quẻ này (quẻ Càn Vi Thiên ở trên), hai hào Thìn Tuất đều là Phụ Mẫu. Nếu hai hào đều động, hoặc không động, lựa cái vượng mà làm Dụng Thần. Nếu chỉ có một hào động, thì lấy hào động làm Dụng Thần.


Phụ Mẫu đã tới hai Thổ là Thìn, Tuất, tức là lấy Thổ làm Phụ Mẫu. Nó hợp với Hỏa tương sinh, mà sợ Mộc tương khắc. Kỵ trúng Nguyệt Phá, Tuần Không, cũng có 4 chỗ sinh khắc xung hợp, nhưng phải sinh nhiều, khắc ít là kiết. Phải hiệp nó với Thế hào nói trước mà xem.

Chiếm nhà cửa, xe cộ, ghe tàu, văn thư, tấu chương đều lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng Thần. Phải coi cho rõ ở trong chươg Dụng Thần.


Chiếm giùm người ta, thì lấy Ứng hào làm Dụng Thần. Theo quẻ này, ứng ở Thìn Thổ. Muốn đặng kiết, thì phải có 4 chỗ tương sinh.


Chiếm về Huynh Đệ, lấy hào Huynh Đệ làm Dụng Thần. Theo quẻ này (quẻ nói trên), Thân Kim là Huynh Đệ, tức là dùng hào đó, nó hợp với Thổ tương sinh, sợ Hỏa tương khắc, kỵ trúng Nguyệt Phá, Tuần Không, cũng có 4 chỗ sinh khắc, đều là nhiều sinh ít khắc là kiết, ít sinh nhiều khắc là hung.

Lại nói: Hào Huynh Đệ là Thần Kiếp Tài (đoạt của). Nhưng chiếm cho biết anh em, chị em bỉ thái, thì nó phải sinh vượng, chẳng nên trúng Tuần Không, Nguyệt Phá. Như chiếm về vợ hầu, tôi tớ, cũng là tài vật, hào Huynh cần phải đặng nhiều khắc, ít sinh. Lại nó (hào Huynh) ưa gặp Tuần Không, gặp Nguyệt Phá, thì mới không cướp tài, khắc hại vợ hầu, tôi tớ (hay nhân viên) của ta được.


Chiếm về Vợ Hầu, Tôi Tớ, Tài Vật, lấy hào Thê Tài làm Dụng Thần. Theo quẻ này (quẻ nói ở trên), Dần Mộc Thê Tài là Dụng Thần, kỵ trúng Tuần Không, Nguyệt Phá, nên có Thuỷ tương sinh, sợ có Kim tương khắc, cũng có 4 chỗ sinh khắc, nhiều sinh ít khắc thì kiết, đồng như nói trên. Phàm chiếm về tiền bạc, mua bán, đều lấy hào Thê Tài làm Dụng Thần, coi kỹ trong chương Dụng Thần.


Chiếm về Tử Tôn, lấy hào Tử Tôn làm Dụng Thần. Theo quẻ này (quẻ nói trên), hào đầu Tý Thủy, tức là Dụng Thần, kỵ trúng Nguyệt Phá, Tuần Không, ưa kim tương sinh, sợ Thổ tương khắc. Cũng có 4 chỗ sinh khắc, xung hợp. Hợp tại khắc ít, sinh nhiều, cũng như nói trên. Coi về việc khác, lấy hào Tử Tôn làm Dụng Thần thì cũng thường tra trong chương Dụng Thần.


Chiếm về Công Danh, lấy hào Quan Quỷ làm Dụng Thần. Theo quẻ này (quẻ nói trên), Ngọ Hỏa Quan Tinh tức là dùng hào này. Hào Ngọ Quan rất kỵ gặp Không, gặp Phá, sợ Thủy tương khắc, ưa Mộc tương sinh. Cũng có 4 chỗ sinh khắc như trên. Chiếm quỹ xí, yêu nghiệt, loạn thần, đạo tặc, đều lấy hào Quan Quỷ làm Dụng Thần. Coi kỹ trong chương Dụng Thần.


Các việc đem ra luận từ trước tới đây, thì cuốn sau sẽ nói thêm rộng cho dễ hiểu, e rằng người sơ học không biết ngỏ mà vào. Đây chỉ nói những điểm cương lĩnh, để dẫn dẫn dắt lần vào cửa. Biết những điều cương lĩnh rồi, hãy coi các chương trong cuốn sau cho kỹ lưỡng, do cạn vào sâu, tự thấy cảnh đẹp.


Bát cung toàn Đồ ở phía trước đều là tịnh hào. Những quẻ nên có động, động thì phải biến. Thiên sau, tuy có chương động biến, e người không rõ. Đây xin vẽ ra một quẻ biến làm kiểu. Phải xem cho kỹ. Quẻ có vòng tròn 0. Biến ra vòng tròn làm "trùng", trùng là Dương, Dương động biến Âm. Quẻ có dấu tréo X. Biến ra dấu tréo làm "giao", giao là Âm, Âm động biến Dương.


Như chiếm đặng quẻ Trạch Thiên Quải, biến ra quẻ Thiên Phong Cấu:

Trạch Thiên Quải è Cấu

-X- Huynh Đệ Mùi Thổ X è --- Huynh Đệ Tuất Thổ
--- Tử Tôn Dậu Kim
--- Hợi Thuỷ Thê Tài
--- Huynh Đệ Thìn Thổ
--- Quan Quỷ Dần Mộc
-O- Thê Tài Tý Thủy O è - - Huynh Đệ Sửu Thổ



Trong quẻ này, Trạch ở trên (là ngoại quái), Thiên ở dưới (là nội quái), tức là quẻ Trạch Thiên Quải. Hãy kiếm quẻ này trong toàn Đồ (phía trước), chiếu theo đó mà trang ra Thế Ứng, Ngũ Hành, Lục Thân, rồi sau coi động hào.

Ba hào trên là quẻ Đoài, hào thứ sáu là giao động. Dấu tréo X (hai vạch ngắn) biến ra một vạch dài. Ấy là quẻ Đoài biến ra quẻ Càn, Càn vi Thiên. Ba hào dưới là quẻ Càn, hào đầu là trùng động. Vòng tròn O biến ra hai vạch ngắn, ấy là quẻ Càn biến ra quẻ Tốn, Tốn vi Phong.



Thiên ở trên, Phong ở dưới, tức là quẻ Thiên Phong Cấu. Vì hào đầu, sửu Thổ trong quẻ Cấu, đối chiếu với hào đầu phát động trong quẻ trước là Tí Thuỷ, nên gọi là Tí Thuỷ biến ra Sửu Thổ. Vì hào thứ 6 Tuất Thổ ở trong quẻ Cấu, đối chiếu với với hào thứ 6 phát động trong quẻ trước là Mùi Thổ, nên gọi Mùi Thổ biến ra Tuất Thổ. Còn các hào khác không động, thì chẳng cần viết ra.

- Theo lục Thân, trong quẻ Cấu: Sửu Thổ, Tuất Thổ nguyên là Phụ Mẫu, nay đều viết là Huynh Đệ tại sao?

- Về lục Thân, phải chiếu theo quẻ trước mà định. Quẻ trước là Trạch Thiên Quải, Thổ làm Huynh Đệ, cho nên hai Thổ Sửu Tuất ở trong quẻ mới biến ra cũng phải để là Huynh Đệ. Các hào khác động biến ra cũng theo đó mà suy. Tất cả các quẻ khác, cứ vậy mà suy.

Ghi chú: Trường hợp quẻ trước là nội hay ngoại quái là Càn, mà trong quẻ biến ra không có lục Thân, ví như Thiên Phong Cấu có hào nào đó động biến ra hào có lục Thân là Dần hay Mão Mộc, tức là trong quẻ Cấu không có. Không biết lục Thân là gì thì có thể tìm xem quẻ Cấu thuộc cung gì? Quẻ Cấu thuộc cung Càn, nó là 1 trong 8 quẻ của cung Càn nên có thể tra ngay lục Thân trong quẻ Bát Thuần Càn xem Dần Mão Mộc lục Thân là gì. Ta sẽ thấy đó là Tử Tôn Dần Mộc. Nếu là hào Mão Mộc cũng là Tử Tôn. Các quẻ và các trường hợp khác cũng theo đây mà suy xét, truy tìm về quẻ Chính Bát Thuần sẽ có lục Thân.

nhuhuong51
03-24-2008, 12:02 AM
tôi đọc fần này của bác tôi mở rộng tầm hiểu biết ra nhiều, và rất muốn có được quyển tăng san bốc dịch này .bác có thể cho tôi xin trọn bộ quyển sách này không,vì tôi rất yêu thích bộ môn này mà thiếu sách quá.mong bác giýp dỡ ,nếu được chân thành cảm ơn bác

vothuong
08-07-2008, 01:28 PM
vothuong cũng đang tìm bộ này, bác có thể cho vothuong đăng ký 1 bộ với được không.

cám ơn nhiều
vothuong

maihoang
11-27-2008, 03:39 PM
Gửi Khổng Tử,
Tôi đang nghiên cứu và tìm hiểu về Kinh Dịch, Tử vi và phong thủy, nhưng tài liệu thiếu nhiều vô cùng, sách vở ở các nhà sách nhiều nhưng loạn quá, không biết lựa chọn sách nào cho phù hợp. Vì thế rất mong Khổng Tử có thể giúp tặng tôi trọn bộ san về Dịch.
Trân thành cảm ơn,

hochoi
01-05-2009, 06:25 AM
bài này hay quá !!!!
tôi muốn bít thêm về xem mồ mả và đất cát???????????
không bít áp lục thần như thế nào và đoán ra sao??????mục này khó quá!
xin được chỉ giáo cảm ơn lắm lắm!!!!!!!!!

gaumeo
01-05-2009, 06:33 AM
gửi anh Mai Hoàng !

sách cũng quan trọng nhưng chân sư còn quan trọng hơn. gaumeo nghĩ anh nên kiếm một người thấy thì tốt hơn.

huynhthanhchiem
02-03-2009, 07:24 PM
Quẻ dịch có sách gọi là quẻ diệc. Mình cũng có cuốn Tăng San Bốc Dịch của Dã Hạc Lão nhơn nhưng đọc cũng hiểu mờ mờ. Theo mình kiếm thầy học thì hơn hẳn nhưng mình hiện nay ở Nha trang thì bạn nào biết thầy nào ở đây giỏi không và có thu nhận học trò. Cho mình xin địa chỉ liên lạc nhé

huynhthanhchiem
02-03-2009, 07:31 PM
Luận về quẻ Diệc ( Bài số 13 ) trang 61 Đại Diệc Toàn Bộ của Lê Văn Nhàn Vĩnh Long in 1957
" Ai muốn học phải đọc thuộc lòng, bài nào tôi dặn phải đọc thuộc như tụng kinh gõ mõ vậy, thời trang quẻ gắn quẻ mới đặng, phải nhìn coi tám hào dưới đây cho nhớ :
CÀN , KHẢM, CẤN, CHẤN, TỐN, LY, KHÔN, ĐOÀI

thaivanky
02-03-2009, 07:59 PM
http://phongthuy.vietaa.com/Images/Batquai/kham.png

huynhthanhchiem
02-04-2009, 06:57 AM
Cảm ơn thaivanky nhe
Bạn gởi vòng la bàn dùng trong phong thủy rất hay. Như vậy trên la bàn để nhìn ra CÀN KHẢM CẤN CHẤN TỐN LY KHÔN ĐOÀI phải từ ngoài nhìn vào. Mình định gởi ký hiệu âm dương đó mà không biết cách làm. Nếu được bạn post lên luôn nhé
Càn : 3 vạch liền ( ___
____
____
càn tam liên tây bắc tuất hợi
Khảm trung mãn chánh bắc đương Tí ( Khảm vạch dương liền ở giữa hai vạch âm )....

gaumeo
02-04-2009, 07:04 AM
Hỡi ôi, địch nhân nắm giữ Thủy Hỏa Vị Tế rồi, còn ta ôm khư khư mộng ảo chờ "Sơn Thiên Đại Súc" tới bao giờ ?

huynhthanhchiem
02-04-2009, 07:14 AM
Không hiểu gaumeo nói gì ? Hình như có câu này " Vì thánh nhân tìm lại cái học đã mất "

huynhthanhchiem
02-11-2009, 09:43 PM
Quyển Tăng San Bốc dịch hơi khó hiểu. Mình cố gắng post sách cổ lên đã dịch ra quốc ngữ bạn đọc sẽ thấy rất dễ hiểu và có nhiều bài ngắn gọn bạn thuộc lòng sẽ nắm ngay được quy luật của nó. Nhưng phú đoán thì vì là tiếng nôm nên hy vọng trên diễn đàn này mình và các bạn sẽ gặp quý nhơn :
Anh khongtu đã post :
Chương 2: QUÁI TƯỢNG ĐỒ

CÀN tam liên (3 gạch liền): được 3 hào Dương không có hào bị đứt khúc

KHÔN lục đoạn (6 đoạn): được luôn 3 hào Âm có 6 đọan ngắn

CHẤN ngưỡng bồn (chậu để ngửa): hào đầu dương, hào 2 hào 3 là Âm

CẤN phúc oản (chén để úp): hào 1 hào 2 là Âm, hào 3 Dương

Ly trung hư (giữa ruột trộng): hào 1 và hào 3 Dương, hào 2 ở giữa Âm

KHẢM trung mãn (giữa ruột đầy): hào 1 và hào 2 là Âm, hào 2 Dương

ĐOÀI thượng khuyết (trên khuyết): hào 1 hào 2 Dương, hào 3 là Âm

TỐN hạ đoạn (dưới đứt khúc): hào đầu Âm, hào 2 hào 3 là Dương

Mình xin được nói rõ thêm : CÀN vi Thiên, Khảm vi Thuỷ, Cấn vi Sơn, Chấn vi Lôi, Tốn vi Phong, Ly vi Hỏa, Khôn vi Địa, Đoài vi Trạch
Mỗi quẻ dịch đều có 6 hào. Phép bắt quẻ dịch là từ dưới chấm lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái. Đọc tên quẻ là đọc từ trên xuống. Đọc ngoại quái trước và nội quái sau.
gieo quẻ ta được quẻ sau :
Nội quái là Càn : Thiên
Ngoại quái là Khôn : Địa
Như vậy ta được quẻ Địa Thiên Thái..


http://i558.photobucket.com/albums/ss21/huynhthanhchiem/Img0109.jpg

huynhthanhchiem
02-11-2009, 10:23 PM
Kinh dịch có 64 quẻ. Học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết cuốn Kinh Dịch Đạo của người quân tử đã lược bỏ phần huyền bí bói toán mà nặng về phần triết lý nhân sinh quan của những người theo Đạo mà cụ gọi vắn tắc là đạo Dịch, đạo của bật chính nhân quân tử ngày xưa.
Còn ở đây mình sẽ đi sâu vào phần huyền bí bói toán mà cụ thể là cuốn TĂNG SAN BỐC DỊCH mà anh khôngtu đã post lên.
Mỗi quẻ dịch căn bản có 6 hào. Ba hào dưới gọi là nội quái, ba hào trên gọi là ngoại quái. Chấm quẻ phải bắt từ dưới chấm lên và bạn phải nạp chi cho mỗi hào.
Như quẻ thuần Càn ta thấy 6 hào đều là dương cả. Bạn xem bản dưới và đối chiếu với bản post trên bạn sẽ thấy vì sao hào này có chi vậy ( tí, sửu,dần, mão...)
CÀN VI THIÊN

--- Phụ Mẫu Tuất Thổ (Thế)
--- Huynh Đệ Thân Kim
--- Quan Quỷ Ngọ Hỏa
--- Phụ Mẫu Thìn Thổ (Ứng)
--- Thê Tài Dần Mộc
--- Tử Tôn Tý Thủy
Quẻ này nội quái là Càn ( Nội Càn ), bắt từ dưới chấm lên là Tý, Dần, Thìn
Quẻ này ngoại quái cũng là Càn ( Ngoại Càn ), từ hào 4 chấm lên là Ngọ, Thân, Tuất
Ta xem tiếp quẻ thứ hai nhé :

PHONG ĐỊA QUAN


--- Thê Tài Mão Mộc
--- Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Thế)
- - Thê Tài Mão Mộc
- - Quan Quỷ Tỵ Hỏa
- - Phụ Mẫu Mùi Thổ (Ứng)
Quẻ này nội quái là Khôn ( Nội Khôn ) từ dưới chấm lên là : Mùi, Tỵ, Mão
Ngoại quái là Tốn ( Ngoại Tốn ) từ hào 4 chấm lên là Mùi, Tỵ, Mão
Tất cả các quẻ mà cuốn TĂNG SAN BỐC DỊCH anh khongtu đã post lên đều theo quy luật này ( quy luật của bài 14 )
Các bạn nào quan tâm thử kiểm tra lại thử xem .
http://i558.photobucket.com/albums/ss21/huynhthanhchiem/Img0110.jpg

huynhthanhchiem
02-19-2009, 12:01 AM
Mình phải đánh lại vì không thể gởi bản scan lên được do photobucket.com hình như mấy bữa nay bị quá tải !


BÀI SỐ 15 - LỤC THẦN ( phải đọc thuộc lòng )
Càn, Đoài, Kim huynh Thổ phụ truyền. Mộc tài Hỏa quỷ Thủy tử nhiên
Khôn, Cấn, Thổ huynh Hỏa vi phụ. Mộc quỷ Thủy tài, Kim tử lộ
Chấn, Tốn, Mộc huynh Thủy phụ mẫu. Kim quỷ Hỏa tử tài thị Thổ
Khảm cung Thủy huynh Hỏa vi tài. Thổ quỷ Kim phụ Mộc tử lai
Ly cung Hỏa huynh Thủy vi quỷ. Thổ tử mộc phụ Kim tài trợ

Phải thuộc lòng bài này để gắn huynh, tử, tài, quỷ, phụ cho từng hào của quẻ dịch. Muốn vậy phải thuộc lòng tên 64 quẻ dịch và biết mỗi quẻ nằm trong nhóm nào, thuộc ngũ hành nào. Đó thuộc bài 16 mình post lên sau

huynhthanhchiem
03-07-2009, 09:17 PM
Đây là tên của 64 quẻ của Kinh Dịch tra bảng sau :
http://i558.photobucket.com/albums/ss21/huynhthanhchiem/Img0025-2.jpg
http://i558.photobucket.com/albums/ss21/huynhthanhchiem/Img0026-3.jpg

huynhthanhchiem
03-07-2009, 11:29 PM
Đây là tên của 64 quẻ của Kinh Dịch :
64 Quẻ Kép được Sắp Xếp theo thứ tự như sau:

1) Họ Càn hành KIM : Càn, Cấu, Độn, Bỉ, Quan, Bác, Tấn và Đại Hửu.

2) Họ Khảm hành THỦY : Khảm, Tiết, Truân, Kỷ Tế, Cách, Phong, Minh Di và Sư

3) Họ Cấn hành THỔ : Cấn, Bí, Đại Súc, Tổn, Khuê, Lý, Trung Phu và Tiệm.

4) Họ Chấn hành MỘC : Chấn, Dự, Giãi, Hằng, Thăng, Tỉnh, Đại Quá và Tùy.

5) Họ Tốn hành MỘC : Tốn, Tiểu Súc, Gia Nhân, Ích, Vô Vọng, Phệ Hạp, Di và Cổ.

6) Họ Ly hành HỎA : Ly, Lữ, Đỉnh, Vị Tế, Mong, Hoán, Tụng và Đồng Nhân.

7) Họ Khôn hành THỔ: Khôn, Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quải, Nhu và Tỷ.

8) Họ Đoài hành KIM: Đoài ,Khốn, Tụy, Hàm, Kiển, Khiêm, Tiểu Quá, Quy Muội.

love4ever
03-08-2009, 01:25 AM
Anh huynhthanhchiem nghiên cứu cả Bốc dịch nữa. Thành thật bái phục anh

huynhthanhchiem
03-08-2009, 05:33 AM
Mình chỉ gởi bảng biểu của cụ Nguyễn Hiến Lê để tìm tên quẻ lên thôi. Còn đoạn dưới của bạn mình copy nguyên đấy chứ, nhưng nó quá chuẩn theo sách xưa nên mình không ghi chi tiết.