View Full Version : Định mệnh có thật hay không?
KhongTu
02-25-2007, 04:15 PM
Ngay từ thuở hoang sơ của nhân loại - khi lịch sử hãy còn là truyền thuyết. Con người đã có những cố gắng tìm kiếm những thông tin cho tương lai của cuộc đời. Nhưng tính chính xác của dự báo càng cao, con người càng bị đẩy dần đến sự khắc nghiệt của định mệnh. Hàng thiên niên kỷ đã trôi qua. Nhân loại vẫn chưa tìm được câu trả lời:
ĐỊNH MỆNH CÓ THẬT HAY KHÔNG?
Thay lời mở đầu
Có thể nói rằng:
Ngay từ thuở hoang sơ của loài người, vào thời mà lịch sử chỉ là những truyền thuyết và huyền thoại, nhưng khi con người đã ý thức được sự tồn tại của chính mình thì cũng muốn biết đến tương lai của cuộc đời. Từ vua chúa đến thứ dân, họ đã tìm đến những nhà tiên tri - hoặc nhân danh thần thánh, hoặc nhân danh những quyền lực siêu nhiên - để nghe lời tiên đoán về những việc lành dữ sẽ xẩy ra cho số phận con người và cả những quốc gia. Từ những truyền thuyết và huyền thoại cổ xưa nhất cho đến giai thoại về những nhà tiên tri, những phương pháp bói toán của các nền văn minh cổ còn lưu truyền, cho đến sự hiện hữu của những nhà tiên tri nổi tiếng ngay trong thời hiện đại, đã chứng tỏ con người luôn muốn biết trước tương lai của mình. Hiệu quả của những lời dự đoán trải dài theo lịch sử nhân loại cho đến tận ngày hôm nay, thỏa mãn được trí tò mò của con người trước những cái sẽ xảy ra cho số phận con người. Nhưng oái ăm thay! Chính hiệu quả của những lời dự đoán đó, lại khiến cho con người phải ngậm ngùi khi đặt vấn đề cho thân phận của mình: Định mệnh có thật hay không?
Bạn có thể đã từng đi xem bói. Thầy bói nói trật lấc. Bạn có thể có lý khi không tin vào định mệnh và chỉ tin vào chính khả năng của mình. Bạn vẫn có thể thành công và tay trắng tạo nên sự nghiệp. Bạn vẫn có thể yên tâm nhắm mắt, xuôi tay ở giây phút chót của cuộc đời và di huấn lại cho con cháu: "Không có định mệnh, tất cả đều do chính con người!".
Nhưng, những điều xảy ra cho cuộc đời của bạn, chưa chứng minh được rằng: Định mệnh không có thật. Bởi vì, tất cả những tri kiến tích lũy trong cuộc đời bạn, chỉ có thể giải thích được những cái đã xảy ra. Nhưng con người lại muốn biết chính xác những cái sẽ xảy ra. Tính chính xác của sự dự báo càng cao, con người lại càng bị đẩy gần tới sự khắc nghiệt của định mệnh?!
Không chỉ có bạn, những niềm tin tôn giáo chính thống cũng phủ nhận định mệnh và cho rằng chỉ có Đấng Chí Tôn mới quyết định số phận con người. Với niềm tin này, cho rằng mọi số phận đều đã được Đấng Chí Tôn an bài từ trước. Số phận con ngườI phụ thuộc vào Đấng Chí Tôn. Bởi vậy; những người trung thành với niềm tin tôn giáo mãnh liệt nhất, phải cố gắng làm vừa lòng Đấng Chí Tôn để thay đổi số phận của mình trong hiện hữu, trong tương lai và trong cả những kiếp mai sau. Hoặc số phận của bạn phụ thuộc vào qui luật Nhân & Quả = không có Định Mệnh mà chỉ có sự nhận thức và hành vi của con người và hậu quả của nó. Như vậy; trong trường hợp này:
Không có định mệnh. Vì nó phụ thuộc vào tri thức của bạn (luật nhân quả); hoặc vào ý chí của Đấng Tối Cao?
Như vậy; những lời tiên tri - hoặc là - chỉ là sự phản ánh ý trí của Đấng Tối Cao; hoặc là phản ảnh hậu quả của chính những dữ kiện trong cuộc đời của bạn và dữ kiện đó phụ thuộc vào tri thức của bạn?
Hoặc cũng có thể bạn nhân danh khoa học và cho rằng định mệnh là hệ quả của sự bói toán, mê tín dị đoan. Nhưng nếu bạn là một nhà khoa học, thì chắc chắn bạn cũng biết một tiêu chí khoa học là:
"Một giả thiết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó giải thích được hầu hết những vấn đề liên quan đến nó và có khả năng tiên tri".
(mà dân gian gọi nôm là "bói" ).
Hơn nữa, chính các nhà khoa học đang mơ ước:
"Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích mọi sự kiện bao quanh của con người từ những hạt vật chất cực nhỏ, đến những thiên hà khổng lồ".
Chúng ta đặt một giả thiết rằng: Tri thức của nhân loại đã đạt được điều mà các nhà khoa học đang mơ ước. Nhưng siêu lý thuyết đó - khi hiện hữu - lại tồn tại trong một cuộc sống và xã hội vẫn tiếp tục phát triển. Như vậy, một trong những chức năng quan trọng của siêu lý thuyết này sẽ lại là những lời dự báo mọi sự kiện bao quanh của con người, cho đến sự vận động của những thiên hà khổng lồ. Phải chăng chính khoa học, khi đạt đến sự tuyệt đỉnh của nó, sẽ lặp lại câu hỏi mà nhân loại đã đặt ra từ ngàn xưa: Định mệnh có thật hay không? Bởi vì, một lý thuyết khoa học thực sự phải có khả năng dự báo những hiện tượng liên quan đến nó. Sự khác nhau giữa khả năng tiên tri đã và đang hiện hữu trong lịch sử với khi tri thức của nhân loại đạt được một siêu lý thuyết (theo giả thuyết) là: Sự tiên tri đang hiện hữu, tri thức khoa học hiện đại chưa lý giải được căn nguyên của nó và mang màu sắc huyền bí; còn sự tiên tri trong tương lai thì con người biết được căn nguyên của nó nên không thấy huyền bí. PhảI chăng - trong trường hợp này – chính những tiêu chí khoa học và những mơ uớc của nó lại chứng tỏ Định mệnh đang hiện hữu trên thực tế và sẽ được khoa học chứng minh trong tương lai?
Nhưng liệu khả năng của khoa học hiện đại có thể đạt được điều mơ ước đó không?
Trong cuốn sách khá nổi tiếng:"Thượng Đế và Khoa học" (Tác giả Jean Guiton. Grichka Bogdanov. Igor Bogdanov. Nxb Grasset - Paris) cho thấy Thượng Đế vẫn mỉm cuời trước những cố gắng của con người - trước những tri thức khoa học hiện đại nhất - trong việc tìm về sự khởi nguyên của vũ trụ. Trong lời giới thiệu cho cuốn sách (Bản dịch tiếng Việt của Lê Diên.Nxb Đà nẵng), giáo sư Đặng Mộng Lân đã viết:
"Nói cách khác, Thượng Đế hay khoa học, đó chỉ là hai sự lựa chọn. Guiton đã chọn khả năng thứ nhất. Còn khả năng thứ hai? Không có gì ngăn cản chúng ta với sự lựa chọn còn lại".
Có lẽ ông Đặng Mộng Lân đã lầm.Ở đây không phải là sự lựa chọn mang tính áp đặt chủ quan; mà là phải chứng minh cho một trong hai khả năng ấy: Thượng Đế hay khoa học. Với tựa của luận đề này và cũng là vấn đề đặt ra cho nó thì dù Thượng Đế hay khoa học sẽ đều có trách nhiệm chung để trả lời một câu hỏi tồn tại từ ngàn xưa của nhân loại:
"Định mệnh có thật hay không?".
Vấn đề là:
Sự trả lời ấy nhân danh Thượng Đế hay khoa học!
Ông Guiton đã lựa chọn khả năng thứ nhất và ông đã chứng minh cho sự lựa chọn của mình qua những lý thuyết khoa học hiện đại và tiên tiến nhất trong cuốn: "Thượng Đế và Khoa học". Nếu ý chí của Thượng Đế chính là sự khởi nguyên của vũ trụ thì sự lý giải cho vấn đề đặt ra của luận đề này sẽ được giải quyết đơn giản hơn nhiều: Định mệnh sẽ không có thật, vì nó lệ thuộc vào ý chí của Đấng Chí Tôn khi Ngài muốn thay đổi trật tự của vũ trụ. Luận đề này sẽ được kết thúc ở đây.
Nếu vũ trụ này là một sự tồn tại khách quan, tự nó và do nó; đồng thời khoa học là kết quả của sự nhận thức của con người phản ánh những qui luật vận động khách quan của vũ trụ thì những lời bói toán, tiên tri chính là kết quả của những sự tương tác có tính qui luật của vũ trụ với cuộc sống con người mà con người có khả năng nhận thức được. Nhưng với sự lựa chọn này, luận đề mà tôi đang tuờng với các bạn sẽ phải chứng minh điều đó. Như vậy, cũng đồng nghĩa với việc nó phải vượt qua chính cái ngưỡng mà nền khoa học hiện đại chưa đạt tới và đang mơ ước.
Nhưng với lập luận này - khi con người khi nhận thức được những qui luật tương tác của vũ trụ và tích luỹ những tri thức ấy - thì chính sự nhận thức lại không thuộc về những qui luật đó. Vì sự nhận thức lúc này là một chủ thể và là đối tác của những qui luật tạo nên Định mệnh. Tất nhiên nó không phải Định mệnh. Như vậy giữa Định mệnh và phi Định mệnh; đâu là chân lý? Chiếc chìa khoá mở bức màn huyễn ảo này đang ở đâu?
Thiên Sứ
KhongTu
02-25-2007, 04:16 PM
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA ĐỊNH MỆNH
Tiếp Theo
Trong truyện Kiều, một áng văn chương trác tuyệt của người Lạc Việt, cụ Nguyễn Du đã mở đầu cho thiên trường thi bất hủ của mình bằng một cảm nhận hoài nghi cho sự tồn tại của định mệnh:
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ Tài, chữ Mệnh khéo là ghét nhau.
Trong suốt thiên trường thi tiểu thuyết đó, định mệnh như đeo đẳng; quyết định số phận cay đắng của nàng Kiều. Nhân vật Thúy Kiều đã cố gắng vùng vẫy; nhưng hình như cũng không thoát khỏi định mệnh:
Chém cha cái số hoa đào
Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi
Nhưng những sự kiện xảy ra liên tiếp trong truyện Kiều, cũng không minh chứng được sự tồn tại của định mệnh cho số phận của con người. Để rồi cụ Nguyễn Du cũng phải thở dài, buông một vần thơ nổi tiếng, trở thành thành ngữ trong ngôn ngữ Việt Nam.
Nào ai học được chữ ngờ?
Với khái niệm của chữ "ngờ" thì sự may rủi không thuộc về định mệnh, mà đó là quan hệ giữa tri thức của con người với khả năng dự liệu những sự kiện có thể xảy ra trong tương lai. Và cái vòng lẩn quẩn lại lặp lại. Con người - để tránh chữ "ngờ" - tiếp tục đi tìm tương lai qua những lời dự báo. Tính chính xác của dự báo lại đặt ra một khái niệm về “định mệnh” cho số phận con người.
Ngay cả Khổng Minh Gia Cát Lượng, một nhân tài kiệt xuất - người đã tạo nên một cục diện lịch sử Trung Hoa thời Tam quốc - hình như cũng không thoát khỏi định mệnh qua tiếng thở dài của Tư Mã Đức Tháo:
"Khổng Minh tuy gặp chủ nhưng không gặp thời. Thật tiếc lắm thay!".
Cuối đời, ông cũng phải ngậm ngùi nhìn ngôi sao định mệnh của mình rơi ở gò Ngũ Trượng, để lại một sự nghiệp còn giang dở.
Không phải chỉ ở phương Đông, định mệnh còn là sự ám ảnh của con người trên khắp thế giới, theo xuốt dọc thời gian lịch sử loài người. Mỗi nền văn minh cổ mà những di sản văn hóa còn truyền lại đến bây giờ, đều có những phương pháp dự đoán khác nhau nhằm tìm kiếm những thông tin cho tương lai. Từng thời đại trong lịch sử loài người đều ghi nhận trong truyền thuyết những nhà tiên tri có tên tuổi. Ngay trong thời hiện đại cũng có những nhà dự đoán mà tên tuổi được nhắc nhở: Bà Vanga, nhà tiên tri người Bungari; Hassan Chami, phó chủ tịch hội chiêm tinh thế giới người Tuynidi; Thiệu Vĩ Hoa, nhà dự đoán học người Trung Quốc… đã dự đoán nhiều sự kiện và thế giới phải kinh ngạc vì sự chính xác của nó (Mặc dù có những sự kiện nổi tiếng họ đã không dự đoán như: Cuộc họp bí mật và tốn kém nhất trong lịch sử nhân loại của Tổng thống Mỹ Reagan và Tổng thống Liên Xô Goocbachop ở Địa Trung Hải). Nhưng không phải lúc nào họ cũng đoán trúng. Một thí dụ trong trường hợp này là: Vào năm 1998, ông Hassan Chami đã tiên đoán:
"Giáo hoàng Jean Paul II, Quốc vương Ả Rập Saudi Fahd, Tổng thống Habib Bourguiba, nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz và diễn viên điện ảnh Mỹ John Travolta sẽ chết trong năm nay. Tổng thống Mỹ Bill Clinton; Tổng thống Pháp Jacques Chirac sẽ là mục tiêu của các cuộc mưu sát. Tổng thống Ai Cập Hoshi Moubarak và Tổng thống Libi Kadafi là mục tiêu của các cuộc đảo chính quân sự".
Trong đó ông cũng mạnh dạn đoán rằng:
"World Cup 98 sẽ bị khủng bố."
Những người quan tâm hồi hộp chờ đợi sự ứng nghiệm của những lời tiên tri, như một định mệnh đã an bài. Nhưng may quá....nó đã không xảy ra. Chưa hết - vào năm 1999, hiện tượng đại thập tự giá trên không gian Thái Dương hệ, khiến cả thế giới xôn sao về khả năng xảy ra ngày tận thế. Bà Elizabeth Teisster, một chiêm tinh gia nổi tiếng của Pháp, đã khẳng định một cách bi đát cho tình cảnh của nhân loại trong năm 1999 như sau:
"Năm 1999 sẽ là năm thật sự bùng nổ về thiên tai và sự xung đột quốc tế với qui mô còn lớn hơn cả chiến tranh vùng Vịnh"
Bà còn cho biết: nếu đoán sai, bà sẽ giải nghệ (Theo tạp chí Thế giới mới - số 325. Xb tạI VN). Điều này lại trùng hợp với khả năng xảy ra sự cố Y2K mà ngay cả những nhà khoa học nghiêm túc nhất cũng kêu gọi nhân loại văn minh cần đề phòng. Các hãng mỳ tôm hoạt động hết công xuất, hàng bán chạy như tôm mà không tốn tiền quảng cáo. Cả nhân loại quan tâm lại hồi hộp chờ đợi. Kết thúc năm 2000. Chẳng có gì cả. Toàn nhân loại hân hoan chào đón thiên niên kỷ mới với những cách hiểu khác nhau: nơi đón vào năm 2000; nơi thì vào năm 2001.
Nhưng ngay cả những lời bói toán trật lấc mang tầm vĩ mô như vậy, cũng chưa lay chuyển được sự hoài nghi về khả năng tồn tại của định mệnh. Đây là sai lầm do khả năng của người dự đoán, hay là tính phi khoa học của phương pháp dự đoán? Hay cũng có thể do con người đã biết trước sự việc xảy ra, nên đã tác động theo hướng có lợi cho con người?
Trải hàng thiên niên kỷ, những lời tiên tri ứng nghiệm trong thế hệ này, gây sự hoài nghi của thế hệ sau. Làm sao bạn có thể tin được có một lời tiên tri cho một sự kiện đã xảy ra trước khi bạn ra đời? Không hề có biên niên sử cho những lời tiên tri. Nhưng những lời tiên tri ấy vẫn hiện hữu trong cuộc sống của từng thế hệ, dù đúng hay sai, được công nhận hay không công nhận, như vẫn nhắc nhở cho con người một sự ám ảnh của định mệnh.
Nhưng không phải lúc nào sự dự đoán cũng sai lầm.
Trong nền văn minh Đông phương cổ đại đã tồn tại những lời tiên tri đầy huyền bí nói về số phận từng con người, của cả một thành phố, cả những quốc gia hay thậm chí của cả thế giới. Những phương pháp bói toán, tiên tri phổ biến của nền văn minh này hầu hết đều có phương pháp luận của nó. Thật kỳ lạ thay! Có một hệ thống lý thuyết vũ trụ - nền tảng của những phương pháp luận cho những lời bói toán huyền bí ấy - lại không coi sự khởi nguyên của vũ trụ bắt đầu từ ý thức của Đấng Chí Tôn. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành.
Trong kho tàng kiến thức của nhân loại, về khả năng dự báo tương lai - nếu tạm gác lại những khả năng trực giác mang tính tiên tri - được ghi nhận qua truyền thuyết của những nhà tiên tri thuộc nền văn minh Hy-La, hoặc cổ Ai Cập cho đến Notsdame, hoặc gần hơn như bà Vanga ở Bungari hiện nay; thì những phương pháp để tìm các thông tin về tương lai của tự nhiên, xã hội và con người, có một hệ thống và phương pháp luận nhất quán phải kể đến: Thái Ất thần kinh, Mai Hoa dịch số, Tử vi đẩu số, Nhân tướng học… của học thuật Đông phương cổ đại. Hiệu quả của sự dự báo này khiến cho những người quan tâm phải kinh ngạc:
Trong sách "Chu Dịch và dự đoán học", ông Thiệu Vĩ Hoa đã viết:
“Tháng 10 năm 1990, một cán bộ chỉ huy tác chiến cao cấp của một bộ tư lệnh đã dùng phương pháp dự đoán giới thiệu trong sách, đã dự đoán trước ba tháng cuộc chiến vùng Vịnh làm chấn động cả thế giới sẽ nổ ra từ 5 đến 9 giờ sáng ngày 17 tháng 1 năm 1991. Ngày 13 tháng giêng năm 1991 họ đã báo cáo lên bộ phận chỉ huy cấp trên về việc này. Cấp trên đã hỏi lại họ"Làm sao các anh biết được mấy giờ ngày ấy sẽ nổ ra?" Họ trả lời "Dùng Bát quái tính ra". Cấp trên không chấp nhận và nói "Bát quái có thể tính ra ngày giờ đánh nhau thì cần gì đến ban chỉ huy chúng tôi nữa". Ngày 17 tháng giêng, quả nhiên trong thời gian dự đoán đã úng nghiệm”.(*)
* Chú thích: "Chu Dịch và dự đoán học". Thiệu Vĩ Hoa. NXB Văn Hóa 1995. trang IX - X.
Để xảy ra một sự kiện lịch sử, không phải chỉ do một vài nguyên nhân đơn giản, dễ nhận thấy, xuất phát từ những hành động và suy nghĩ của một vài nhân vật lịch sử theo kiểu cái hắt hơi của Napoleon, đã gây nên sự thất bại của ông trong trận Oaterlo. Nhưng thật khó giải thích khi chỉ bằng ba đồng tiền cổ rơi trên chiếc mai rùa của một quẻ Dịch, cả một sự kiện mang tầm cỡ quốc tế đã được dự đoán trước ba tháng - chính xác đến tận giờ nổ súng của cuộc chiến vùng Vịnh. Để xảy ra một sự kiện tầm cỡ lịch sử nhân loại như vậy - trùng khớp với lời tiên tri - thì mọi diễn biến của sự kiện: Từ những tính toán của bộ máy chiến tranh của cả hai bên; sự hoạt động tấp nập nhộn nhịp của các chính khách có chỉ số IQ khác nhau; của các nhà ngoại giao tài ba hoặc chuyên gây khó chịu; mức độ ảnh hưởng của các cường quốc lớn nhỏ; cho đến sự vận động của từng người lính trong bộ máy chiến tranh…đều phải trùng khớp đến từng chi tiết. Chỉ cần một sự trục trặc - một toán biệt kích bị lộ, hoặc một tù binh bị bắt chẳng hạn - cuộc chiến vùng Vịnh I sẽ không thể xảy ra từ 5 đến 7 giờ sáng ngày 17/ 1/ 1991, mà có thể sẽ vào dịp khác!
Phải chăng định mệnh đang chi phối cả lịch sử của loài người? Phải chăng, ngay với sự vận động ở quy mô xã hội, mà trong đó những giá trị thánh thiện, tình yêu thương cùng với những âm mưu đen tối và mọi cái xấu xa bẩn thỉu đều quay cuồng trong trò chơi định mệnh, để con người phải ngậm ngùi trong số phận của mình? Hay đó chỉ là những diễn tiến tất yếu có thể dự đoán được, nhưng bằng những phương pháp bắt nguồn từ những nhận thức của thời xa xưa, mà ngày nay con người hiện đại đã xa lạ với những khái niệm của nó?
Bạn vẫn có thể hoài nghi sự dự đoán của ông Thiệu Vĩ Hoa. Bởi vì, ít nhất sự dự đoán của ông chỉ được công bố chính thức sau khi cuộc chiến đã xảy ra. Chẳng ai hơi đâu mà kiểm chứng một lời bói toán (cho dù của một thiên tài), nhưng lại không có văn bản chính thức lưu lại mà chưa được công chứng như vậy (Tối thiểu cũng phải ở cấp phường). Nhưng vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây.
Trong mùa Tiger cúp 1998. Tại sân vận động Hàng Đẫy - Hà Nội, một trận đấu được chờ đợi từ lâu sắp xẩy ra giữa đội tuyển Việt Nam và Thái Lan. Tất cả khán giả xem truyền hình trực tiếp trong cả nước và có thể cả nước ngoài, đều nhìn thấy một khán giả giương cao tấm bảng ghi tỷ số 4 - 1. Hình ảnh này được lặp lại không chỉ một lần. Sau trận đấu, đội Việt Nam thắng 4, Thái Lan 1, đúng như lời tiên tri. Để có kết quả tiên tri này, người dự báo phải chọn 1 trong 100 con số. Tức là, phải chọn từ 0 - 0 đến 9 - 9. Nói theo ngôn ngữ toán học thì xác xuất dự báo chỉ là 1%. Hiện tượng dự báo chính xác này cũng không thể khiên cưỡng cho rằng: Đó là do tính ngẫu nhiên của phép xác xuất (mà dân gian quen gọi nôm là "chó ngáp phải ruồi"). Bởi vì, để có một tỷ số như vậy, không thể giải thích đơn giản chỉ là tính xác xuất; mà đó là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố: Từ nỗ lực của huấn luyện viên, ban lãnh đạo đội bóng cho đến từng cầu thủ; cũng còn phải kể đến sự nhiệt tình của cổ động viên, tâm lý trọng tài và hàng trăm thứ khác. Chỉ cần một ngọn gió đổi chiều, một cú sút không phải từ má trái, mà từ má phải của bàn chân, cũng đủ để tỷ số sẽ thay đổi! Nhưng ở đây, tất cả đã trùng khớp như một sự an bài kỳ diệu để tỷ số phải là 4 -1!
Trong trang web Tuvilyso.com, nếu ai có dịp ghé qua sẽ chứng kiến lời tiên tri thần sấu của Thiên Cơ và Dương Tường trong topic do CayVong pos lên vào đầu năm 2003; có tựa là:"Vận của Sadam Hussen sắp hết?”: Họ đã đoán trước chính xác đến ngày khởi chiến của cuộc chiến vùng Vịnh II (Thiên Cơ) và ngày kết thúc (Dương Tường) trước ba tháng khi cuộc chiến xảy ra.
Chưa hết! Bạn đọc hãy xem đoạn trích dẫn sau đây trong sách "Thái Ất thần kinh". Dịch giả Thái Quang Việt, đề đáp Nguyễn Đoàn Tuân. Nxb Văn Hóa Dân Tộc 2/ 2001. Trang 352:
"Trong sách nói về quẻ Giải là do sấm mưa tạo nên họa hoạn, nạn tai và thế giới khó bề an ninh, động 8 phương nước lớn, thuộc hạn cửu dương bách lục, nhất là vào cuối năm 2002 là Nhâm Ngọ thì thế giới có nạn lụt lớn vô cùng".
(Chú thích: Cuốn sách này được tái bản vào tháng 4/ 2002 (Tháng 3/ Nhâm Ngọ.Tức là trước khi nạn lụt xảy ra). Lời tiên tri trong lần tái bản này ở trang 397. Cụ Nguyễn Đoàn Tuân mất vào ngày 19/7 năm Nhâm Ngọ; tức là trước khi cụ được tự hào nhìn thấy sự tính toán chính xác của mình bằng phương pháp Thái Ất).
Qua đoạn trích dẫn trên, bạn đọc cũng thấy đây là một lời tiên tri và đã ứng nghiệm vào một năm sau đó. Trong năm Nhâm Ngọ (2002) bắt đầu vào tháng 7 Âm lịch (nửa cuối năm), bão lụt hoành hành khắp từ châu Mỹ sang châu Âu, Băng Đa Let, Ấn độ, Nam Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và đều là những cơn bão, lụt tầm cỡ lịch sử. Thậm chí cho đến tận những ngày cuối cùng của năm Nhâm Ngọ, thiên tai do lở đất và lụt lội khủng khiếp vẫn xảy ra ở Indonesia và Peru. Có thể nói rằng: đây là lời tiên tri chi tiết và sớm nhất về khí hậu toàn cầu, trước tất cả các cơ quan dự báo khí tượng hiện đại nhất thế giới. Tất nhiên, không phải chỉ đến khi sách phát hành, lời dự báo đó mới được thực hiện. Đây là một công thức tính toán có phương pháp hẳn hoi. Phương pháp này đã được lập thành với thời gian tính bằng thiên niên kỷ. Phải chăng ở đây, định mệnh đã an bài hay một quy luật vũ trụ đã được nhận thức từ trước đó, từ nền văn hóa cổ Đông phương và nó đã được ký hiệu hoá?
Nếu định mệnh có thật và nhân danh bất cứ một giá trị tuyệt đối nào; phải chăng con người chỉ là một thứ robot sinh học, được lập trình từ trước trong trò chơi của tạo hóa? Nhưng nếu định mệnh có thật - thì dù hiện hữu dưới bất cứ hình thức nào và gọi bằng bất cứ danh từ gì - nó sẽ là đối tác trong khả năng nhận thức của con người. Lúc ấy, chính khả năng nhận thức của con người lại không thuộc về định mệnh.
Phải chăng định mệnh không có thật?
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
KhongTu
02-25-2007, 04:17 PM
KHÁT VỌNG TIÊN TRI
Nhà tư tưởng Pháp – ông Pascal – đã có một sự so sánh rất nhân bản về thân phận con ngườI:
”Con ngườI chỉ là một cây sậy nhỏ bé và yếu ớt trong vũ trụ. Nhưng là một cây sậy có tư tuởng!”.
Số phận con ngườI và kiếp sống của nó thật mong manh. Thiên tai; chiến tranh; đói nghèo bệnh tật luôn rình rập thân phận con người. Đức Phật đã nói trong sự xót thương:
“Nước mắt thế nhân bao đờI kiếp đã chảy đầy thành bể khổ. MọI kiếp ngườI trầm luân trong đó. Ngay cả những người cho là sung sướng cũng chỉ lênh đênh trên mặt bể khổ mà thôi”.
Chính vì thân kiếp mong manh đó; mà con ngườI có khát vọng tiên tri. BởI vì con ngườI muốn thoát khỏi cảnh khổ trần gian mà họ sẽ phải gặp trong thân kiếp làm người. Chỉ có những sinh vật cao cấp mới có khả năng tiên tri vì sự phát triển của tư duy logic. Đây là sự thể hiện tất yếu của sự tiến hoá. Những sinh vật bậc thấp không có khả năng này. Bởi vậy; khát vọng tiên tri chính là một nhu cầu rất nhân bản và là đặc thù của xã hội loài ngườI mơ ước tới tuơng lai phát triển và tốt đẹp.
Do đó;nếu định mệnh không có thật; vấn đề sẽ không đơn giản chỉ vì nó là mê tín dị đoan; chỉ vì con người không tin vào định mệnh. Và điều này phi lý trước khát vọng tiên tri của con ngườI vốn là một thực tế tồn tại. Nhưng những lời tiên tri với những phương pháp của nó sẽ cho biết điều đó và định mệnh lại tiếp tục an bài!?
Như vậy, phải chăng con người cứ phải loay hoay trong cái vòng luẩn quẩn cho chính khát vọng tiên tri của mình? Còn nếu như con người không còn khát vọng biết trước tương lai, thì ngay cả luận đề này sẽ không thể hiện hữu từ trong ý tưởng của người viết; vì nó vô nghĩa. Chính những lời tiên tri với những phương pháp dự báo có hiệu quả của nó thỏa mãn khát vọng biết trước tương lai của con người và đó là căn nguyên để hình thành ý niệm về "định mệnh". Vì vậy, vấn đề tiếp tục được đặt ra ở đây là:
Những lời tiên tri và những phương pháp của nó bắt đầu từ đâu?
BÓI TOÁN
Từ lâu, cũng đã có ý kiến cho rằng: Trong cuộc sống đầy bất trắc và đau khổ của con người, hoặc vì những ước mơ và khát vọng không thành đạt. Con người đã bất lực, họ đi tìm cứu cánh cuộc đời ở những khả năng siêu nhiên, thần quyền. Đây là nguyên nhân để nẩy sinh những hiện tượng mê tín dị đoan, lợi dụng thần quyền mê hoặc con người. Bói toán được coi là sản phẩm của sự mê tín vào những thế lực siêu nhiên, dựa trên nhữ'ng sự sự bịa đặt không có căn cứ khoa học. Hình ảnh những người hành nghề bói toán quanh quẩn ở đình đền, chùa miếu như củng cố thêm tính hiện thực của giả thuyết này.
Nhưng sự lý giải ấy lại không phải là một minh chứng; nên không đủ sức thuyết phục. Bởi vì, bói toán vốn không phải là một hiện tượng riêng lẻ, mà là một thực tế đã hiện hữu bao trùm cả không gian và thời gian lịch sử nhân loại. Với lập luận này không giải thích được những phương pháp bói toán có hệ thống, qui tắc và chuẩn mực rõ ràng, có phương pháp luận thể hiện tính khách quan trong cách luận đoán. Không những vậy, hiệu quả của những phương pháp bói toán đó có tính thuyết phục đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trong xã hội loài người. Nếu quả thực, bói toán chỉ là sự bịa đặt, lợi dụng mê tín dị đoan thì sẽ chỉ là những hiện tượng riêng lẻ và không có cơ sở để tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại.
Để tìm về một thực tế là nguyên nhân của các phương pháp bói toán Đông phương, một giả thuyết khác được đặt ra từ những hiện tượng và vấn đề sau đây:
* Hầu hết các phương pháp bói toán phổ biến thuộc văn minh Đông phương đều có một cơ sở phương pháp luận là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Sự ứng dụng của các phương pháp này có tính qui luật và tính hệ thống; tính khách quan và khả năng tiên tri. Những yếu tố này cũng là tiêu chuẩn để thẩm định một luận thuyết khoa học.
* Trên tinh thần của tiêu chí khoa học là:
"Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng lý giải hầu hết những vấn đề liên quan đến nó; một cách hợp lý; nhất quán; hoàn chỉnh có tính quy luật; tính khách quan và phải có khả năng tiên tri” (dân gian gọi nôm là "bói toán").
Như vậy, sự bói toán của nền văn minh Đông phương phải chăng có thể chính là khả năng tiên tri của một học thuyết khoa học đã hoàn chỉnh và tồn tại trong văn minh nhân loại. Nhưng nền văn minh này đã bị huỷ diệt, nên hệ thống lý thuyết của nó bị sai lệch và thất truyền.
* Các nhà khoa học đang mơ ước:
"Một siêu lý thuyết có khả năng thống nhất tất cả các định luật vũ trụ. Có thể lý giải từ sự hình thành các thiên thể cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người".
So sánh với tiêu chí khoa học ở trên; phải chăng thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tại trong nền văn minh Đông phương là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh và những ký hiệu Dịch chính là một siêu công thức của học thuyết này (*)
* Chú thích: Phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành tồn tạI trên thực tế. Nhưng về mặt lý thuyết thì các nhà nghiên cứu chưa hề chứng minh được sự thống nhất của học thuyết này.
Căn cứ vào những hiện tượng và vấn đề trên, giả thuyết này cho rằng:
Những phương pháp bói toán đang tồn tại trong văn minh Đông phương là hệ quả của một lý thuyết thống nhất vũ trụ, tổng hợp tất cả các định luật vũ trụ, giải thích từ sự hình thành vũ trụ cho đến hầu hết những vấn đề liên quan đến con người. Khả năng bói toán (Tính tiên tri - một điều kiện cần của một lý thuyết khoa học) chính là kết quả ứng dụng và cũng là sự chứng tỏ tính khoa học của siêu lý thuyết này.
Với giả thuyết này, sự chứng minh sẽ cực kỳ khó khăn. Vì ngay bây giờ nền khoa học hiện đại vẫn còn đang mơ ước đạt tới một siêu lý thuyết vũ trụ quan. Hay nói một cách khác: Sự chứng minh cho giả thuyết này phải vượt qua cái ngưỡng mà chính nền khoa học hiện đại chưa đạt tới. Bạn có thể nhận thấy điều này qua sự mỉm cười của Thượng đế cho những cố gắng của con người tìm về cội nguồn của mình, trong cuốn sách nổi tiếng "Thượng Đế và Khoa học" (*)
HIỆU QUẢ & SỰ SAI LỆCH CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO
Bói toán và dự đoán?
Khi nói đến xem "bói", dễ làm người ta nghĩ ngay đến một thể thức huyền bí, đang cố gắng tìm trong lời phán truyền thiêng liêng những diễn biến của cuộc đời đã được an bài. Sự nhạy cảm của những người có tiếp thu tri thức khoa học, dễ liên hệ đến tính chất mê tín dị đoan và lạc hậu của thể thức này. Ngày nay, một số phương pháp bói toán đã được đặt vấn đề về tính khoa học của nó. Vì “tinh thần khoa học” – theo kiểu thờI buổI khoa học thì không có ma - người ta không gọi là xem bói nữa, mà gọi là môn "dự đoán học". Như "Dự đoán theo tứ trụ", "Chu Dịch và dự đoán học". Thậm chí - môn Phong thủy - cho đến ngày hôm nay vẫn chưa một nhà khoa học nào chứng minh được nguyên lý của nó để gỡ bỏ bức màn huyền bí, nhưng cũng được gọi bằng một từ rất thời thượng là "khoa học Phong thủy". Gọi như vậy cho nó dễ hòa nhập với “tinh thần khoa học”, tránh mặc cảm bị coi là "mê tín dị đoan". Những điều này chỉ chứng tỏ một cách nhìn mới về những hiện tượng đã tồn tại trong xã hội loài người, còn bản chất của hiện tượng chưa hề thay đổi và vẫn còn chìm sâu trong bức màn huyền bí. Nhưng, một cái tựa sách thì phải vậy thôi; chứ không lẽ cứ nôm mà viết tựa là "Bói toán theo tứ trụ" thì nghe cũng lạ tai, không có "tinh thần khoa học". Thực ra xét về mặt ngữ nghĩa thì từ "bói toán" chính xác và bao hàm hơn "dự đoán" nhiều.
Từ "bói" theo nhà nghiên cứu Lê Gia thì có xuất xứ từ nghĩa Hán Việt của chữ "bối", có nghĩa là cái lưng. Tìm phía đằng sau lưng là chỗ không nhìn tháy(**), không biết được. Vậy từ "bói" là từ "bối" mà ra, chỉ việc đi tìm cái chưa biết. Nếu theo cụ Lê Gia thì khó có sự liên hệ giữa chữ "bói" với danh từ chỉ chim "bói cá".
Người viết cho rằng:
"Bói" là từ thuần Việt, có liên hệ với các từ: bớI; bươi; bơi; bái…nghĩa là động tác tìm kiếm những cái bị khuất lấp. "Toán" là phương pháp đi tìm cái bị khuất lấp. "Bói toán" nghĩa là phương pháp đi tìm cái chưa biết vì bị khuất lấp. Tất nhiên nếu phương pháp đúng và làm toán giỏi thì việc đào bới có hiệu quả, tìm thấy cái cần tìm. Phương pháp sai và làm toán dở thì đào bới cũng không thể tìm thấy. Còn "dự đoán" thì không mang tính khẳng định rõ ràng. Tất nhiên nó còn bao hàm cả tính chủ quan và việc nói phong long!
Để biết trước tương lai, con người có rất nhiều phương pháp bói toán, từ cực kỳ huyền bí cho đến các phương pháp có hẳn một phương pháp luận có hệ thống và những qui tắc, chuẩn mực rõ ràng. Những phương pháp bói toán huyền bí thường ít được tin tưởng, trừ sự dự báo rất chính xác được lặp lại nhiều lần trên thực tế. Những trường hợp điển hình của loại bói huyền bí có thể thí dụ như: bà Van Ga ở Bun Ga Ry; hoặc khả năng tìm mộ xuất hiện trong thập niên gần đây ở Việt Nam. Còn lại là những phương pháp dự báo cần có phương tiện dự báo hoặc có qui tắc, chuẩn mực rõ ràng, như: Bói Dịch, Tử Vi, bói bài Tây, bói Kiều, bói chân gà, bói lá trầu, bói bằng quả cầu thủy tinh ..v.v.
Trong phương pháp bói cần phải có phương tiện dự báo, có thể chia làm hai loại: phương pháp dự báo có phương pháp luận và qui tắc, chuẩn mực rõ ràng và không có qui tắc chuẩn mực rõ ràng. Trong mỗi loại lại cần xét đến định lượng của tính chất ngẫu nhiên thuộc từng phương pháp cụ thể. Với sự phân loại này thì phương pháp dự báo có định lượng tính ngẫu nhiên ít nhất, có phương pháp luận rõ ràng, có hệ thống và qui tắc hẳn hoi, phải kể đến môn Thái Ất và Tử Vi đẩu số. Nhưng đây cũng là những phương pháp ít được các nhà nghiên cứu chú ý. Ngược lại, phương pháp bói Dịch (chứ không phải bản thân kinh Dịch) mang nhiều yếu tố ngẫu nhiên - hay nói một cách khác là gần gũi với tính huyền bí hơn - nhưng lại khá phổ biến và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhắc nhở đến tính khoa học của nó trong các trước tác của mình với một tinh thần khoa học nghiêm túc!?
Thời gian gần đây, có rất nhiều cuốn sách có nội dung trình bày các phương pháp dự đoán tương lai của nước ngoài được xuất bản và khá phổ biến; như: “Dự đoán theo tứ trụ”, “Chu Dịch và dự đoán học” của Thiệu Vĩ Hoa; “Bí ẩn của tướng thuật” của Trần Hưng Nhân và đặc biệt hai bộ kỳ thư nổi tiếng của học thuật cổ Đông phương có khả năng dự báo tương lai là Kinh dịch và Mai Hoa dịch số cũng được ấn hành. Đấy là chưa kể hàng trăm đầu sách của những nhà nghiên cứu khắp thế giới. Gần đây nữa là cuốn Thái Ất thần kinh, một kỳ thư ngoại hạng, tương truyền của ngài Trạng Trình đã dùng để đoán những sự kiện xảy ra trước sau 500 năm trong lịch sử , cũng đã được Nxb Văn Hóa Dân Tộc xuất bản. Thậm chí cả Tử Vi đẩu số, một cuốn sách có tham vọng dự đoán cho số phận con người đến từng ngày trong cuộc đời, cũng được giới thiệu phương pháp luận đoán của nó trong cuốn “Kinh Dịch với hệ nhị phân” (Gs Hoàng Tuấn. Nxb VHTT 2002). Chưa kể đến hàng chục đầu sách còn lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác, có tham vọng dự báo cho số phận con người.
Không phải chỉ đến bây giờ, mà hàng thiên niên kỷ đã trôi qua - sự chứng nghiệm của những kỳ thư này đã khiến cho con người phải suy nghĩ về thân phận của mình, về mặt này thì Tử Vi đẩu số - ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành - đã đặt cho con người sự thách đố lớn nhất của định mệnh ngay từ khi mới chào đời. Môn Tử Vi đẩu số cũng là một phương pháp dự báo có quy tắc, chuẩn mực rõ ràng và ít mang yếu tố ngẫu nhiên nhất so với những phương pháp dự báo khác. Bởi vậy, người viết xin được trình bày bắt đầu từ môn này.
Trước khi trình bày hiệu quả của các phương pháp dự đoán ở phần tiếp theo, người viết cũng xin được lưu ý các bạn một vấn đề: Trong tất cả các phương pháp dự đoán, hiệu quả của nó còn tùy thuộc vào khả năng của người dự đoán. Do đó, trong sự phân tích các phương pháp dự đoán dưới đây, đều loại trừ tác nhân người dự đoán trong hiệu quả của nó; mà chỉ bàn đến hiệu quả về mặt lý thuyết của nó.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vị
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
----------------
* Chú thích: Sách đã dẫn
Xin đính chính: Bài trên viết là: Giáo sư Đặng Mộng Lận Xin sửa lại là: Giáo sư Nguyễn Mộng Lận
** Chú thích: "Dịch học giản yếu". Lê Gia. Nxb VHTT 2000. Trang 621
KhongTu
02-25-2007, 04:17 PM
PHƯƠNG PHÁP BÓI TOÁN CÓ HỆ THỐNG
Tử Vi đẩu số - Hiệu quả và định mệnh?
Tử Vi đẩu số là môn dự đoán tương lai trong giới hạn số phận của từng con người cụ thể và những vấn đề liên quan đến nó. Phương pháp coi Tử Vi rất phức tạp, đòi hỏi người coi phải có tri thức nhất định để luận đoán. Để lập một lá số Tử Vi, dữ kiện phải có là ngày, giờ, tháng, năm sinh âm lịch. Trên cơ sở đó hơn 150 đại lượng gọi theo tên những vì sao được phân loại (theo bản văn chữ Hán, còn Tử Vi lưu truyền ở Việt Nam chỉ có khoảng 110 vì sao): chính tinh, trung tinh và phụ tinh. Các vì sao này, được phân bổ theo những qui tắc định trước cho mười hai cung qui ước của lá số, lần lượt có tên gọi như sau:
1. Bản mệnh - 2. Anh em (Huynh đệ) - 3. Vợ hoặc chồng (Phu Thê) - 4. Con cái (Tử Tức) - 5. Tiền Tài (Tài Bạch) - 6. Bệnh Tật (Giải Ách) - 7. Di chuyển (Thiên Di) - 8. Quan hệ xã hội (Nô Bộc) - 9. Nghề nghiệp chức vụ (Quan Lộc) - 10. Đất đai nhà cửa (Điền Trạch) - 11. Phúc Đức - 12. Cha mẹ (Phụ Mẫu).
Như vậy, với mười hai cung của Tử Vi bao gồm hầu hết những mặt chủ yếu của sự hoạt động và những mối quan hệ gia đình, xã hội của con người.
Để luận đoán một lá số Tử Vi, đòi hỏi phải có sự phân tích và nghiên cứu công phu dựa trên sự tương tác giữa các đại lượng thể hiện qua tên các vì sao và tương quan giữa các cung trong lá số của Tử Vi. Người luận đoán cũng cần phải có kiến thức để xử lý các đại lượng phản ánh sinh hoạt thời cổ phù hợp với sinh hoạt hiện đại. Thí dụ: Sao Thiên Mã ứng về vật dụng, trước đây có thể đoán là con ngựa, bây giờ phải luận là xe gắn máy, hoặc xe hơi…
Trong 12 cung của Tử Vi thì cung Mệnh có tính quyết định cho số phận con người. Những đại lượng được phân bố trong cung Mệnh sẽ phản ánh từ nhân cách, cá tính, chỉ số thông minh, khả năng nhận thức, thói quen, kể cả hình dáng bên ngoài. Sự tương tác giữa các đại lượng trong cung Mệnh và các cung khác trong sự vận động theo thời gian cuộc đời, sẽ phản ánh diễn biến của số phận. Tham vọng dự đoán của lá số Tử Vi cho một con người rất lớn. Thậm chí, qua 12 cung của lá số, người ta muốn đoán cả từng giai đoạn của cuộc đời, từng năm, từng tháng, từng ngày và có thể cả từng giờ. Hiệu quả của sự dự đoán - nếu người dự đoán giỏi - đôi khi rất đáng kinh ngạc. Hiện nay, trên cơ sở những nguyên tắc lập thành lá số Tử Vi, người ta đã lập trình đưa vào máy tính với những lời dự đoán đơn giản cho số phận con người.
Qua phương pháp dự đoán của Tử Vi, cũng như các môn bói toán khác thì định mệnh là một thế lực siêu nhiên đang thật sự hiện hữu, hay chỉ là một danh từ hoài nghi về sức mạnh của những qui luật đang chi phối con người?
Phải chăng cổ nhân đã dày công nghiên cứu, chỉ để cho hậu thế một cảm nhận hoài nghi về sự bất lực của con người cho số phận của mình?
Phải chăng con người và máy tính sẽ không có gì khác nhau, khi định mệnh đã lập trình cho từng số phận?
Sẽ là một kết luận vội vã, nếu cho rằng: Tử Vi là một học thuật huyền bí, mang tính dị đoan, chỉ vì cho đến tận ngày hôm nay - khi bạn đang đọc dòng chữ này - nền khoa học hiện đại vẫn chưa hề đặt được một giả thuyết đúng về nó (Chưa nói đến sự khám phá).
Cũng khó có thể giải thích một cách đơn giản cho rằng: Sự tồn tại của Tử Vi là do sự áp đặt của các thế lực phong kiến. Bởi vì,khi tâm lý con người luôn muốn tìm hiểu về tương lai; nếu Tử Vi không chứng tỏ được khả năng đáp ứng nhu cầu đó của con người.
Cũng khó có thể cho rằng Tử Vi là hệ quả của chiêm tinh học cổ đại, các đại lượng trong Tử Vi là những ngôi sao định mệnh mang tính huyền bí, rồi nhân danh khoa học kết luận tính mê tín dị đoan cho nó. Bởi vì, một tinh thần khoa học thực sự phải được thể hiện qua những tiêu chí khoa học cụ thể; chứ không thể được coi là có tinh thần khoa học chỉ vì không tin ma quỉ.
Nếu ta so sánh những đặc trưng của một lý thuyết khoa học là:
Tính khách quan; tính quy luật và tính hệ thống thì phương pháp luận đoán của Tử Vi có đầy đủ những tính chất đó. Tử Vi có hẳn một phương pháp luận và những qui tắc chặt chẽ cho nó. Trong môn Tử Vi không hề có dấu ấn của thần quyền. Nếu một lý thuyết khoa học còn cần tính tiên tri thì chính hiệu quả dự đoán của môn Tử Vi - bảo đảm cho sự tồn tại tính bằng thiên niên kỷ với một không gian phổ cập, rộng khắp ở những nước có ảnh hưởng của văn minh cổ Đông phương - chứng tỏ điều này.
Bởi vậy, hoàn toàn có cơ sở khoa học khi đặt một giả thuyết cho rằng:
Môn Tử Vi chính là một siêu công thúc đã được ký hiệu hoá; phản ánh một hiệu ứng vũ trụ tương tác có tính qui luật tới môi trường trái Đất và ảnh hưởng tới từng con người.
Nhưng sự chứng minh cho giả thuyết này là một việc cũng không đơn giản. Bởi vì, phương pháp luận của Tử Vi dựa trên thuyết Âm dương Ngũ hành, một học thuyết cho đến nay vẫn còn quá nhiều bí ẩn do thất truyền. Nhưng bắt đầu từ giả thuyết này mới có thể đi tìm tính hiệu quả của môn Tử Vi qua phương pháp dự báo của nó; dẫn tới sự lý giải luận đề được đặt ra (vì nếu coi Tử Vi là mê tín dị đoan thì không còn gì để bàn). Chúng ta bắt đầu đặt vến đề với tựa sau đây.
Những khiếm khuyết của phương pháp luận đoán theo Tử Vi
Cũng đã có nhiều ý kiến hoài nghi tính hiệu quả của khoa Tử Vi với những lập luận có vẻ chắc chắn, góp phần hỗ trợ cho sự phản bác khoa Tử Vi về sự hoàn chỉnh của nó, trong việc dự đoán tương lai cho mỗi con người. Đã có những lập luận hoài nghi và phản bác dựa trên những cơ sở như sau:
@ Bài toán trên cơ sở dữ kiện lập thành lá số:
Do một ngày được chia làm 12 giờ theo thời khắc cổ, chu kỳ năm Âm lịch theo phương pháp lập lá số Tử Vi là 60 năm (Từ Giáp Tý đến Quí Hợi). Do đó, trong vòng 60 năm đó sẽ có: 12 giờ x 30 ngày x 12 tháng x 60 năm x 2 (Nam & Nữ) = 518. 400 lá số Tử Vi. Nếu lấy tổng số dân trên thế giới ước tính 6000. 000. 000 người: 500. 000 (làm tròn số); Như vậy, sẽ có khoảng xấp xỉ 12.000 người chung một lá số Tử Vi. Một sự vô lý với thực tế : Không lẽ trên thế giới có đến 12.000 ông vua; 12.000 nhà tỷ phú ..vv.?
Nhưng vấn đề nêu trên chỉ là kết quả trung bình toán học thuần túy. Trên thực tế, không thể trong cùng một giờ, có đúng 12.000 người cùng sinh ra trên trái đất để cùng làm vua, hoặc cùng làm thợ giày. Theo quan niệm của khoa Tử Vi thì việc sinh ra một con người với một tính cách nào đó (làm vua, hoặc thợ giày) là kết quả của nhiều yếu tố rất phức tạp. Nhưng đã sinh vào thời điểm đó, thì phải có số phận đó. Những yếu tố để thai nhi phải sinh vào thời điểm này và có số phận đã an bài vào thời điểm đó, không nằm trong phạm vi lý giải của khoa Tử Vi.
@ Có những trường hợp cả một thành phố bị hủy diệt do thiên tai, hoặc chiến tranh. Trong thành phố đông đúc đó, có hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu con người sinh ra vào thời điểm khác nhau, tất nhiên họ phải có số phận khác nhau. Nhưng tại sao họ lại có thể có một kết thúc giống nhau: cùng chết trong một thời điểm. Như trường hợp thành phố Pompei bị huỷ diệt vào khoảng thập kỷ 40 sau CN chẳng hạn.
Trong trường hợp này, có thể giải thích một cách khiên cưỡng theo dữ kiện của môn Tử Vi là: thời điểm sinh của những người dân thành phố tuy khác nhau, nhưng vẫn có thể dẫn đến một kết thúc giống nhau trong lá số. Lập luận này không kiểm chứng được, vì chẳng ai xem được những lá Tử Vi của những người dân trong thành phố xấu số đó. Có thể nói: đây một yếu tố hoài nghi rất hợp lý tính chính xác của phương pháp luận đoán theo Tử Vi, nhưng không có nghĩa là một chứng cứ hợp lý để phủ nhận. Điều này cũng có thể giải thích bằng tính khác nhau của những phần tử trong một tập hợp; số phận của một tập hợp sẽ quyết định chung của các phần tử trong tập hợp đó, cho dù tính chất của các phần tử trong tập hợp có khác nhau. Tuy nhiên, cách giải thích này không nằm trong phạm vi quán xét của Tử Vi (Chỉ giới hạn trong việc xem xét số phận cho một cá thể, bắt đầu từ lúc ra đời).
@ Do chu kỳ năm của Tử Vi là 60 năm (một Hoa giáp). Như vậy, một người sinh cùng ngày, cùng giờ, cùng tháng, cùng năm của Hoa giáp trước và Hoa giáp sau - về lý thuyết của môn Tử Vi - sẽ phải giống nhau về số phận. Nhưng thực tế đã chứng tỏ sự kiện không đơn giản như vậy. Trong truyền thuyết đã có sự giải thích là cùng giờ sinh, nhưng do nhiều yếu tố tương tác khác, nên người thì làm vua, người thì làm chủ những bày ong. Nhưng vấn đề là cùng một lá số giống nhau, làm sao có thể đoán được ai làm vua, ai là chủ doanh nghiệp nuôi ong?
Có thể khẳng định rằng: Đây là sự khiếm khuyết về mặt lý thuyết của môn Tử Vi; hoặc là do thất truyền, hoặc là sự chưa hoàn chỉnh. Trên thực tế, môn Tử Vi là hệ quả của một học thuyết đã thất truyền, cho nên ngay cả những dữ kiện để lập thành lá số - cơ sở luận đoán của Tử Vi - cũng gây nhiều tranh cãi.
Về vấn đề này, trong sách "Chu Dịch và dự đoán học" (Nxb Văn Hóa 1995, trang 139) ông Thiệu Vĩ Hoa đã lập luận như sau (Trích dẫn):
Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, nhưng không có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ xin vắn tắt như sau:
1) Phương vị khác nhau, như phương Nam là Hỏa, phương Đông là Mộc, phương Bắc là Thủy, phương Tây là Kim. Người mệnh Hỏa nhưng sinh ở phương Nam hay phương Bắc sẽ khác nhau. Phương Nam là đất Hỏa vượng, phương Bắc bị Thủy khắc cho nên không như người sinh ở phương Nam.
2) Năm mệnh của phụ mẫu, anh chị em, con cái và số con, năm hôn nhân đều khác nhau.
Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau; do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau.(*)
* Chú thích: Điểm 2 => người viết tóm lược
3) Nam,nữ khác nhau nên có sự vận hành thuận nghịch khác nhau.
4) Tướng mặt vân tay khác nhau, nên việc nó làm chủ cũng khác nhau.
5) Cốt tướng của người khác nhau.
6) Mộ tổ và nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau.
7) Gen di truyền của mỗi người khác nhau.
8) Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
9) Điểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào một người nào đó, hoặc đúng vào người mang thai đang sinh, người đó có thể làm Hoàng đế, còn người khác thì không làm nổi Hoàng đế. Nếu có một tạp chí nào đó đã thông báo: bố mẹ Mao Trạch Đông đều đồng thời nhìn một vầng đỏ phía Đông phòng họ, rồi sau đó mang thai Mao Trạch Đông. Đương nhiên vầng đỏ này không phải là tất cả các bậc bố mẹ của những người cùng giờ sinh đều thấy được.
Mặc dù ông Thiệu Vĩ Hoa đã cố gắng giải thích về những yếu tố khác nhau cho số phận những người cùng ngày, giờ, tháng, năm sinh. Nhưng những sự giải thích này đều không đủ sức thuyết phục cho sự chứng minh tính hoàn thiện của Tử Vi. Vì môn Tử Vi (hoặc những môn bói toán khác bắt đầu bằng dữ kiện ngày, gìờ, tháng, năm) không đề cập đến những hiện tượng khác biệt nêu trên. Do đó, chỉ có thể coi đây là một sự khiếm khuyết về mặt phương pháp của môn Tử Vi; hoặc do sự thất truyền của môn này.
@ Tính thời điểm giờ sinh của một người trong khoa Tử Vi?
Giờ sinh đích thực theo cổ học Đông phương là thời điểm tương quan vị trí Địa cầu với mặt Trời. Ngày xưa, người ta dùng các dụng cụ đo bóng mặt trời để tính giờ sinh khi chưa có đồng hồ Tây. Một giờ trong lịch cổ ứng dụng trong Tử Vi bằng hai tiếng theo giờ hiện đại. Ngày nay, khi lấy số Tử Vi người ta căn cứ theo giờ qui ước. Bởi vậy, vấn đề giờ sinh khi lấy một lá số Tử Vi cũng gây nhiều tranh cãi. Có người cho rằng: Tất cả đều phải qui về giờ địa phương của người đoán lá số (?). Thậm chí, vì coi Tử Vi xuất phát từ Trung Hoa, cho nên có người còn đặt vấn đề lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn (?Sic!).
Chính từ những ý kiến sai lầm trên khiến môn Tử Vi được góp thêm phần huyền bí. Điều này chứng tỏ sự thất truyền một hệ luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan đến môn này, nên không có sự kế thừa những phương pháp của nó. Do đó, trên cơ sở một giả thuyết cho rằng: Tử Vi là một môn dự báo, dựa trên những hiệu ứng vũ trụ ảnh hưởng đến trái đất đã được ký hiệu và qui ước hoá vào thời điểm con người sinh ra và ảnh hưởng đến số phận người đó - thì phải lấy giờ sinh theo vị trí địa lý của người đó. Điều này phù hợp với phương pháp tính giờ theo mặt trời thời cổ: Sinh tại đâu, tính giờ tại đó.
Tuy nhiên, về giờ sinh - giả thiết đã loại trừ yếu tố không gian sinh - trong Tử Vi còn có yếu tố có khả năng làm sai lệch được trình bày sau đây. Do một giờ trong Tử Vi bằng 2 tiếng trong giờ hiện đại. Nhưng giờ hiện đại của một quốc gia lại theo vị trí múi giờ mà thủ đô nước đó tọa lạc. Như vậy, giữa giờ sinh quy ước - theo giờ quốc gia - và thời điểm hiệu ứng giờ sinh của Tử Vi sẽ có một khoảng cách đôi khi rất lớn. Điều này được miêu tả như sau: Chu vi trái đất khoảng 40. 000 Km; chia cho 12 múi giờ Tử Vi, ta sẽ có khoảng 3. 400 Km cho một múi giờ Tử Vi ở xích đạo. Như vậy, khả năng cùng vị trí không gian của múi giờ, nhưng có thể lấy đến hai lá số khác nhau vì thuộc giờ qui ước khác nhau, được định vị bởi thủ đô của các quốc gia khác nhau. Một thí dụ cho trường hợp này là: Hai bà mẹ ở sát biên giới, nhưng thuộc hai quốc gia có múi giờ qui ước khác nhau; họ cùng sinh vào một thời điểm. Như vậy, về lý thuyết của môn Tử Vi, hai đứa trẻ này phải có số phận giống nhau. Nhưng chúng lại có thể có hai lá số khác nhau, vì giờ sinh khác nhau? Hoặc vì khoảng chênh lệch về không gian múi giờ quá lớn; cho nên có thể xảy ra trường hợp hai số phận, nhưng vẫn chung một lá số Tử Vi. Mặc dù những trường hợp trên có thể khắc phục bằng cách lấy hai hoặc ba lá số cạnh giờ nhau và tìm một lá đúng nhất. Nhưng thực tế người dự đoán thường chỉ lấy một lá số. Do đó, khả năng sai lệch có thể xảy ra. Hoặc một vấn đề nữa được đặt ra: Nếu một người sinh ở Bắc hoặc Nam cực thì giờ sinh hoặc lá số sẽ như thế nào khi khoảng cách giữa các múi giờ rất ngắn, gần như bằng 0? Đây là một trường hợp ngoại lệ của môn Tử Vi chăng? Nếu xét theo lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành , thì ở Bắc và Nam cực ngày và đêm không bình thường so với các nơi khác (Âm Dương không tương giao). Có thể vì vậy có sự khác biệt khi luận đoán cho những số phận ở các vùng địa lý khác nhau theo vĩ tuyến. Nhưng môn Tử Vi lại không đề cập đến vấn đề này.
@ Hơn nữa, vì Tử Vi thiếu hẳn một hệ luận hoàn chỉnh liên hệ với thuyết Âm Dương Ngũ hành – là cơ sở phương pháp luận của nó – nên những yếu tố luận đoán của Tử Vi cứ như từ trên trời rơi xuống, mang tính tiên đề. Điều này đã khiến cho một số hiện tượng tồn nghi trong môn Tử Vi, như: Bản chất các vì sao, cách an sao và tính chất một số sao vẫn còn gây tranh cãi và chưa lý giải được. Đây cũng là số phận của hầu hết những phương pháp ứng dụng có phương pháp luận là thuyết Âm Dương Ngũ hành và cũng là nguyên nhân chính để gây sự hoài nghi về tính khoa học của môn này.
Như vậy, qua phần trình bày ở trên cho thấy: Phương pháp bói Tử Vi vẫn có những yếu điểm chưa thể coi là chưa hoàn chỉnh và chính xác (chưa nói đến những sai lệch khác về hành khí theo Ngũ hành của bản mệnh trong Hoa giáp và tương quan hành với độ số cục của Tử Vi). Đây là sai lệch rất căn để của các môn dự đoán Đông phương cổ (Lưu ý: Luận điểm này thể hiện và chứng minh trong sách "Thời Hùng Vương & Bí ẩn lục thập hoa giáp". Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nxb VHTT. Hoặc quí vị có thể tham khảo thêm trong tựa: "Hà Đồ trong văn minh Lạc Viêt". Mục "Các môn học khác" Chân Thuyện.org).
Nhưng cho dù Tử Vi là một môn dự đoán chưa hoàn chỉnh, hoặc do thất truyền sai lạc, hoặc do ngay từ những tri thức lập thành môn này, thì cũng không có cơ sở để cho rằng: Đây là một hiện tượng mê tín dị đoan. Bởi vì, Tử Vi có đầy đủ những yếu tố gần gũi với tri thức khoa học hiện đại. Như vậy, với tất cả những nhận xét phản bác trình bày ở trên, chỉ thể hiện tính khiếm khuyết của môn Tử Vi, chứ chưa thể coi là đã chứng minh được tính phi khoa học của môn này. Do đó, nếu với một tinh thần thận trọng và hợp lý nhất, chỉ có thể coi những phương pháp dự báo của môn Tử Vi là chưa chứng minh được trên cơ sở tri thức khoa học hiện đại; khi hiệu quả ứng dụng của nó đã tồn tại hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn hóa Đông phương chính là sự biện minh cho cơ sở khoa học của nó.
Chính hiệu quả của môn Tử Vi cũng biện minh cho sự thất truyền của một hệ luận từ thuyết Âm Dương Ngũ hành liên quan. Chưa nói đến những sự sai lệch có tính căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán.
Thực tế đã cho thấy không thể có một phương pháp ứng dụng một giá trị nhận thức ra đờI trước phương pháp luận của nó. Do đó; sự thất truyền của một hệ luận liên hệ với phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là một yếu tố quan trọng chứng tỏ:
Tử Vi đã lưu truyền từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông Phương, thực tế cho thấy nó chỉ lưu truyền phần ứng dụng. Đến đời Tống, phần ứng dụng - đã sai lạc phần nào trong khi lưu truyền - được phát hiện và công bố, khiến cho những yếu tố lập thành lá số có tính chất tiên đề cứ như từ trên trời rơi xuống. Tương tự như những chiếc máy vi tính trong thời hiện đại, khi đã phổ biến chỉ là phần ứng dụng. Nếu giả thuyết rằng có một sự cố nào đó hủy diệt tất cả những hệ luận của tri thức liên quan đến việc chế tạo máy vi tính, thì lúc đó con người ở thế hệ sau - không phải là sự tiếp tục kế thừa của nền văn minh đó - sẽ nhìn sự hiện hữu của chiếc máy vi tính như một sự huyền bí. Hiện tượng này tương tự như khi con người chỉ biết đi xe ngựa, chưa biết đến chiếc ôtô và những nguyên lý, phương pháp tạo ra nó, họ sẽ không thể tin được có một loại xe không ngựa kéo vẫn chạy được. Nhưng chiếc xe, chiếc máy vi tính là những vật thể hiện hữu sẽ ít mang tính huyền bí. Còn bói toán thuộc về những giá trị phi vật thể, cho nên khi thất truyền những hệ luận liên hệ, tính huyền bí sẽ phát triển tùy theo khả năng tưởng tượng của con người.
Đây cũng là một bằng chứng nữa, chứng tỏ: những hiện tượng liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành thể hiện trong cổ thư chữ Hán không có tính kế thừa - là một yếu tố cần để chứng tỏ một nền văn minh phát triển liên tục - mà chỉ là sự tiếp thu không hoàn chỉnh từ một nền văn minh khác đã thất truyền.
Do đó, từ những hiện tượng và những vấn đề đã phân tích ở trên, xuất phát từ tính quy luật trong phương pháp dự báo, cũng như khả năng dự báo của Tử Vi là cơ sở của một giả thiết cho rằng: Tử Vi là một phương pháp luận đoán tương lai cho mỗi một con người, trên cơ sở sự nhận thức của con người với những hiệu ứng vũ trụ, tương tác có tính quy luật với môi trường trái đất và ảnh hưởng lên sự phát triển tâm, sinh lý con người tại thời điểm người đó ra đời. Từ những nhận thức này, người xưa đã lập ra môn Tử Vi có thể dự báo được tiến trình vận động của cuộc sống cho mỗi con người. Hay nói một cách khác: Tử Vi là môn dự báo có cơ sở khoa học, nhưng những hệ luận liên quan đã thất truyền. Giả thuyết này sẽ được tiếp tục chứng minh rõ hơn ở phần sau.
Nhưng ngay cả trong trường hợp coi Tử Vi là một phương pháp tiên tri có cơ sở khoa học, thì điều đó cũng không có nghĩa là sự luận đoán của Tử Vi có tính chính xác tuyệt đối, vì những sai lệch có thể có đã trình bày ở trên (Ngay cả khi đã loại trừ khả năng hay, dở của người luận đoán). Chỉ nên coi Tử Vi như một sự tham khảo về tính tất yếu có khả năng xảy ra và từ đó ứng sử phù hợp với qui luật của tự nhiên. Tiếc thay; sự khắc phục số mệnh là điều không dễ dàng. Vì nếu khắc phục được nó dễ dàng thì câu trả lời cho luận đề này - "Định mệnh có thật hay không?" - đã kết thúc ở đây…..
Thiên Sứ
Còn tiếp:
Tử Vi và Thiên văn học hiện đạI
KhongTu
02-25-2007, 04:18 PM
TỪ VI VÀ THIÊN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
Tôi đã hân hạnh trình bày về sự sai lệch có tính căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán. Đồng thời chứng minh cho sự hiệu chỉnh vị trí Tôn Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ (Xin xem bài viết: “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt”. Mục: "Các môn học khác".Chân Thuyên. org) Trên cơ sở này chúng ta sẽ nhận thấy một cách dễ dàng sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ thể hiện trong những nguyên tắc và qui luật an sao Tử Vi. Xin xem hình dưới đây:
TUƠNG QUAN ĐỊA CẦU VÀ HÀ ĐỒ & 12 CUNG TỬ VI
Hình trên đây; tôi đã hân hạnh trình bày một lần trong đề tài: "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt". Đây là đồ hình thể hiện sự liên quan giữa Trái Đất với ”Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ”. Từ đồ hình này; chúng ta sẽ thấy những yếu tố nhằm chứng minh cho một giả thuyết cho rằng:
“Tử Vi chính là sự ứng dụng những tri thức về những hiệu ứng vũ trụ tương tác vớI Địa Cầu”.
Những yếu tố này là:
1) - Hai cung Thìn Tuất là nơi xuất phát của hầu hết các sao trong Tử Vi chính là sự biểu kiến qui ước của Mặt phẳng Hoàng Đạo Trái Đất. Và chúng ta cũng biết rằng mặt phẳng Hoàng Đạo chính là mặt phẳng quĩ đạo biểu kiến của các vì sao gần Trái Đất.
2) - Sao Tử Vi luôn bắt đầu (có tính qui ước) cho các số Cục từ cung Dần. Cung Dần là Dương Mộc tương ứng với cung Cấn của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ (Theo đồ hình trên). Trong bài viết: "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt", tôi đã chứng minh: Cung Cấn chính là Trái đất trong vị trí cửu tinh của Thái Dương hệ.
(Phần này có hiệu chình)
3) Khoa Thiên văn học hiện đại đã chứng minh rằng:
Quĩ đạo các vì sao quan sát từ trái đất có một hiệu ứng chuyển dịch ngược; sau đó lại vận động trở lại theo chiều chuyển động của nó => Hiệu ứng này tạo ra do trái Đất quay quanh mặt trời. Người ta gọi đó là:
Hiệu ứng chuyển động đảo biểu kiến quỹ đạo chuyển động của các vì sao quan sát từ trái Đất.
Đây cũng chính là nguyên tắc tính đại & tiểu hạn trong Tử Vi và phương pháp an sao của phần lớn các sao trong Tử Vi (Chuyển theo “Tháng” và ngược lại theo “Giờ”). Xin quí vị quan tâm xem hình minh hoạ so sánh sau:
PHƯƠNG PHÁP LƯU ĐẠI HẠN VÀ AN SAO TRONG TỬ VI
So sánh với quỹ đạo chuyển động đảo biểu kiến của các sao quan sát từ trái Đất
Từ hiệu ứng này và trên cơ sở giả thuyết đã nêu; chúng ta sẽ kiểm định lại hai phương pháp tính Nguyệt hạn của Tử Vi là:
a) Năm tiểu hạn đâu; tháng Giêng xuất phát từ đó và thuận theo chiều kim đồng hồ.
b) Từ năm tiểu hạn tính ngược đến tháng sinh và thuận đến giờ sinh.
Các Tử Vi gia thường đưa ra cả hai phương pháp rồi khuyến cáo người xem ứng dụng cả hai và chứng nghiệm. Nhưng về mặt lý thuyết thì phương pháp 2 phù hợp vớI hiệu ứng trong sự chuyển đông của các vì sao quan sát từ trái Đất đã nêu ở trên.
Tất cả những yếu tố trên là là cơ sở để chứng minh cho một hiệu ứng vũ trụ tương tác vớI trái Đất được ký hiệu và qui ước hoá trong Tử Vi gây ảnh hưởng đến con người. Cơ sở này chỉ được chứng minh và hoàn thiện khi nguyên lý căn để của nó được công nhận là:
Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ
Từ cơ sở này; như vậy chúng ta sẽ có một hệ quả liên hệ với nó là:
* Trần Đoàn lão tổ không thể là tác giả của Tử Vi đẩu số. Ông ta chỉ có công phổ biến Tử Vi trong văn hoá Hán bằng chữ Hán (là văn tự chính thống và phổ biến trong đế quốc Hán vào thời dân Việt mất nước cả ngàn năm). BởI vì; ông ta – vào thờI Trung cổ - không thể có những tri kiến thiên văn của nền khoa học hiện đạI và của những tri kiến mà chính nền khoa học hiện đạI cũng chưa đạt tới. Hơn nữa; ông ta không thể làm ra một giải pháp đúng từ một đồ hình có trên lưng Rùa Thần hiện ra trên sông Lạc (Sic!).
* Sự vận động của vũ trụ từng giây; từng phút. Nói theo ngôn từ của Đức Thích Ca là từng sát na => trong khi lá số Tử Vi là những ký hiệu qui ước; nên với một lá số cũng chỉ có giá trị tương đốI về mặt lý thuyết. Bởi vì; chúng phải có sai lệch trong một khung nhất định. Điều này; cũng giải thích vì sao cùng dữ kiện:ngày; giờ; tháng năm sinh vẫn có thể có những sai lệch cho từng số phận. Nhưng trong điều kiện chuẩn - về lý thuyết – thì tính chính xác đến chi tiết khi luận đoán của Tử Vi; đủ cho thấy trí tuệ siêu việt của người xưa vượt qua khả năng nhận thức của khoa học hiện đại.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
THÁI ẤT THẦN KINH & KHẢ NĂNG DỰ BÁO
KhongTu
02-25-2007, 04:18 PM
Cung Dần là Dương Mộc tương ứng với cung Cấn.
Trong khi đó, ở môt luận đề khác tôi đã chứng minh:
Cung Cấn là Âm Mộc tương đương với Địa cầu trong cửu tinh của hệ mặt Trời.
Điều này có thể gây thắc mắc cho một số quí vi. Về việc này tôi xin giải thích rằng:
Quy luật Âm Dương của 12 địa chi theo một qui luật khác. Nên không có sự trùng hợp về Âm Dương của 8 cung trên Hà Đồ.
Qui luật của Hà Đồ là:
Phần Âm trên Hà Đồ (Phía trên Địa cầu là Dương. Lý trên Hà Đồ là Âm):
Càn = Âm đến Khảm = Dương đến Cấn = Âm đến Chấn = Dượng.
Nhưng trong liên hệ với 12 Địa chi bắt đầu từ Hợi tương đương với Càn thì:
Hợi = Càn Âm đến Tý = Khảm Dương. Nhưng đến Sửu = Âm thì Cung Cấn ko thể tương đương do Thuỷ mộ ở Sửu trong tương quan địa chi (Hợi = Thuỷ sinh; Tý = Thuỷ Vượng; Sửu = Thuỷ Mộ. Tương quan Tam hợp lại theo một qui luật khác).
Hay nói cách khác: Qui luật Âm Dương của Địa chi không phải quy luật đó trên Hà Đồ và Hậu Thiên Lạc Viêt. Trong sự lý giải này tôi dựa trên sự tương quan của cung phối hơp.
Đó là lý do cung Dần là Dương Mộc trong Địa chi vẫn là cung Cấn trong liên hệ Hậu Thiên Lạc Việt với Hà Đồ. Sự lý giải này đuọc lựa chọn vì tính nhất quán với các mệnh đề khác.
Cảm ơn sự quan tâm của quí vi.
Thiên Sứ
KhongTu
02-25-2007, 04:30 PM
THÁI ẤT THẦN KINH & KHẢ NĂNG DỰ BÁO
Chúng ta giả thiết rằng: Nếu một người sinh ra trong điều kiện chuẩn - về lý thuyết - cùa lá số Tử Vi thì lúc đó mọi quy ước đều đúng với thực tế. Điều này sẽ có thể dự báo chính xác đến từng chi tiết cho số phận một con người. Đó là nguyên nhân góp phần tạo nên môt khái niệm về định mệnh; thì Thái Ất cũng là một môn dự báo có tính hệ thống; qui tắc và chuẩn mực có tham vọng dự báo tất cả các hiện tượng xã hộI và tự nhiên trên trái Đất liên quan tới con ngượì. Bởi vậy, có thể nói răng chính môn Thái Ất đã tạo ra một ý niệm khắc nghiệt hơn về định mệnh ở tầm cỡ xã hội.
Trong các trước tác thuộc về cổ học Đông phương, mà hầu hết đều được gán cho các tác giả thuộc văn minh Hoa Hạ thì riêng có Thái Ất thần kinh là cuốn kỳ thư duy nhất ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành, không có tác giả thuộc nền văn minh Hoa Hạ. Người viết cho rằng:
Sẽ không thể có một lập luận hoàn chỉnh và là sự sai lầm, nếu vẫn cho rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc văn minh Hoa Hạ, nhưng cuốn Thái Ất lại thuộc về văn minh Lạc Việt.
Bởi vậy, hai nhà nghiên cứu Thái Quang Việt và Nguyễn Đoàn Tuân tuy có ý tưởng đúng khi cho rằng: Thái Ất thần kinh là trước tác của người Việt(*), nhưng lập luận lại không vững chắc khi mắc sai lầm trên.
-------------
* Chú thích: "Thái Ất thần kinh" Dịch giả Thái Quang Việt, Nguyễn Đoàn Tuân. Nxb VHDT 2001 - Tái bản 2002. Trang 9.
Thái Ất thần kinh là một cuốn sách ứng dụng thuần túy, mang tính dự báo tương lai. Tham vọng dự báo của Thái Ất bao trùm từ sự vận động của vũ trụ mà hiệu ứng của nó ảnh hưởng tới môi trường trái đất, cho đến mọi vấn đề xã hội và con người. Trong Thái Ất ứng dụng phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành và ký hiệu của Kinh Dịch. So vớI Tử Vi; phương pháp dự đoán của Thái Ất thể hiện khá rõ nét các hiệu ứng vũ trụ tương tác lên trái đất có qui tắc, chuẩn mực rõ ràng và cũng không hề có nội dung thần quyền. Một ví dụ cho vấn đề này là cách tính mốc chuẩn của Thái Ất.
Theo Thái Ất, mốc chuẩn thời gian được tính theo Thượng cổ Giáp Tý 10.153.917 trước CN. Cũng theo Thái Ất, căn cứ để tính mốc chuẩn này vì:
"Năm gọi là gốc thời gian vì có hiện tượng 7 sao tụ hội. Tức là tất cả Nhật Nguyệt hợp bích và 5 tinh liên châu đều họp ở cung Tý; cho nên: năm, tháng, ngày, giờ, thiên chính, đông chính đều lấy cung Tý làm mốc đầu hết, gọi là Thượng cổ Giáp Tý"(*).
---------
*Chú thích: Thái Ất thần kinh. Nxb VHDT 1/2001. tr:300.
Như vậy, ngay từ mốc chuẩn đầu tiên đã cho thấy phương pháp tính toán của Thái Ất có cơ sở là những hiệu ứng và sự tương tác từ vũ trụ. Hiệu quả của phương pháp tính Thái Ất quả là đáng kinh ngạc, khi cho đến nay tính tiên tri - là yêu cầu của một lý thuyết khoa học - vẫn tỏ ra có hiệu quả (Đã trích dẫn: lời dự báo thiên tai cho năm 2002). Nhờ có duyên hội ngộ với học giả Nguyễn Đoàn Tuân; cụ đã cho xem một bản văn trong đó cụ đã tính trước và biết được sự thất bại của tàu con thoi Chelinge 13 bị cháy sau khi rời bệ phóng.
Từ lâu, trong các truyền thuyết dân gian đã cho rằng: Chính ngài Trạng Trình đã sử dụng Thái Ất để dự đoán 500 năm về trước và 500 năm về sau. Hiệu quả của dự báo Thái Ất đã được truyền tụng trong dân gian và cho đến ngày nay. Mặc dù những khái niệm trong Thái Ất vẫn thách đố tri thức khoa học hiện đại; nhưng chính những công thức tính toán và chuẩn mực, qui tắc của Thái Ất với khả năng tiên tri của nó, là minh chứng cho tính khoa học và khả năng đã tồn tại của một siêu lý thuyết thống nhất vũ trụ. Đồng thời cũng chứng tỏ khả năng nhận thức của con ngườI trước những yếu tố tế vi tác động và chi phốI lên chính con người. Bởi vì, người ta chỉ có thể lập trình; qui ước và hệ thống hoá để tính toán được những trạng thái vận động có tính quy luật; chứ không thể nào tính toán trước những trạng thái huyền bí, phi quy luật. Không ai có thể tính trước được việc làm của thần linh và ma quỉ. Những dữ kiện trong Thái Ất cũng hé mở cho khả năng khám phá sự tồn tại của những hiệu ứng vũ trụ tương tác với trái Đất, cuộc sống, xã hội và con người mà con người có thể nhận thức được. Kết quả của khả năng tiên tri thể hiện trong Thái Ất và Tử Vi đẩu số đã chứng tỏ tính qui luật trong sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ qua những qui tắc và chuẩn mực của nó.
Như vậy, vấn đề còn lại sẽ là khả năng nhận thức của con người - trên cơ sở tri thức hiện tại hoặc sự phát triển của tri thức trong tương lai - có phát hiện được những hiệu ứng vũ trụ đang tác động lên chính con người hay không? Đây là một hiện tượng rất khó có thể chứng minh được bằng thực nghiệm trong khả năng của nền khoa học hiện đại. Điều này chỉ có thể chứng minh dựa trên cơ sở những mối liên hệ hợp lý của những vấn đề và hiện tượng liên quan. Hay nói một cách khác: nó thuần tuý mang tính lý thuyết. Nhưng chưa chứng minh được bằng thực nghiệm, không có nghĩa là những hiệu ứng vũ trụ đó không tồn tại. Bởi vì, con người cũng như tất cả các sinh vật đã phát sinh, phát triển và tồn tại trên trái đất này, đều chịu ảnh hưởng của những hiệu ứng vũ trụ và đã hòa nhập với nó. Một thí dụ trong trường hợp này là: bạn sẽ rất ít khi nghĩ rằng bạn đang thở, mặc dù không khí là yếu tố tồn tại của bạn. Do thở là một điều kiện cần, đã hòa nhập với bạn ngay từ lúc bạn mới chào đời. Nhưng không khí là một thực thể tồn tại bên ngoài bạn, nên có thể cảm nhận bằng giác quan. Thí dụ khác là: bạn có bao giờ cảm nhận được lực hấp dẫn hoặc ảnh hưởng của từ trường trái đất lên người bạn không? Có lẽ chỉ trừ những siêu nhân, còn ở tình trạng phổ biến - trong đó có cả tôi - câu trả lời sẽ là: "Không cảm nhận được điều này". Bạn chỉ có thể nhận thức được từ trường và lực hút của trái đất qua các hiện tượng liên quan và là một thực tế đã được khoa học hiện đại chứng minh. Theo truyền thuyết, việc chứng minh khoa học cho sự tác động của lực hấp dẫn được nghĩ đến, khi quả táo rơi xuống cái đầu vĩ đại của nhà bác học Niu Tơn vào thế kỷ XVII. Hàng ngàn năm trôi qua; hàng triệu quả táo đã rơi…Nhưng chỉ đến khi nó rơi vào đầu nhà bác học Niu Tơn nhân loại mới phát hiện ra lực hấp dẫn. Thật là may; nếu quả táo thiên thần đó rơi xuống đầu một con bò thì có lẽ đến bây giờ người ta vẫn chưa tin là có sức hút trái Đất.
Con người đã biết được lực từ trường và lực hấp dẫn, nhưng vẫn không cảm nhận được, vì đã phát sinh, phát triển, tồn tại và hòa nhập trong đó. Tương tự như vậy; những hiệu ứng vũ trụ khác đang tác động lên con ngườI sẽ không cảm nhận được.
Như vậy; vớI giả thuyết cho rằng: Tử Vi – và tất cả những khoa dự đoán Đông phương có phương pháp; có chuẩn mực; hệ thống và qui tắc nói chung – là những hiệu ứng vũ trụ có tính qui luật tác động lên con ngườI và tạo nên khả năng tiên tri cho số phận con người - thì vấn đề rất cần và đủ và rất nghiêm túc cho việc lý giải câu hỏI từ ngàn xưa của con người:
"Định mệnh có thật hay không?" sẽ là:
Những hiệu ứng tương tác có tính quy luật thể hiện trong Tử Vi và Thái Ất đó có tác động lên trạng thái ý thức của con người hay không?
BởI vậy; vấn đề cần bàn sau đây sẽ là bản chất của ý thức trong sự tương tác với hiệu ứng vũ trụ.
Đây là một yếu tố rất căn để tạo nên chiếc chìa khoá mở cánh cửa bí ẩn của “Định Mệnh”.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
KhongTu
02-25-2007, 04:30 PM
BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
Phù Dịch quảng hỹ. Dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngữ. Dĩ ngôn hồ nhĩ tắc nhi chính. Dĩ ngôn hồ thiên địa chi gian tắc bị hỹ.
Dịch lớn thay. Nói về xa thì vô củng. Nói về gần thì tĩnh mà chính. Nói về trời đất thì bao trùm tất cả.
Khái niệm và vấn đề
Qua truyền thuyết thì: Kể từ khi những lời tiên tri xuất hiện trong văn minh nhân loại cả ngàn năm; sau đó mới thấy lịch sử nhân loại ghi nhận tư tưởng minh triết. Cũng hàng ngàn năm qua đi…Đã có nhiều cách giải thích khác nhau về vũ trụ và con người. Nhưng hầu hết các trường phái triết học hiện đại đều phân biệt trạng thái ý thức (hoặc tinh thần) và vật chất.
Khái niệm ý thức được hầu hết các trường phái triết học lớn thống nhất coi là:
Ý thức là một dạng tồn tại phi vật chất và có khả năng tương tác với vật chất.
Bởi vậy; nếu ta so sánh tính phi vật chất và tương tác với vật chất của ý thức với tiêu chí khoa học hiện đại cho rằng:
“Một lý thuyết khoa học phải có tính hợp lý, tính quy luật và có khả năng tiên tri” -
Từ "tiêu chí khoa học" và "giả thiết về những hiệu ứng vũ trụ tác động lên con người có tính qui luật dẫn đến khả năng tiên tri" thì vấn đề sẽ được đặt ra là:
@ Những hiệu ứng này có tác động lên ý thức con người hay không và ngược lại?
Hay nói một cách khác rõ hơn:
Những quy luật vật lý có tương tác với ý thức hay không và ngược lại?
A) Nếu câu trả lời là “CÓ”.
Thì bản chất của ý thức mang thuộc tính vật chất. Như vậy sự phân biệt giữa vật chất và ý thức là một sai lầm.
B) Nếu câu trả lờI là “KHÔNG” thì tất cả các qui luật vật lý thể hiện sự tương tác của vật chất đều không thể tồn tại khi có tác động của ý thức - vốn được coi là một dạng tồn tại phi vật chất và tác động trở lại vật chất. Tất yếu sẽ không có khả năng tiên tri. Vì tính quy luật lúc ấy sẽ không thực hiện được, do một sự tương tác lên quy luật vật chất đó, không thể kiểm chứng là ý thức.
Rõ ràng cả hai trường hợp đều sại !
Vậy bản chất của ý thức là gì?
Tính ”Phi vật chất” của ý thức được các trường phái triết học khác nhau thừa nhận. Như vậy với khái niệm này; thì tất cả các quy luật vật lý – trong đó có những hiệu ứng vũ trụ - sẽ không có sự tương tác với ý thức. Ý thức lúc này là một chủ thể tồn tại độc lập với vât chất và là một chủ thể có khả năng chi phối các quy luật vật lý?
Như vậy; với khái niệm về "ý thức” như trên và trên cơ sở tiêu chí khoa học về khả năng tiên tri; thì khả năng tiên tri sẽ không thực hiện được. Bởi vì - ngoài những hiêu ứng vũ trụ tương tác có qui luật với sự tồn tại có thuộc tính vật chất của con người có thể tiên tri - thì vấn đề “định mệnh” sẽ phải tính đến một hiệu ứng của ý thức phi vật chất và không chịu sự chi phối bởi những qui luật vật lý của vật chất. Đó là nguyên nhân – ít nhất về mặt lý thuyết - khả năng tiên tri sẽ không thưc hiện được và mọi quy luật của tự nhiên tạo nên tri thức nhân loại hiện đại sẽ sụp đổ…
Nhưng thực tế khả năng tiên tri vẫn đang hiện hữu và tồn tại từ ngàn đời và ngay bây giờ, tại đây: Lý số Chân Thuyện. Trong đó tồn tại những phương pháp tiên tri có hệ thống; có qui luật và khách quan đã dẫn chứng và tất cả đều biết là Tử Vi; Tử Bình….
Như vậy; sự chính xác trên thực tế của các lời tiên tri được kiểm chứng trải hàng ngàn năm với các phương pháp mang tính qui luật của sự tiên tri tự nó đã phủ nhận khái niệm “Ý thức là một thể tồn tại phi vật chất”.
Hay nói một cách khác:
Ý thức phải chịu sự tác động của những qui luật vật lý mà loài ngườI đã khám phá ra hoặc chưa khám phá ra.
Nhưng nếu ý thức không thể phi vật chất thì con ngườI rút cục chỉ là robot cao cấp chăng?
Thực tế đã chứng minh không phải như vậy! Về mặt lý thuyết một vần đề tiếp theo được đặt ra khi ý thức không thể phi vật chất và là một sự vận động có tính qui luật là:
Nếu tư duy (Ý thức; tinh thân..) là sự vận động có tính quy luật và chịu sự tương tác của các quy luật vật lý thì cái gì nhận thức được nó?
Người viết xin được trình bày một nhận xét riêng của mình và đặt vấn đề - có thể coi là một giả thuyết sau đây:
Trong giai đoạn đầu của sự hình thành Thái Dương hệ - tức là vào giai đoạn chưa hề có một phân tử hữu cơ nào xuất hiện trên trái đất để mở đầu cho sự sống - thì tất cả từ những sự vận động khởi đầu cho một quá trình phát triển, tiến hóa của tự nhiên trên trái Đất đều ảnh hưởng của những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ. Chính những hiệu ứng tương tác từ vũ trụ này đã ảnh hưởng và chi phối quá trình tiến hóa của vật chất - cụ thể là trên trái đất - từ vô cơ đến hữu cơ, từ đơn giản đến phức tạp, cho đến khi hình thành những sinh vật cao cấp trên trái Đất hiện nay, trong đó có con người. Do đó, tất cả những sự hiện hữu dù đơn giản hay phức tạp; dù sinh vật bậc thấp, hay bậc cao trên trái Đất, đều tồn tại và phát triển trong tính tất yếu đã hiện hữu của những hiệu ứng vũ trụ và hòa nhập cân đối với những hiệu ứng đó, ngay từ những tế bào sống đầu tiên. Loài người cũng chỉ là một hiện tượng tồn tại hữu hạn trong quá trình vận động tương tác vô tận của vũ trụ. Do đó, sự tác động mang tính qui luật của những hiệu ứng vũ trụ lên chính con người (bao gồm cả những giá trị nhận thức và sự vận động tư duy; vốn là hệ quả của các hiệu ứng trên) phải là một thực tế hiện hữu và liên tục”.
Nếu những vấn đề đặt ra theo giả thuyết ở trên không phải là một thực tế hiện hữu - tức là sự vận động của tâm lý, tư duy, những giá trị tri thức vv mà gọi chung là những giá trị tinh thần của con người, tách rời hoặc không chịu sự tác động của những hiệu ứng vũ trụ - thì sự phủ nhận này sẽ dẫn đến tính hợp lý tiếp theo của nó là:
Thừa nhận một sự tồn tại thoát thai từ tự nhiên và trở thành phi tự nhiên (xuất phát từ vật chất và phi vật chất); không nằm trong sự chi phối của tự nhiên và tách rời tự nhiên ở tầm cỡ vũ trụ. Và điều này sẽ phủ nhận tất cả khả năng tiên tri.
Hay nói theo cách khác:
Mọi lý thuyết khoa học sẽ sụp đổ
Nếu sự tồn tại phi tự nhiên đó có thật và hiện hữu trong con người, thì đó chính là con đường dẫn tới ý niệm về Thượng Đế. Vì theo truyền thuyết, chỉ có Thượng Đế mới không chịu sự tương tác của tự nhiên. Điều này không thuộc về những luận điểm nhân danh khoa học và luận đề này sẽ được kết thúc ở đây.
Vì Định Mệnh sẽ không có thật mà tuỳ thuộc vào ý chí của Đấng Tối Cao.
Nếu đặt vấn đề: “Ý thức có trước” thì câu hỏI đặt ra tiếp theo sẽ là :
Tại sao cái có trước đó lại tạo ra những qui luật vật lý như thế này chứ không như thế kia? Tại sao nó không tạo ra một thế giớI ngay như bây giờ mà lại phải từ một nền văn minh từ thấp và phát triển như hiện nay? Đây cũng là vấn đề được đặt ra trong cuốn “Thượng Đế và khoa học” và được giảI thích rằng:
Thượng Đế toàn năng đã sắp đặt vũ trụ như hiện nay với những qui luât của nó?
Nhưng khi đặt vấn đề như vậy, rõ ràng mọi tri kiến khoa học sẽ trở nên không cần thiết nếu Thượng Đế toàn năng muốn sắp đặt lại vũ trụ! Bản thân ngài Jean Guitton - Đồng tác giả; viện sĩ Hàn lâm viện Pháp quốc – cũng chưa chứng minh được sự hiện hữu của Thượng Đế. Lập luận của ông trong suốt cuốn sách chỉ có thể coi là một cách đặt vấn đề khi tri thức khoa học hiện đạI còn khiếm khuyết ở cách giải thích sự khởI nguyên của vũ trụ. Và khi các nhà khoa học tiến vào thế giới vi mô của vật chất thì họ chợt nhận ra rằng: Hình như vật chất biến mất; hình như sự tương tác của các hạt lượng tử trong các thí nghiệm tuỳ thuộc vào cách nghĩ của con ngườI trực tiếp thí nghiệm nó?
Ở đây; tôi không hề có đặt vấn đề cái gì có trước (vật chất hay tinh thần) mà các trường phái triết học hiện đại thường nói tới; mà chỉ đặt vấn đề “Bản chất của ý thức” là gì.
Nhưng với tất cả những hiện tượng và giả thuyết nêu ở trên thì :
# Phải chăng sự phân biệt giữa “ý thức phi vật chất” và “vật chất” là một sai lầm.
# Phải chăng sự khởi nguyên của vũ trụ không có sự phân biệt này và nó được bắt đầu bằng một thể nguyên thuỷ thống nhất?
Điều kỳ lạ là - khi nhân loại còn đang lúng túng với thuyết Bicbang giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ, giữa vật chất và ý thức thì nền minh triết Đông phương lại giải quyết vấn đề này rất hoàn hảo.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
ĐỨC THÍCH CA NÓI VỀ TÍNH THẤY
KhongTu
02-25-2007, 06:22 PM
ĐỨC THÍCH CA NÓI VỀ TÍNH THẤY
Hay: Bản chất của ý thức
Như vậy – qua những bài viết trên mà người viết hân hạnh trình bày với quí vị thì chúng ta nhận thấy rằng:
Nếu không thể giải thích được bản chất của ý thức thì sẽ không thể có câu trả lời cho vấn nạn của con người:
Định Mệnh có thật hay không?
Chỉ có hai khả năng tồn tại của ý thức:
1)Phi vật chất.
Như vậy sẽ không thể có khả năng tiên tri theo những phương pháp có tính quy luật, tính hệ thống, tính khách quan… như Tử Vi; Từ bình…Bởi vì, nó còn phải chịu ảnh hưởng của một đại lượng không thể kiểm chứng là ý thức phi vật chất không mang tính quy luật. Vấn đề sẽ đuợc kết thúc tại đây:
“Không có Định Mệnh!”.
2) Ý thức là một dạng vận động của vật chất và chịu sự tương tác mang tính quy luật; mà nhân loại đã khám phá trong hiện tại hoặc có thể khám phá trong tương lai.
Với dạng tồn tại này thì ý thức và những hiện tượng liên quan đến nó: Tư duy; tình cảm; tiềm thức; vô thức; trực giác; cảm giác…v.v...đều có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật có thể tiên tri.
Như vậy, trong trường hợp này:
Định mệnh đang hiện hữu và chi phối cả ý thức con người.
Nhưng chính vì vậy vấn đề rốt ráo và hợp lý tiếp tục đặt ra sẽ là:
Nếu ý thức có thuộc tính vật chất với sự tương tác và vận động một cách có qui luật thì vấn đề đặt ra tiếp theo sẽ là:
Cái gì sẽ nhận thức được điều đó?
Từ một cái nhìn khoa học; có lẽ rất khó – hay nói chính xác hơn – không thể chứng minh được rằng:
"Có một dạng tồn tại phi vật chất, nhưng lại chứa đựng năng lượng để tác động trở lại vật chất".
Điều đơn giản nhất là: Nếu có một sự tồn tại phi vật chất, nhưng có khả năng tác động trở lại vật chất thì mọi định luật vật lý tiên tiến nhất của nhân loại hiện nay và cả khả năng phát triển của nó trong tương lai sẽ vô nghĩa. Khi nó còn phải tính đến sự tác động của sự tồn tại phi vật chất mà không thể kiểm chứng. Hay nói một cách khác:
"Toàn bộ tri thức khoa học của nhân loại hiện đại sẽ sụp đổ".
Các nhà khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng:
"Vật chất có thể chuyển hoá thành năng lượng và ngược lại".
Năng lượng là một thuộc tính của vật chất. Như vậy chỉ có thể có những dạng tồn tại khác nhau của vật chất, chứ không hề có một dạng tồn tại phi vật chất.
Người viết hy vọng rằng trong tương lai gần, con người sẽ có khả năng minh chứng được sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ lên những trạng thái tâm lý, khả năng nhận thức, tư duy vv... Hiện nay đã xuất hiện những giả thuyết gần gũi hoặc sẽ dẫn đến sự hợp lý cho một lý luận nhằm minh chứng cho sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ lên Địa cầu và cuộc sống con người. Trong báo "Tuổi trẻ chủ nhật" số ra ngày 22/ 9/ 2002, trong mục "Lang thang trên Internet", trang 22. Minh Hy - VnExpress (Theo DPA), đã viết:
”Ý thức là một thuộc tính của sóng radio trong não? Nhà tâm lý học Anh Johnjoe McFaddan cho rằng ý thức con người xuất hiện như một thuộc tính của sóng radio trong não bộ, nhờ đó con người có thể nhận thức được sự tồn tại của chính mình.
Lý thuyết của McFaddan đang gây tranh cãi vì người ta rất khó hiểu tại sao sóng radio (do chất xám của não bộ phát ra) lại có thể "ý thức" được chính nó và quá trình tự ý thức này diễn ra như thế nào. Tuy nhiên, nếu chấp nhận thuyết của McFaddan thì ta có thể giải thích được các hoạt động đến nay vẫn được xem là phi vật chất của ý thức bằng các quá trình lý hóa, hoặc ít ra là tạo cầu nối giữa các quá trình phi vật chất với các quá trình vật chất.
Trong một thông báo mới đây McFaddan giải thích rằng ý thức là một dạng xuất hiện cá biệt của sóng radio mà nhờ đó trung tâm nhận biết trong não bộ tự quan sát được các hoạt động của chính nó”.
Lý thuyết của Mcfaddan trên đây, cho thấy sự vận động của ý thức có thuộc tính vật chất. Như vậy, từ lý thuyết này dẫn đến khả năng nhận thức về những hoạt động khác thuộc tâm lý, tư duy, sự nhận thức vv..sẽ phải chịu những hiệu ứng vũ trụ chỉ là một khoảng cách ngắn.
Sự chứng minh những hiệu ứng vũ trụ tác động lên chính con người và tất cả những gì liên quan đến con người - bao gồm cả những sự vận động của tư duy - sẽ chỉ chứng minh được trên cơ sở một sự hợp lý trong việc lý giải các vấn đề và hiện tượng liên quan. Nhưng ngay ở đây, giả thuyết trên vẫn sẽ được coi như là một tiên đề, để giải thích các hiện tượng liên quan đến vấn đề được đặt ra ở đây:
Định mệnh có thật hay không?
Bởi vì - với giả thuyết này - thì những hiệu ứng vũ trụ sẽ là một sự tồn tại khách quan có tính qui luật. Do đó, nó là đối tác thuộc về khả năng nhận thức của con người.
Từ giả thuyết trên, có thể đặt vấn đề: Phải chăng chính sự tương tác của những hiệu ứng vũ trụ có tính qui luật, đã được phát hiện từ nền văn minh Đông phương và thể hiện trong các cuốn kỳ thư của nền văn minh này. Hệ quả của tri thức đạt được của con người về qui luật những hiệu ứng vũ trụ tác động lên trái Đất và con người, đã được thể hiện trong Thái Ất và Tử vi. Điều này giải thích tính qui tắc, tính hệ thống, tính khách quan trong Thái Ất, Tử Vi và khả năng tiên tri của nó, khi con người nhận thức được qui luật của tự nhiên. Đây cũng chính là nguồn gốc của nền minh triết Đông phương, khi hướng con người sống thuận theo qui luật của trời đất, hòa nhập với thiên nhiên.
Khả năng tiên tri là một chứng cứ đáng tin cậy để thẩm định một lý thuyết khoa học. Trong cuốn "Lược sử thời gian"(*) rất nhiều lần nói đến tính tiên tri như một bằng chứng khoa học của các học thuyết khoa học hiện đại. Trong phần kết luận, tác giả đã viết:
"Nhiều lý thuyết trước đây nhằm mô tả và giải thích vũ trụ gắn liền với ý tưởng cho rằng các sự cố và hiện tượng thiên nhiên đều điều hành bởi thần linh, do đó mang sắc thái cảm tính và không có khả năng tiên đoán". (*)
---------------------
* Chú thích: Lược sử thờI gian. Stephen W.Hawking.
Có một điều đáng tiếc là: Cả Thái Ất, Tử Vi đều chỉ là những phương pháp ứng dụng cho khả năng tiên tri. Mặc dù chúng có đầy đủ những yếu tố khoa học (tính khách quan, tính hệ thống, tính qui luật, khả năng tiên tri); nhưng cùng chung số phận với tất cả những phương pháp ứng dụng khác có phương pháp luận liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành là:
Tất cả những phương pháp ứng dụng đó , đều thiếu hẳn một hệ luận liên hệ với học thuyết này. Điều này đã chứng tỏ Thái Ất, Tử Vi chỉ là phần còn lại của một nền văn minh bị hủy diệt, nên đã bị thất truyền.
Nhưng đến đây; một vấn đề đã đặt ra và cần nhắc lại là:
Nếu tất cả trạng thái cảm xúc; tư duy…đều là sự tương tác có thuộc tính vật chất thì cái gì nhận biết điều đó?
Kỳ lạ thay! Điều này đã được Đức Thích Ca Mâu Ni giảng rõ trong tạng kinh nổi tiếng:
Thần chú Phật đỉnh Thủ lăng Nghiêm
Kính thưa quí vị quan tâm.
Sở dĩ tôi phải nhắc lại mệnh đề:
Nếu ý thức - và tất cả mọi giá trị quen gọi là tinh thần khác - mang thuộc tính vật chất thì cái gì nhận thức được điều đó?
trong bài viết này và diễn tả bằng một hình thức khác. Chính bởi vì tầm quan trong của vấn đề "Cái gì nhận thức được điều đó?". Giải quyết được vấn đề này sẽ là cơ sở cho câu trả lời:
Định mệnh có thật hay không?
Thiên Sứ
Còn tiếp:
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
KhongTu
02-25-2007, 06:24 PM
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
Tiếp theo
Phụ đề
MINH TRIẾT ĐÔNG PHƯƠNG& TƯƠNG LAI KHOA HỌC HIỆN ĐẠI
Sự phát triển của khoa học hiện đại đang ở giai đoạn bế tắc. Ở tầm cỡ vũ trụ nó đã đụng trần thời gian:
Các nhà khoa học không thể giải thích được thời gian trước 10 luỹ thừa –43 giây sau Bicbang. Về các hạt cơ bản tạo nên vật chất thì hình như vật chất đã biến mất. Nhưng kỳ lạ thay; những nhà khoa học hàng đầu thế giới lại tìm thấy ở nền minh triết Đông phương như là một cứu cánh hoặc chí ít cũng có thể là một cứu cánh. Chúng ta hãy xem lời phát biểu sau đây của Fritjof Capra – nhà vật lý lý thuyết được giải Nobel – trong tác phẩm “Đạo của vật lý” nổi tiếng của ông:
Đặc trưng của nền vật lý hiện đại của thế kỷ 20 là sự tìm kiếm nguồn gốc khởi thuỷ của vật chất; cố tìm ra những hạt cơ bản cuối cùng tạo nên nguyên tử. Thế nhưng khi cánh cửa cuối cùng mở ra để thấy bộ mặt thật của vật chất; nhà vật lý phát hiện vật chất hình như không phải do những hạt cứng chắc tạo thành nữa; mà nó chỉ là dạng xuất hiện của một thực tại khác. Vì thế mà vật chất mang những tính chất hầu như đối nghịch nhau; nó vừa liên tục vừa phi liên tục; vừa hiện hữu vừa phi hiện hữu; dạng xuất hiện của nó tuỳ theo cách quan sát của con người. Những tính chất lạ lùng đó đưa ngành vật lý vào thẳng cửa ngõ của triết học. Nền vật lý hiện đại vừa thống nhất và lý giải nhiều khái niệm cơ bản của triết học; vừa đề ra những câu hỏi lớn của loài người mà các nhà Đạo học xưa đã tổng kết.
Và kỳ lạ thay! Những phát hiện hiện nay của nền vật lý hiện đại không khác bao nhiêu với những kết luận của các thánh nhân xưa.
Như vậy; với đoạn trích dẫn trên; chúng ta cũng thấy được : Chính sự minh triết Đông phương sẽ là cứu cánh hoặc chí ít cũng có thể là cứu cánh của khoa học hiện đại. Bởi vì; khoa học hiện đại vớI tư duy thực sự cầu thị; nó luôn đòi hỏi nhìn thấy; chứng nghiệm thấy. Nó đã thấy và có thể sẽ thấy tất cả những cái hiện hữu vận động và tương tác của vật chất - kể cả sự vận động của tư duy của chính con người - thì nó sẽ không thể thấy chính cái thấy – cái nhận biết – tất cả những cái đó.
Hay nói theo cách khác:
Nếu ý thức là một trạng thái vận động có thuộc tính vật chất thì cái gì sẽ nhận thức được điều đó? Và cái nhận thức được điều đó sẽ không thể tự nhận thức được nó.
Phần tiếp theo đây sẽ là một phần trong tạng kinh nổi tiếng của Đức Thích Ca Mâu Ni để chúng ta cùng nhau tham khảo về lời minh giảng của Đức Phật về tính nhận biết tất cả những cái gì con người đã thấy và có thể thấy trong tương lai , trong đó có cả ý thức của con người.
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị và anh em.
Thiên Sứ
Còn tiếp:
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
KhongTu
02-25-2007, 06:24 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Ở bài viết trên, người viết đã hân hạnh trình bày với quí vị về 2 khả năng tồn tại của ý thức là:
1) Phi vật chất.
Như vậy sẽ không thể có khả năng tiên tri theo những phương pháp có tính quy luật, tính hệ thống, tính khách quan… như Tử Vi; Từ bình…Bởi vì, nó còn phải chịu ảnh hưởng của một đại lượng không thể kiểm chứng là ý thức phi vật chất không mang tính quy luật. Vấn đề sẽ đuợc kết thúc tại đây:
“Không có Định Mệnh!”.
2) Ý thức là một dạng vận động của vật chất và chịu sự tương tác mang tính quy luật; mà nhân loại đã khám phá trong hiện tại hoặc có thể khám phá trong tương lai.
Với dạng tồn tại này thì ý thức và những hiện tượng liên quan đến nó: Tư duy; tình cảm; tiềm thức; vô thức; trực giác; cảm giác…v.v...đều có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật có thể tiên tri.
Như vậy, trong trường hợp này:
Định mệnh đang hiện hữu và chi phối cả ý thức con người.
Nhưng chính vì vậy vấn đề rốt ráo và hợp lý tiếp tục đặt ra sẽ là:
Nếu ý thức có thuộc tính vật chất với sự tương tác và vận động một cách có qui luật thì vấn đề đặt ra tiếp theo sẽ là:
Cái gì sẽ nhận thức được điều đó?
Kính thưa quí vị.
Như vậy, vấn đề chỉ có thể tiếp tục với giả thuyết thứ hai:
Ý thức là một dạng vận động của vật chất.
Và nếu với giả thuyết này thì vấn đề tiếp theo sẽ là:
Cái gì nhận thức được điều đó?
Các bài viết tiếp theo đây nhằm giải quyết và chứng minh cho vấn đề đã đặt ra:
Ý thức là một dạng vận động của vật chất và tính thấy nhận biết được điều đó.
Bài viết này như một phụ đề giản lược những điều đã trình bày ở những bài trước trong tiểu luận :
Định mệnh có thật hay không?
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
KhongTu
02-25-2007, 06:25 PM
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự tìm hiểu về Định mệnh đã dẫn dòng suy nghiệm đến những quy luật có thể tiên tri. Từ đó liên hệ tới hiện tượng ý thức tồn tại độc lập hay chỉ là một thực tại khác của vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật của vât chất.
Cuối cùng, dòng suy nghiệm đã dẫn tới giả thuyết và là sự lựa chọn duy nhất cần minh chứng là “Ý thức có thuộc tính vật chất và một sự tồn tại có khả năng nhận biết tất cả những sự vận động có thuộc tính vật chất đó”.
Mọi chuyện sẽ bế tắc, nếu chúng ta không may mắn được biết và tìm đến những lời khải ngộ của Đức Phật mà chúng ta sẽ suy nghiệm sau đây.
Những đoạn dưới đây được trích dẫn trong “Kinh Thủ lăng nghiêm trực chỉ” do thiền sư Hàm Thị dẫn giải và dịch giả là hoà thượng Thích Phước Hào. Trong phần này; những đoạn trích dẫn lời dịch từ chính kinh được in nghiêng chữ đứng màu xanh Blue, những đoạn chú giải của thiền sư Hàm Thị (nếu có) chữ xanh Blue, in nghiêng; chính văn của người viết: chữ thường. Phần in đậm do người viết thực hiện.
@ ĐOẠN III – CHỈ HAI MÓN CĂN BẢN CHIA RIÊNG MÊ NGỘ
Đức Phật bảo Anan:
”Tất cả chúng sinh từ vô thuỷ đến nay; các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm ác xoa. Các người tu hành không thành được đạo Vô Thượng Bồ Đề; mà chỉ thành Thanh văn; Duyên giác; ngoại đạo; chư thiên;Ma vương và quyến thuộc của ma; đều chẳng biết hai món căn bản; tu tập sai lầm. Cũng như nấu cát mà muốn thành cơm thì dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được.
Thế nào là hai thứ căn bản? Anan! Một là căn bản sinh tử từ vô thuỷ. Chính hiện nay ông và chúng sanh đang dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Hai là Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ. tức là cái thức tinh nguyên minh của ông hay sinh các duyên mà bị duyên bỏ rơi. Do chúng sinh bỏ rơi tính bản minh này; nên trọn ngày trong động dụng mà chẳng tự biết; uổng trôi vào trong các cõi.
Khái niệm “Căn bản sinh tử từ vô thuỷ” mà đức Phật khai ngộ ở trên có thể tương đương với khái niệm “Thái cực sinh lưỡng nghi” (Âm Dương) trong Dịch học Đông phương ở thể khởi nguyên của vũ trụ.
Sinh tử = Âm Dương. Căn bản sinh tử = Thái Cực.
Khái niệm “Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ” có thể hiểu rằng: thể bản nguyên vũ trụ có trong con người. Xin được bàn rõ hơn ở phần sau.
@ĐOẠN IV – NƯƠNG CÁI THẤY ĐỂ GẠN CÁI TÂM
“A Nan, nay ông muốn biết con đường tu thiền định để mong ra khỏi sanh tử, tôi lại hỏi ông…”.
Liền khi ấy đức Như Lai đưa cánh tay sắc vàng co năm ngón lại hỏi ông A Nan:
“Nay ông có thấy chăng?”.
A Nan thưa:
“Thấy”.
Phật hỏi:
“Ông thấy cái gì?”
A Nan thưa:
“Con thấy Như Lai đưa cánh tay, co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt của con”.
Phật hỏi:
“Ông lấy cái gì để thấy?”
A Nan thưa:
“Con và cả đại chúng đều dùng mắt để thấy”.
Phật bảo Anan:
“Nay ông trả lời tôi hỏi. Như Lai co năm ngón tay lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt ông; mắt ông có thể thấy. Vậy ông lấy cái gì làm tâm để biết được nắm tay sáng chói của tôi?”.
Anan thưa:
“Hôm nay Đức Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào? Con dùng tâm suy xét tột cùng để tìm kiếm; tức là cái suy nghĩ đó – con cho là tâm của con”.
* Ở đây; ngài Anan cho rằng suy nghĩ (Tư duy – ý thức = phi vật chất theo quan niệm hiện đại phổ biến) là Tâm.
@ ĐOẠN V – CHỈ CÁI HAY SUY NGHĨ CÓ THẬT THỂ
Tiết 1 – Bác cái hay suy nghĩ
Phật bảo:
“Sai rồi; Anan! Cái này chẳng phải tâm của ông!”.
Anan giật mình; rời chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Đức Phật:
“Cái này chẳng phải tâm con. Vậy nên gọi nó là cái gì?”
Phật bảo Anan:
“Cái này là những tưởng tượng hư vọng của tiền trần; làm mê lầm chân tính của ông. Do ông từ vô thuỷ đến nay; nhận giăc làm con; bỏ mất tính chân nguyên thường nên phải chịu luân chuyển”.
Tiết 2 - Cầu xin chỉ dạy
Ông Anan bạch Phật:
“Bạch Đức Thế Tôn! Con là em yêu của Phật. Vì tâm mến Phật nên con xuất gia. Tâm con chẳng riêng gì cúng dường Đức Như Lai cho đến trải khắp hằng hà sa số cõi nước phung thờ chư Phật và Thiện tri thức; phát tâm đại dũng mãnh làm tất cả các pháp sự khó làm con đều dùng tâm này. Dẫu cho con có huỷ báng chánh pháp bỏ mất căn lành cũng từ tâm này. Nếu Phật phát minh nó chẳng phải tâm; hoá ra con không có tâm; đồng như cây đất. Vì ngoài cái hiểu biết này ra con không còn gì nữa. Tại sao Đức Như Lai bảo cái ấy chẳng phải là tâm? Con thật kinh sợ và trong đai chúng đây đều nghi ngờ. Cúi mong Đức Từ Bi mở lòng chỉ dạy cho kẻ chưa ngộ!”.
Qua đoạn trích dẫn ở trên – quí vị cũng thấy Đức Phật không cho tư duy, sự suy nghĩ là tâm. Người viết thấy rằng: Ý thức và những hiện tượng liên quan đều có thuộc tính vật chất. Hay nói một cách khác: Ý thức và những hiện tượng liên quan đều là sự tương tác kết hợp của vật chất; mà diễn đạt theo Phật pháp thì chúng đều do nhân duyên giả tạm không phải thật tính; không phải là tính nhận biết. Tức là chúng chịu sự tương tác mang thuộc tính của vật chất. Sự tương tác này có tính quy luật; có khả năng nhận thức được và sự tiên tri trên cơ sở nhận thức đó. Đây chính là yếu tố Định Mệnh của thế nhân. Nhưng vấn đề là: Nếu ngay cả ý thức và những hiện tuọng liên quan đều có thuộc tính vật chất - mà ngài Anan gọi là “.. đồng như cây đất (Một hình tượng khác của người robot). Vì ngoài cái hiểu biết này ra con không còn gì nữa” - thì cái gì sẽ nhận biết những thuộc tính vật chất đó. Đây cũng là điều mà người viết đặt ra và đã tường ở trên. Và kỳ diệu thay; đây cũng là điều mà Đức Thế Tôn chỉ dạy từ hàng ngàn năm trước. Sự khai ngộ của Đức Phật cũng sẽ là câu trả lời:
* Nếu ý thức có thuộc tính vật chất thì cái gì nhận biết điều đó?
* Có hay không môt lý thuyết thống nhất vũ trụ - mà S. Hawking đặt câu hỏi.
(Xin xem tiếp sự dẫn giải ở những bài sau).
Bây giờ Chúng ta xem tiếp những đoạn trích dẫn sau đây trong Kinh Lăng Nghiêm:
@ Tiết 3 – Chính chỉ toàn tánh
Bấy giờ Đức Thế tôn muốn chỉ dạy ông Anan và đại chúng; khiến cho tâm vào “vô sanh pháp nhẫn”; nên ở trên toà Sư tử xoa đầu ông Anan mà bảo rằng:
"Như Lai thường nói các pháp sanh ra chỉ từ tâm hiện.
TẤT CẢ NHÂN QUẢ THẾ GIỚI VI TRẦN NHÂN NƠI TÂM MÀ THÀNH THỂ.
Này Anan;như tất cả sự vật có ra trên thế giới; trong ấy từ ngọn cỏ; lá cây; sợi giây và cái gút..tìm cội nguồn của nó đều có thể tính; dầu cho đến hư không cũng có tên gọi và tướng mạo.
HUỐNG CHI TÂM THANH TỊNH SÁNG SUỐT NHIỆM MẦU NÀY LÀ TÂM TÁNH CỦA TẤT CẢ MÀ TỰ KHÔNG THỂ TÁNH HAY SAO?
Nếu ông chấp nhặt cái phân biệt hiểu biết quyết cho là tâm; thì tâm này khi rời tất cả các trần sắc;hương; vị;xúc riêng có toàn tánh? Như nay ông nương nơi nghe pháp của tôi; đây ắt nhân nơi tiếng mà có phân biệt. Dầu cho dứt hết tất cả thấy nghe hiểu biết; giữ cái thầm thầm lặng lẽ bên trong vẫn còn là việc phân biệt bóng dáng của pháp trần.
Chẳng phải tôi bảo ông chấp là chẳng phải tâm; nhưng ông đối với tâm này phải chín chắn và xét cho kỹ. Nếu rời tiền trần mà có tính phân biêt; tức thật là tâm ông. Nếu tánh phân biêt rời tiền trần không có thật thể thì đó là việc phân biệt bóng dáng của tiền trần. Trần thì chẳng phải thường trụ; nếu khi nó biến diêt thì tâm này đồng vớI lông rùa sừng thỏ; ắt pháp thân của ông cũng đồng với đoạn diệt. Vậy ông lấy gì để tu chứng Vô sanh pháp nhẫn?”
Qua đoạn trích dẫn trên; chứng tỏ Đức Phật đã chỉ thẳng ra rằng:
Sự tồn tại của ý thức mang thuộc tính vật chất.
Ngài nói:
“Nếu tính phân biệt rời tiền trần mà không có thật thể thì đó là việc phân biệt của tiền trần”.
Ở đây có lẽ không phải bàn sâu; vì có lẽ ai cũng hiểu rằng khái niệm “thật thể” chính là cách gọi khác của sự tồn tại có thuộc tính vật chất. “Rời tiền trần không có thật thể” thì chỉ là sự phân biệt giữa “Có” và “Không”, tức là “..việc phân biệt bóng dáng của tiền trần”.
Chính vì vậy; Đức Thế Tôn chỉ ra - khi một dạng tồn tại của vật chất tan biến – “Trần chẳng thường trụ; nếu khi nó biến diệt..” – thì cái “Tâm Không” đối đãi với cái “Có” của vật chất cũng sẽ biến mất. Bởi vì cái “không” là đối đãi với cái “có”, khi cái có không còn thì tất cái không phải biến mất. Ngài đã chỉ thẳng đó là một sai lầm nếu cho rằng:
Tâm vốn “không” khi đối đãi với “vật chất và sự tương tác của nó” vốn có thì "..tâm này đồng với lông rùa sừng thỏ…”. Thỏ thì không có sừng, Rùa thì không có lông. Đức Phật dùng hình tượng này để ví với cái không có thật.
Đến đây; tôi cũng xin lưu ý với các bạn là chữ "Tâm" mà đức Phật nói không đồng nghĩa với chữ Tâm trong cụm từ “duy tâm” thường dùng. Ngay cả câu trong kinh Phật: “Vạn pháp duy tâm biến hiện” cũng không hề đồng nghĩa với khái niệm “duy tâm” trong triết học hiện đại. Chữ “Tâm” trong Phật học để chỉ tính nhận biết (Tính thấy) mà một trong nhiều nghĩa của nó có thể hiểu là trạng thái “phi ý thức”.
Nhưng "TÂM" – tính nhận biết – tính thấy là gì?
Nó có sự tương tác hay không đối với quy luật vận động và tương tác của vật chất?
Nếu nói là “CÓ” thì đây chỉ là tên gọi khác của “ý thức” với khái niệm "phi vật chất” đầy đủ nhất của nó trước đến nay. Trong trường hợp này Đinh Mệnh sẽ không có thật. Mọi giá trị tiên tri sẽ không tồn tại, mọi lý thuyết khoa học vĩ đại nhất sẽ sụp đổ. Bởi vì lúc đó khoa học chỉ còn mang tính thực chứng và kinh nghiệm.
Nhưng nếu nói là “KHÔNG” thì cái gì sẽ nhận biết tất cả những qui luật vận động của vật chất? May mắn thay! Đức Như Lai đã khải ngộ điều này. Chúng ta sẽ tiếp tục tịnh quán những đoạn kinh tiếp theo đây.
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
KhongTu
02-25-2007, 06:49 PM
Kính thưa quí vị quan tâm.
Ở bài viết trên, người viết đã hân hạnh trình bày với quí vị về 2 khả năng tồn tại của ý thức là:
1) Phi vật chất.
Như vậy sẽ không thể có khả năng tiên tri theo những phương pháp có tính quy luật, tính hệ thống, tính khách quan… như Tử Vi; Từ bình…Bởi vì, nó còn phải chịu ảnh hưởng của một đại lượng không thể kiểm chứng là ý thức phi vật chất không mang tính quy luật. Vấn đề sẽ đuợc kết thúc tại đây:
“Không có Định Mệnh!”.
2) Ý thức là một dạng vận động của vật chất và chịu sự tương tác mang tính quy luật; mà nhân loại đã khám phá trong hiện tại hoặc có thể khám phá trong tương lai.
Với dạng tồn tại này thì ý thức và những hiện tượng liên quan đến nó: Tư duy; tình cảm; tiềm thức; vô thức; trực giác; cảm giác…v.v...đều có thuộc tính vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật có thể tiên tri.
Như vậy, trong trường hợp này:
Định mệnh đang hiện hữu và chi phối cả ý thức con người.
Nhưng chính vì vậy vấn đề rốt ráo và hợp lý tiếp tục đặt ra sẽ là:
Nếu ý thức có thuộc tính vật chất với sự tương tác và vận động một cách có qui luật thì vấn đề đặt ra tiếp theo sẽ là:
Cái gì sẽ nhận thức được điều đó?
Kính thưa quí vị.
Như vậy, vấn đề chỉ có thể tiếp tục với giả thuyết thứ hai:
Ý thức là một dạng vận động của vật chất.
Và nếu với giả thuyết này thì vấn đề tiếp theo sẽ là:
Cái gì nhận thức được điều đó?
Các bài viết tiếp theo đây nhằm giải quyết và chứng minh cho vấn đề đã đặt ra:
Ý thức là một dạng vận động của vật chất và tính thấy nhận biết được điều đó.
Bài viết này như một phụ đề giản lược những điều đã trình bày ở những bài trước trong tiểu luận :
Định mệnh có thật hay không?
Chân thành cảm ơn sự quan tâm của quí vị.
Thiên Sứ
KhongTu
02-25-2007, 06:50 PM
ĐỨC PHẬT KHAI NGỘ VỀ TÍNH THẤY
Kính thưa quí vị quan tâm.
Sự tìm hiểu về Định mệnh đã dẫn dòng suy nghiệm đến những quy luật có thể tiên tri. Từ đó liên hệ tới hiện tượng ý thức tồn tại độc lập hay chỉ là một thực tại khác của vật chất và chịu sự tương tác có tính quy luật của vât chất.
Cuối cùng, dòng suy nghiệm đã dẫn tới giả thuyết và là sự lựa chọn duy nhất cần minh chứng là “Ý thức có thuộc tính vật chất và một sự tồn tại có khả năng nhận biết tất cả những sự vận động có thuộc tính vật chất đó”.
Mọi chuyện sẽ bế tắc, nếu chúng ta không may mắn được biết và tìm đến những lời khải ngộ của Đức Phật mà chúng ta sẽ suy nghiệm sau đây.
Những đoạn dưới đây được trích dẫn trong “Kinh Thủ lăng nghiêm trực chỉ” do thiền sư Hàm Thị dẫn giải và dịch giả là hoà thượng Thích Phước Hào. Trong phần này; những đoạn trích dẫn lời dịch từ chính kinh được in nghiêng chữ đứng màu xanh Blue, những đoạn chú giải của thiền sư Hàm Thị (nếu có) chữ xanh Blue, in nghiêng; chính văn của người viết: chữ thường. Phần in đậm do người viết thực hiện.
@ ĐOẠN III – CHỈ HAI MÓN CĂN BẢN CHIA RIÊNG MÊ NGỘ
Đức Phật bảo Anan:
”Tất cả chúng sinh từ vô thuỷ đến nay; các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm ác xoa. Các người tu hành không thành được đạo Vô Thượng Bồ Đề; mà chỉ thành Thanh văn; Duyên giác; ngoại đạo; chư thiên;Ma vương và quyến thuộc của ma; đều chẳng biết hai món căn bản; tu tập sai lầm. Cũng như nấu cát mà muốn thành cơm thì dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được.
Thế nào là hai thứ căn bản? Anan! Một là căn bản sinh tử từ vô thuỷ. Chính hiện nay ông và chúng sanh đang dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Hai là Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ. tức là cái thức tinh nguyên minh của ông hay sinh các duyên mà bị duyên bỏ rơi. Do chúng sinh bỏ rơi tính bản minh này; nên trọn ngày trong động dụng mà chẳng tự biết; uổng trôi vào trong các cõi.
Khái niệm “Căn bản sinh tử từ vô thuỷ” mà đức Phật khai ngộ ở trên có thể tương đương với khái niệm “Thái cực sinh lưỡng nghi” (Âm Dương) trong Dịch học Đông phương ở thể khởi nguyên của vũ trụ.
Sinh tử = Âm Dương. Căn bản sinh tử = Thái Cực.
Khái niệm “Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ” có thể hiểu rằng: thể bản nguyên vũ trụ có trong con người. Xin được bàn rõ hơn ở phần sau.
@ĐOẠN IV – NƯƠNG CÁI THẤY ĐỂ GẠN CÁI TÂM
“A Nan, nay ông muốn biết con đường tu thiền định để mong ra khỏi sanh tử, tôi lại hỏi ông…”.
Liền khi ấy đức Như Lai đưa cánh tay sắc vàng co năm ngón lại hỏi ông A Nan:
“Nay ông có thấy chăng?”.
A Nan thưa:
“Thấy”.
Phật hỏi:
“Ông thấy cái gì?”
A Nan thưa:
“Con thấy Như Lai đưa cánh tay, co năm ngón lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt của con”.
Phật hỏi:
“Ông lấy cái gì để thấy?”
A Nan thưa:
“Con và cả đại chúng đều dùng mắt để thấy”.
Phật bảo Anan:
“Nay ông trả lời tôi hỏi. Như Lai co năm ngón tay lại thành nắm tay sáng chói chiếu vào tâm mắt ông; mắt ông có thể thấy. Vậy ông lấy cái gì làm tâm để biết được nắm tay sáng chói của tôi?”.
Anan thưa:
“Hôm nay Đức Như Lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào? Con dùng tâm suy xét tột cùng để tìm kiếm; tức là cái suy nghĩ đó – con cho là tâm của con”.
* Ở đây; ngài Anan cho rằng suy nghĩ (Tư duy – ý thức = phi vật chất theo quan niệm hiện đại phổ biến) là Tâm.
@ ĐOẠN V – CHỈ CÁI HAY SUY NGHĨ CÓ THẬT THỂ
Tiết 1 – Bác cái hay suy nghĩ
Phật bảo:
“Sai rồi; Anan! Cái này chẳng phải tâm của ông!”.
Anan giật mình; rời chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Đức Phật:
“Cái này chẳng phải tâm con. Vậy nên gọi nó là cái gì?”
Phật bảo Anan:
“Cái này là những tưởng tượng hư vọng của tiền trần; làm mê lầm chân tính của ông. Do ông từ vô thuỷ đến nay; nhận giăc làm con; bỏ mất tính chân nguyên thường nên phải chịu luân chuyển”.
Tiết 2 - Cầu xin chỉ dạy
Ông Anan bạch Phật:
“Bạch Đức Thế Tôn! Con là em yêu của Phật. Vì tâm mến Phật nên con xuất gia. Tâm con chẳng riêng gì cúng dường Đức Như Lai cho đến trải khắp hằng hà sa số cõi nước phung thờ chư Phật và Thiện tri thức; phát tâm đại dũng mãnh làm tất cả các pháp sự khó làm con đều dùng tâm này. Dẫu cho con có huỷ báng chánh pháp bỏ mất căn lành cũng từ tâm này. Nếu Phật phát minh nó chẳng phải tâm; hoá ra con không có tâm; đồng như cây đất. Vì ngoài cái hiểu biết này ra con không còn gì nữa. Tại sao Đức Như Lai bảo cái ấy chẳng phải là tâm? Con thật kinh sợ và trong đai chúng đây đều nghi ngờ. Cúi mong Đức Từ Bi mở lòng chỉ dạy cho kẻ chưa ngộ!”.
Qua đoạn trích dẫn ở trên – quí vị cũng thấy Đức Phật không cho tư duy, sự suy nghĩ là tâm. Người viết thấy rằng: Ý thức và những hiện tượng liên quan đều có thuộc tính vật chất. Hay nói một cách khác: Ý thức và những hiện tượng liên quan đều là sự tương tác kết hợp của vật chất; mà diễn đạt theo Phật pháp thì chúng đều do nhân duyên giả tạm không phải thật tính; không phải là tính nhận biết. Tức là chúng chịu sự tương tác mang thuộc tính của vật chất. Sự tương tác này có tính quy luật; có khả năng nhận thức được và sự tiên tri trên cơ sở nhận thức đó. Đây chính là yếu tố Định Mệnh của thế nhân. Nhưng vấn đề là: Nếu ngay cả ý thức và những hiện tuọng liên quan đều có thuộc tính vật chất - mà ngài Anan gọi là “.. đồng như cây đất (Một hình tượng khác của người robot). Vì ngoài cái hiểu biết này ra con không còn gì nữa” - thì cái gì sẽ nhận biết những thuộc tính vật chất đó. Đây cũng là điều mà người viết đặt ra và đã tường ở trên. Và kỳ diệu thay; đây cũng là điều mà Đức Thế Tôn chỉ dạy từ hàng ngàn năm trước. Sự khai ngộ của Đức Phật cũng sẽ là câu trả lời:
* Nếu ý thức có thuộc tính vật chất thì cái gì nhận biết điều đó?
* Có hay không môt lý thuyết thống nhất vũ trụ - mà S. Hawking đặt câu hỏi.
(Xin xem tiếp sự dẫn giải ở những bài sau).
Bây giờ Chúng ta xem tiếp những đoạn trích dẫn sau đây trong Kinh Lăng Nghiêm:
@ Tiết 3 – Chính chỉ toàn tánh
Bấy giờ Đức Thế tôn muốn chỉ dạy ông Anan và đại chúng; khiến cho tâm vào “vô sanh pháp nhẫn”; nên ở trên toà Sư tử xoa đầu ông Anan mà bảo rằng:
"Như Lai thường nói các pháp sanh ra chỉ từ tâm hiện.
TẤT CẢ NHÂN QUẢ THẾ GIỚI VI TRẦN NHÂN NƠI TÂM MÀ THÀNH THỂ.
Này Anan;như tất cả sự vật có ra trên thế giới; trong ấy từ ngọn cỏ; lá cây; sợi giây và cái gút..tìm cội nguồn của nó đều có thể tính; dầu cho đến hư không cũng có tên gọi và tướng mạo.
HUỐNG CHI TÂM THANH TỊNH SÁNG SUỐT NHIỆM MẦU NÀY LÀ TÂM TÁNH CỦA TẤT CẢ MÀ TỰ KHÔNG THỂ TÁNH HAY SAO?
Nếu ông chấp nhặt cái phân biệt hiểu biết quyết cho là tâm; thì tâm này khi rời tất cả các trần sắc;hương; vị;xúc riêng có toàn tánh? Như nay ông nương nơi nghe pháp của tôi; đây ắt nhân nơi tiếng mà có phân biệt. Dầu cho dứt hết tất cả thấy nghe hiểu biết; giữ cái thầm thầm lặng lẽ bên trong vẫn còn là việc phân biệt bóng dáng của pháp trần.
Chẳng phải tôi bảo ông chấp là chẳng phải tâm; nhưng ông đối với tâm này phải chín chắn và xét cho kỹ. Nếu rời tiền trần mà có tính phân biêt; tức thật là tâm ông. Nếu tánh phân biêt rời tiền trần không có thật thể thì đó là việc phân biệt bóng dáng của tiền trần. Trần thì chẳng phải thường trụ; nếu khi nó biến diêt thì tâm này đồng vớI lông rùa sừng thỏ; ắt pháp thân của ông cũng đồng với đoạn diệt. Vậy ông lấy gì để tu chứng Vô sanh pháp nhẫn?”
Qua đoạn trích dẫn trên; chứng tỏ Đức Phật đã chỉ thẳng ra rằng:
Sự tồn tại của ý thức mang thuộc tính vật chất.
Ngài nói:
“Nếu tính phân biệt rời tiền trần mà không có thật thể thì đó là việc phân biệt của tiền trần”.
Ở đây có lẽ không phải bàn sâu; vì có lẽ ai cũng hiểu rằng khái niệm “thật thể” chính là cách gọi khác của sự tồn tại có thuộc tính vật chất. “Rời tiền trần không có thật thể” thì chỉ là sự phân biệt giữa “Có” và “Không”, tức là “..việc phân biệt bóng dáng của tiền trần”.
Chính vì vậy; Đức Thế Tôn chỉ ra - khi một dạng tồn tại của vật chất tan biến – “Trần chẳng thường trụ; nếu khi nó biến diệt..” – thì cái “Tâm Không” đối đãi với cái “Có” của vật chất cũng sẽ biến mất. Bởi vì cái “không” là đối đãi với cái “có”, khi cái có không còn thì tất cái không phải biến mất. Ngài đã chỉ thẳng đó là một sai lầm nếu cho rằng:
Tâm vốn “không” khi đối đãi với “vật chất và sự tương tác của nó” vốn có thì "..tâm này đồng với lông rùa sừng thỏ…”. Thỏ thì không có sừng, Rùa thì không có lông. Đức Phật dùng hình tượng này để ví với cái không có thật.
Đến đây; tôi cũng xin lưu ý với các bạn là chữ "Tâm" mà đức Phật nói không đồng nghĩa với chữ Tâm trong cụm từ “duy tâm” thường dùng. Ngay cả câu trong kinh Phật: “Vạn pháp duy tâm biến hiện” cũng không hề đồng nghĩa với khái niệm “duy tâm” trong triết học hiện đại. Chữ “Tâm” trong Phật học để chỉ tính nhận biết (Tính thấy) mà một trong nhiều nghĩa của nó có thể hiểu là trạng thái “phi ý thức”.
Nhưng "TÂM" – tính nhận biết – tính thấy là gì?
Nó có sự tương tác hay không đối với quy luật vận động và tương tác của vật chất?
Nếu nói là “CÓ” thì đây chỉ là tên gọi khác của “ý thức” với khái niệm "phi vật chất” đầy đủ nhất của nó trước đến nay. Trong trường hợp này Đinh Mệnh sẽ không có thật. Mọi giá trị tiên tri sẽ không tồn tại, mọi lý thuyết khoa học vĩ đại nhất sẽ sụp đổ. Bởi vì lúc đó khoa học chỉ còn mang tính thực chứng và kinh nghiệm.
Nhưng nếu nói là “KHÔNG” thì cái gì sẽ nhận biết tất cả những qui luật vận động của vật chất? May mắn thay! Đức Như Lai đã khải ngộ điều này. Chúng ta sẽ tiếp tục tịnh quán những đoạn kinh tiếp theo đây.
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
KhongTu
02-25-2007, 06:50 PM
@ ĐOẠN VI – HIỂN BÀY TÍNH THẤY CHẲNG PHẢI MẮT
Tiết 1 –Trách nghe nhiều
Bấy giờ ông Anan và đại chúng im lăng; ngơ ngác.
Phật bảo ông Anan:
“Tất cả các người tu hành trên thế gian; hiện tiền tuy được “Cửu thứ đệ định”; mà chẳng được lậu tận thành A la hán; đều do chấp vọng tưởng sinh tử này lầm cho là chân thật. Thế nên; nay ông tuy học rộng nghe nhiều mà chẳng thành chánh quả.
Tiết 2 – Bày chướng cầu chỉ dạy
“..Bạch Đức Thế Tôn! Nay chúng con bị hai thứ chướng trói buộc; do chẳng biết tâm tánh vắng lặng thường hằng. Cúi xin Đức Như Lai thương xót kẻ nghèo khổ này phát tâm khởi nhiệm màu sáng suốt để mở bày con mắt đạo của chúng con”.
Tiết 3 – Phóng quang tiêu biểu nói pháp
Khi ấy từ chữ vạn trên ngực cửa Đức Như Lai phóng ra hào quang báu. Hào quang ấy rực rỡ có trăm ngàn màu sắc sáng khắp một lúc cả 10 phương thế giớI của Phật như số vi trần; rót khắp trên đỉnh của các Đức Như Lai ở các cõi nước trong 10 phương và xoay về soi đến ông Anan và cả đại chúng.
Phật bảo ông Anan rằng:
“Nay tôi vì ông mà dựng đạo pháp tràng lớn; cũng khiến cho tất cả chúng sinh 10 phương được tâm tính nhiệm màu; sâu kín trong sạch sáng suốt và con mắt đạo thanh tịnh.”
Tiết 4 – Chính chỉ cái thấy là Tâm
a) - Lấy nắm tay lệ cho cái thấy
Anan! Trước ông đã trả lời tôi là thấy được nắm tay sáng chói; vậy nắm tay này nhân đâu mà có? Ông đem gì thấy?”
Ông Anan thưa:
“Do toàn thân Phật như Diêm Phù đề sáng chói ngời dường núi báu; từ thanh tịnh sanh ra sáng chói. Con thật dùng mắt xem thấy năm ngón tay của Phật co lại đưa cho người xem; nên có tướng nắm tay”.
Phật bảo Anan:
“Hôm nay Như lai thật bảo ông: Những người có trí thiết yếu phải dùng thí dụ mà được khai ngộ. Anan! Thí dụ như nắm tay của tôi; nếu không có bàn tay tôi thì chẳng thành nắm tay. Nếu không có con mắt của ông thì không thành cái thấy của ông. Lấy con mắt của ông so với nắm tay của tôi; nghĩa ấy có đồng không?
Anan thưa:
“Bạch Thế Tôn! Đúng như vậy. Nếu không có con mắt của con thì cái thấy của con không thành. Lấy con mắt của con đem so sánh vớI nắm tay của Đức Như lai nghĩa ấy đồng nhau”.
Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng:
Ông Anan cho rằng cánh tay là đối tượng nhận biết và con mắt là phương tiện nhận biết đều có thuộc tính vật chất : “Lấy con mắt của con đem so sánh với nắm tay của Đức Như lai nghĩa ấy đồng nhau”.
Ông Anan chưa hiểu ý Đức Phật muốn nói về tính thấy qua phương tiện là con mắt .
@ b) - Chỉ cái thấy tối không phải không có thấy
Phật bảo Anan:
“Ông nói đồng nhau nghĩa đó không đúng. Vì sao? Như người không bàn tay; nắm tay hẳn là không. Còn người không con mắt hoàn toàn không phải họ không có cái thấy.
Bởi tại sao?
Ông thử ra đường hỏi những người mù mắt:Anh có thấy gì chăng? Các người mù kia ắt sẽ đáp với ông: Nay đối trước mắt tôi chỉ thấy tối đen; lại không thấy gì khác. Dùng nghĩa ấy để quán xét thì tiền trần tự tối chứ cái thấy đâu có thiếu kém”.
Qua đoạn trích dẫn này, Đức Phật dùng thí dụ là “con mắt” để phân biệt phương tiện nhận biết có thuộc tính vật chất – và tính nhận biết.
@ c) Dùng đèn so với con mắt để hiển bày cái thấy
* Nghi thấy tối chẳng phải là thấy
Ông Anan thưa: “Những người mù trước mắt họ chỉ thấy tối đen đâu gọi là thấy?” .
Đoạn này cho thấy ông Anan chấp vào việc không nhìn thấy vật thể thì “thấy tối” không phải là thấy.
@ *Dụ tối sáng không khác; chỉ cái thấy là tâm
Phật bảo Anan:
“Những người mù chỉ thấy tối đen; cùng với những người mắt sáng ở trong phòng tối; hai cái tối đó khác nhau hay không khác?”
- Bạch Đức Thế Tôn; đúng vậy! Người sáng ở trong chỗ tối cùng vớI người mù thấy tối; hai cái tối đó không khác.
- Anan! Nếu người mù bỗng nhiên được sáng mắt; đối với tiền trần thấy các sắc tướng gọi là mắt thấy. Người sáng ở trong nhà tối; bỗng có đèn sáng cũng đối với tiền trần thấy các sắc tướng, lý ưng phải chăng gọi là đèn thấy? nếu đèn thấy thì đèn chính là cái thấy tự chẳng gọi là đèn. Lại nữa; nếu đèn thấy thì chẳng can hệ gì đến việc của ông. Thế nên phải biết đèn hay hiển sắc, còn cái thấy là mắt chẳng phải đèn. Mắt hay hiển sắc còn cái thấy là tâm chẳng phải mắt.
Ông Anan và đại chúng tuy được nghe lời ấy mà miệng vẫn lặng thinh; tâm chưa khai ngộ; còn mong Đức Như Lai dùng lời lành chỉ dạy thêm; nên chắp tay lắng lòng trông chờ Phật xót thương dạy bảo.
Qua đoạn trích dẫn trên; cho thấy Đức Phật đã chỉ ra rằng: Có sự phân biệt giữa điều kiện nhận biết và tính nhận biết. Điều kiện nhận biết mà Ngài thí dụ ở trên gồm: phương tiện nhận biết (con mắt; ngọn đèn…) và đối tượng nhận biết: Nắm tay của Ngài…. Phương tiện nhận biết và đối tượng nhận biết có thể thay đổi (Cảnh giới tiền trần trụ diệt) Nhưng tính nhận biết không thay đổi khi có đầy đủ điều kiện nhận biết. Thí dụ:
Nếu chúng ta đặt v/d:
Vật thể đi với tốc độ ánh sáng; con người có thấy không?” .
Câu hỏi này có nội dung giống như:
Với cuộc sống con người cách đây 100 năm; nếu có người hỏi:
“Ở khoảng cách 100 cây số; con ngườI có nhìn thấy nhau được không?”.
Vào thời điểm không - thời gian cách đây 100 năm; câu trả lời sẽ là;”Không!”. Vì thiếu phương tiện nhận biết.
Nhưng ở thòi điểm không - thời gian hiện tại; câu trả lời sẽ là “Có!”. Vì con người có đầy đủ phương tiện nhận biết. Do đó; khi đặt v/d về một vật thể đi vớI tốc độ lớn hơn tốc độ ánh sáng (Đối tượng nhận biết) thì ở những trường hợp không có phương tiện nhận biết cấu trả lời sẽ là “Không thể thấy!”. Như vậy v/d: Có hay không nhận biết được (Thấy được) chỉ phụ thuộc vào phương tiện nhận biết. Còn vấn đề mà Đức Thích Ca chỉ dạy trong Kinh Lăng Nghiêm là “Tính Nhận biết”. Tức là Đức Phật chỉ ra bản chất thật của thể tính. Hay nói cách khác: Đức Phật khai ngộ về tính nhận biết, khi ý thức có thuộc tính vật chất - một hình thức tế vi của phương tiện nhận biết. Những đoạn trích dẫn tiếp theo đây chứng tỏ điều này.
Thiên Sứ
(Còn tiếp)
KhongTu
02-25-2007, 06:50 PM
@Tiết 3 - Lấy cái động tĩnh để hiển bày cái thấy
A- Tay xoè nắm để gạn cái thấy thường còn
Khi ấy Đức Như Lai ở trong đại chúng; co năm ngón tay lại và xoè nắm bàn tay. Ngài hỏi ông Anan:
- Ông thấy cái gì?.
Ông Anan thưa:
- Con thấy bàn tay trăm báu của Đức Như Lai xoè nắm!
Phật bào ông Anan:
- Ông thấy cái tay tôi xoè nắm là do cái tay xoè nắm hay do cái thấy của ông xoè nắm?
Ông Anan bạch Phật:
- Tay báu của Đức Thế Tôn có xoè nắm. Chẳng phải tính thấy của con có xoè nắm!
Phật hỏi:
- Cái nào động cái nào tịnh?
Ông Anan thưa:
- Tay của Phật không dừng; tánh thấy của con còn không tịnh thì đâu có gì động!
Phật nói:
- Đúng như vậy!
Qua đoạn trích dẫn ở trên cho thấy Đức Phật dùng nắm tay thể hiện đối tượng nhận biết – và phương tiện nhận biết luôn động. Ngài thí dụ để ông Anan ngộ ra một trong những thể tính của tính thấy là “không động”.
Phương tiện nhận biết động, đối tượng nhận biết động thì cái lý của tính thấy phải tĩnh so với cái động. Nói chính xác là không động. Vì nếu tính thấy cũng động thì nó mang thuộc tính của vật chất. Và sẽ lại phải có cái nhận biết được nó?!
B) Phóng quang để gạn hỏi cái thấy không động
Bấy giờ trong lòng bàn tay của Đức Như Lai phóng một luồng hào quang báu soi đến vai bên phải ông Anan, làm ông Anan quay đầu ngó sang bên phải. Phật lại phóng hào quang qua vai bên trái ông Anan. Ông Anan lại xoay đầu ngó sang bên trái. Phật bảo ông Anan:
- Đầu ông hôm nay nhân gì lại dao động?
Anan thưa:
- Con thấy Như Lai phóng hào quang báu đến hai vai; con nhìn qua hai vai để xem. Nên đầu con tự dao động.
Phật hỏi:
- Ông nhìn hào quang của Phật; nên đầu quay qua phải và trái. Vậy đầu ông động hay cái thấy của ông động?
Ông Anan thưa:
- Bạch Thế Tôn! Đầu con tự động; mà tính thấy của con không có dừng, huống chi có động!
Phật nói:
- Đúng như vậy!
Qua đoạn trích dẫn trên, cho thấy: Với câu "... tính thấy của con không có dừng, huống chi có động!” diễn tả hai – trong nhiều – trạng thái của “tính thấy”:
* Tính liên tục không ngừng nghỉ, không chia cắt, luôn luôn thấy. Cho nên nói “Tính thấy không dừng”.
* So với cái động (Động là thuộc tính của vật chất) thì Tính thấy; tính nhận biết không động so với cái động (Với bất cứ tốc độ vũ trụ nào mà khoa học có thể tìm thấy hoặc sẽ thấy trong tương lai).
Như vậy; “Tính thấy” – tính nhận biết chỉ có thể giải thích là một trạng thái tồn tại bao trùm vũ trụ; nhưng không đồng nghĩa với hư không. Điều nay có thể sẽ dẫn đến khái niệm Thái Cực trong Kinh Dịch; hoặc Đạo trong Đạo Đức Kinh.
C) Chính chỉ tính thấy không có động tĩnh co mở
Khi ấy Đức Như Lai bảo khắp đại chúng:
- Nếu lại có chúng sanh cho cái dao động đó gọi là trần; cái chẳng dừng đó gọi là khách. Các ông xem đầu ông Anan tự dao động, mà tánh thấy không có dao động. Lại các ông xem tay tôi co mở mà tính thấy không có co mở. Tại sao các ông lại lấy cái động làm thân; cái động làm cảnh. Từ thuỷ chí chung; niệm niệm sanh diệt sót mất chân tánh. Nhận vật làm mình luân hồi trong đấy, tự nhận sự lưu chuyển.
Động là một thuộc tính của vật chất. Bởi vậy sự vận động của tư duy mang thuộc tính vật chất, tất yếu nó phải chịu sự tương tác của các vật thể dù lớn như các Thiên hà hoặc nhỏ hơn cả siêu hạt Quak, dù xa đến tận cùng vũ trụ hoặc dù gần đến ngay trong ta. Sự vận đông này mang tính quy luật - khi nhận thức được qui luật này - dẫn đến khả năng tiên tri và vấn đề Định Mệnh. Nhưng con người không phải robot – Cái gì nhận biết tất cả sự vận động của vật chất (Trong đó có ý thức)?
Theo cách diễn tả của ngài Anan thì con người không thể “Đồng như cây đất”. Hay nói theo hình ảnh khoa học hiện đại: Con người không phải là robot của tạo hoá , nếu tự nhận thức được mình. Đức Thế Tôn đã chỉ ra tính nhận biết tất cả sự vận động và tồn tại vật chất.
Ngài đã nhắc nhở:
# Tính thấy không phải là cái “KHÔNG” đối đãi với cái "CÓ” (Cái hiện hữu tồn tại và vận động dù nhỏ nhất của vật thể).
Vì khi đối đãi như vậy, “cái có” tự hoại thì “cái không” biết mất.
# Tính thấy không phải “TĨNH” so với “ĐỘNG”. Vì cái "Động" chỉ mang tính tương đối có nhanh có châm. Vì khi cái "Động" dừng thì tính thấy vẫn thường hằng.
# Tính thấy “Không dừng”. "Không động" mà cũng "Không dừng" thì chính là cái tuyệt đối. Nói theo ngôn ngữ toán học thì vận tốc = |O|.
# Tính thấy có từ khi vô thuỷ và có trong những sinh thể đầu tiên tồn tại cho đến nay. Vậy nó phải có từ khởi nguyên vũ trụ. Từ vô thuỷ đến vô chung. Không không gian; không thời gian; không lượng số.
Dịch viết:
"Ở xa thì nói tới cái vô biên của vũ trụ; ở gần thì tĩnh mà chính; ở giữa thì bao trùm tất cả”.
Đức Phật đã chỉ thẳng chân tính để thoát khỏi luân hồi, vượt qua Định mệnh.
Nhưng thật khó lắm thay! Nghe tiếng bom nổ ở thành Batda vào ngày Nhâm Thìn Thuỷ (18/2 Âm Lịch) mới nhớ lời tiên tri của Thiên Cơ trước đó 3 tháng. Trông thấy hình của ông Hussein râu tóc rậm rạp há miệng cho bác sĩ Hoa Kỳ lấy mẫu AND vào tháng 11 Âm lịch; mới thấy Thiên Cơ, Thanh Long, Thiên Kỳ Quý đã dự liệu từ lâu…Ấy là những chuyện lớn ở đời. Còn thân phận con người mới nhỏ nhoi làm sao?
Phải chăng chỉ có tình yêu thương là cứu cánh cho cuộc sống đời người..
Luân hồi nếu nói theo ngôn ngữ hiện đại gần đồng nghỉa với “quy luật” : “Luân”: sự tiếp nối; vận động. "Hồi”: quay trở lại.
Cũng như Chu Dich. "Chu": Vòng tròn. "Dịch": Sự vận động theo vòng tròn, mang tính tất yếu; tính quy luật.
Những lời chỉ dạy của Đức Thích Ca về một thực tại có khả năng nhận biết (Tính thấy – tính nhận biết) tất cả mọi sự luân hồi , nhân quả. Hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là: Sự nhận biết tính quy luật của mọi sự vận động.
Nhưng tính thấy phải chăng chỉ là một ”thực tại khác” mà nhà vật lý Fritjof Capra nói đến. Có thể hiểu như thế cũng được; nhưng không rốt ráo. Bởi vì một thực tại khác là gì khi cho đến nay ý niệm về sự tồn tại của vật chất vẫn chưa vượt quá khái niệm về sự tồn tại của những siêu hạt?
Hay tính thấy chính là “tinh – khí - thần” theo khái niệm phổ biến thuộc văn minh Đông phương chăng? Cũng không phải. Vì tinh khí thần đều có động và có dừng khi tính thấy không dừng và không động.
Vậy “tính thấy” là “tâm” chăng? Cũng chẳng phải! Vì cái tâm vẫn còn phân biệt chính, tà thì cái tâm nào là cái thấy của cái tâm kia?
Phật pháp có câu:
“Trực chỉ nhân tâm; kiến tánh thành Phật”
Tự nội dung của câu này đã cho thấy:
Cái tâm cũng chỉ là một phương tiện, một yếu tố cần để “kiến tánh”.
Định nghĩa thế nào là "tính thấy” mới thật khó làm sao? Hay nói một cách khác:Nếu chúng ta định nghĩa được “tính thấy” thì tức là chúng ta sẽ “thấy” nó. Vậy thì nó không còn là cái thấy nữa, vì còn có một cái thấy khác thấy nó. Thật may mắn thay! Những lời chỉ dạy của Đức Phật trong Kinh thần chú Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm đã tiếp tục chỉ rõ điều này.
Thiên Sứ
Còn tiếp
Powered by vBulletin® Version 4.1.5 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.