View Full Version : Quà tặng đặc biệt
huephong
05-05-2009, 01:21 AM
Vào cuối mỗi năm tôi thường chọn 1 nhân vật nào đó để viết thư. Dù viết chẳng để gửi đi, nhưng thói quen của tôi là thế. Cũng như thói quen cứ sáng ngày 1 tháng 1 âm lịch là tôi đi bộ vòng quanh bờ biển Vũng Tàu. Có lúc tôi viết thư cho một vị tổng thống, một nhà triết học, một nhà kinh doanh, một nhà khoa học. Cũng có lúc viết thư cho một loài hoa, một con chó hay một loài vô tình nào đó. Như ngày 26 tháng 12 năm Bính Tuất, tôi viết thư cho Ông Nguyễn Trần Bạt, một người tôi cảm nhận được nhiều cái hay. Ông là tác giả của những cuốn sách Suy tưởng, Văn hoá và con người, Cải cách và sự phát triển. Ông là nhà sáng lập InvestConsult Group, như ông tâm sự “Cái đáng giá nhất trong cuộc đời của tôi không phải là tạo ra một công ty mà là tạo ra được một nghề mới ở Việt Nam. Đó là nghề tư vấn đầu tư và phát triển các quan hệ thương mại”.
Ông là người đam mê và quan sát cuộc sống tường tận. Ông đọc rất nhiều sách, đặc biệt các sách triết học. Chính vì thế thư viện được gọi là mini của ông còn lớn hơn cả thư viện cả tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nhìn vào khối lượng sách như thế, đọc sâu vào các cuốn sách ông viết mới thấy con người này đọc nhiều đến cỡ nào.
Tôi được ông tiếp tại phòng riêng, cùng với 2 người đồng nghiệp thân cận của ông. Tôi chọn một món quà được gói trong một hộp giấy rất Hà Nội. Ông cầm món quà trên tay và đoán ngay đây là một cuốn sách. Chọn một cuốn sách để tặng cho một người đã đọc hàng ngàn cuốn sách điều đó không đơn giản tý nào. Tặng sách cho một người viết sách càng khó hơn. Nhưng tôi tự tin nghĩ rằng cuốn sách này ông chưa có bao giờ. Khi ông mở gói quà ra không khỏi ngạc nhiên và thú vị bởi một cuốn sách “người vô sự” mà ông chưa có trên kệ. Đây là một cuốn sách mà tôi đã “trốn” việc ở công ty để ngồi đọc ròng rã 1 tháng liền. Tôi không nằm đọc, không ngồi đọc mà ngồi xếp bằng chân ở tư thế bán già cùng với một bình trà. Đọc hết một trang tôi uống một ly trà, cứ như thế cho đến hết cuốn sách. Đây không phải là cuốn sách viết hay mà tôi tìm thấy ở nó một liều thuốc xổ. Tất cả những gì tôi tiếp nhận vào người, vào đầu, những thứ được gọi là tri thức, giờ nó mới được tiêu hoá và xổ ra ngoài thật sự, tôi chôn nó tại www.nguoivosu.com (http://www.nguoivosu.com). Cái học, cái đọc không phải để chất đầy thêm mớ kiến thức mà chính là khả năng buông bỏ, học để buông bỏ, đọc để buông bỏ. Cái đó mới chính là đạo của cái học, đạo của cái đọc. Hơn một năm nay tôi không xem tivi, không phải vì tôi không thích xem mà tôi thấy chẳng có gì để xem. Có những thứ rác rưởi hôi hám mà ta cứ trố mắt lên nhìn, có những thứ mùi hôi tanh mà ta cứ banh mũi ra để nó chui vào. Thật ra đó chỉ là thói quen, nó làm cho em dịu một cảm giác mà thôi. Nhìn ngoài bao thuốc lá có ghi “hút thuốc có hại cho sức khoẻ”, “hút thuốc là bệnh ung thư phổi”. Thế mà ai cũng rít, cũng hút, ai cũng biết không tốt mà cứ ôm vào. Ngoài thì kinh tụng mòn cả môi, dẫn dắt cả hàng đệ tử. Phật pháp thuộc làu làu, lời Phật dạy không làm điều xấu lúc nào cũng rõ. Vậy mà có điếu thuốc bỏ không xong thì buông bỏ cái gì. Rất may tôi cũng là người ghiền thuốc, nay thì đã dứt bỏ được rồi. Chẳng có gì là không buông bỏ được chỉ có điều có buông không mà thôi. Còn không buông được thì chỉ có chết với nó. Tôi không biết ông Nguyễn Trần Bạt có sử dụng món quà đặc biệt của tôi không. Nhưng tôi biết rằng đó là cái duyên, món quà ấy cũng là cái duyên. Tất cả trên đây cũng là vọng niệm mà mấy năm nay tôi chưa buông. Xem như hôm nay tôi buông rồi vậy. Với cái tuổi Bính Tuất của ông, can Bính thuộc dương, chi Tuất cũng dương, 1946 thuộc Ly hoả. Cái bệnh của ông là từ cái nóng tính, trực tính từ thời trẻ mà ra. Ông không sớm “xổ nó” thì giảm thọ. Xét cho cùng chẳng có gì đáng để làm, chẳng có gì đáng để viết. Tất cả là mộng huyễn là hoa đám trong hư không mà thôi.
Huệ Phong
http://www.emotino.com/data/userfiles/phamdinhphong/image/HN3.jpg
Ông Nguyễn Trần Bạt (bìa trái)
KhongTu
05-05-2009, 04:45 PM
http://files.chungta.com/Thumbnail.ashx/0/180/0/8FAB16039963408E80E67FD51FC2DA66/Suy_Tuong.jpg
Hết sức tình cờ, tôi đã được tác giả tiếp chuyện và được tặng tác phẩm Suy Tưởng. Có thể nói chưa bao giờ tôi có được cảm xúc như vừa ăn một bữa "đại tiệc của tinh thần" đến vậy. Tác giả bằng quan điểm uyên bác và cái nhìn sâu sắc, mạch văn hấp dẫn cô đọng, sắc sảo... đã xới lên và gợi mở các giải pháp một cách thuyết phục cho những chủ đề nóng hổi, thiết thực và sống còn của dân tộc. Hy vọng các bạn cũng được đọc và suy tưởng tiếp những vấn đề đã nêu trong cuốn sách...
Lời đầu sách của Ban biên tập
Chúng ta đang đứng trước một thế giới thay đổi từng ngày, thậm chí là từng giờ. Nhiều vấn đề vốn trước đây thuộc của riêng quốc gia thì nay trở thành vấn đề của toàn nhân loại. Ngược lại có không ít vấn đề trong quan niệm quen thuộc của nhiều người dường như không dính dáng gì đến sự hưng vong của quốc gia, thì nay chúng ta phải đối mặt ngày ngày vừa như cơ may, vừa như một thách thức. Những phân biệt rạch ròi giữa chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục... giờ đây trở nên xa lạ hơn bao giờ hết bởi chúng không giúp nhận thức, giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh.
Trong khi thế giới ngày càng đa dạng về mọi mặt, ngày càng chằng chịt những mối quan hệ riêng tư, ngày càng đề cao những giá trị cá nhân, thì cũng trong cái thế giới ấy chưa bao giờ sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau giữa các lợi ích, các hình thái quan hệ; giữa các cá nhân, các cộng đồng, dân tộc, quốc gia hay thậm chí giữa các khu vực... trở nên quan trọng đến thế, mang ý nghĩa sông còn đến thế. Quan trọng vì nó gắn liền với sự tồn tại, hòa bình, phát triển và thịnh vượng... là mơ ước mang tính toàn cầu ngày nay. Chỉ đơn cử vấn đề nghèo đói, môi trường hay chống khủng bố. Không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được một trong ba vấn đề bức xúc và nổi cộm nhau ấy mà không cần đến sự liên kết mang tính toàn cầu. Nhưng ngay cả khi có sự, liên kết chặt chẽ thì vẫn cần một nhận thức tỉnh táo và khoa học về căn nguyên của những thảm họa trên... Rồi hiện tượng tưởng như đối nghịch giữa giầu có và sự xuống cấp của nhiều giá trị vốn là hậu quả của nghèo khổ; giữa một thế giới được kiểm soát gắt gao về an ninh với cảm giác bất an đang gia tăng; giữa bản sắc riêng của mỗi dân tộc và sự toàn cầu hóa triệt để, giữa chủ quyền quốc gia và sự mất dần ranh giới các đường biên; giữa sự phụ thuộc không thể tránh khỏi và quyền độc lập tự chủ của các nước chậm phát triển với các cường quốc...
Tất cả những điều vừa nêu đều được đề cập trong cuốn sách mà chúng tôi đang muốn giới thiệu cùng quý độc giả. Mức độ tiếp cận ở từng vấn đề có sự khác nhau về tính độc đáo, sự sâu sắc, khả năng phát hiện, phân tích... và chắc chắn sẽ gây tranh cãi nhưng có thể nói trước rằng chúng rất đáng trân trọng đến thế, mang ý nghĩa sống còn đến thế. Quan trọng vì nó gắn liền với sự tồn tại, hòa bình, phát triển và thịnh vượng... là mơ ước mang tính toàn cầu ngày nay. Chỉ đơn cử vấn đề nghèo đói, môi trường hay chống khủng bố. Không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được một trong ba vấn đề bức xúc và nổi cộm nhau ấy mà không cần đến sự liên kết mang tính toàn cầu. Nhưng ngay cả khi có sự, liên kết chặt chẽ thì vẫn cần một nhận thức tỉnh táo và khoa học về căn nguyên của những thảm họa trên... Rồi hiện tượng tưởng như đối nghịch giữa giầu có và sự xuống cấp của nhiều giá trị vốn là hậu quả của nghèo khổ; giữa một thế giới được kiểm soát gắt gao về an ninh với cảm giác bất an đang gia tăng; giữa bản sắc riêng của mỗi dân tộc và sự toàn cầu hóa triệt để, giữa chủ quyền quốc gia và sự mất dần ranh giới các đường biên; giữa sự phụ thuộc không thể tránh khỏi và quyền độc lập tự chủ của các nước chậm phát triển với các cường quốc...
Tất cả những điều vừa nêu đều được đề cập trong cuốn sách mà chúng tôi đang muốn giới thiệu cùng quý độc giả. Mức độ tiếp cận ở từng vấn đề có sự khác nhau về tính độc đáo, sự sâu sắc, khả năng phát hiện, phân tích và chắc chắn sẽ gây tranh cãi nhưng có thể nói trước rằng chúng rất đáng trân trọng, trước hết ở thái độ khoa học và lương tri của một trí thức. Phải nêu lên một thực tế là, những vấn đề như vậy thường khiến nhiều người ngại ngùng chạm tới bởi nhiều lý do. Thứ nhất, vì nó khá mạo hiểm, cả trên phương diện chính trị lẫn tri thức. Thứ nữa nó rất phức tạp, lại dễ gây nhàm chán ngay từ khi đặt vấn đề nếu tác giả không có một trí tuệ hấp dẫn, không biết tạo ra một không khí đối thoại khoa học, không đưa ra được những ý tưởng độc đáo, không đủ tự tin vào bản thân mình. Và nếu có thể kể thêm lý do thì chính là từ lâu chúng ta cứ một dần thói quen đơn độc suy nghĩ, suy nghĩ một cách không vụ lợi, suy nghĩ cho tương lai...
Ông Nguyễn Trần Bạt (http://www.investconsultgroup.com/), Chủ tịch - Tổng giám đốc Investconsult Group (http://www.chungta.net/OnlineEditor/), tác giả của công trình khá công phu này, thuộc số những người còn coi suy nghĩ như một cái nghiệp của mình. Nhiều trang viết của ông có sức hấp dẫn vượt khỏi khuôn khổ một bài nghiên cứu bình thường. Tác giả cũng cho thấy ông không ngại đụng chạm đến cả những vấn đề nhạy cảm, không ngại đưa ra những chủ kiến, sẵn sàng chịu trách nhiệm về chúng mà không né tránh hoặc phụ hoạ. Nhưng có lẽ điều đáng nói hơn lại ở chỗ ông luôn tìm cách gắn những vấn đề như vậy với tiến trình mở cửa, hội nhập, phát triển để mục tiêu cuối cùng là thịnh vượng của Việt Nam; cố gắng đặt chúng trong những mối tương quan cụ thể nhằm tìm xem yếu tố nào là từ thuận lợi, yếu tố nào tác động tiêu cực trên tiến trình vươn lên của người Việt. Chỉ riêng nỗ lực chân thành như vậy đã rất đáng được ghi nhận. Chính điều đó cũng là lý do khích lệ chúng tôi trong việc đưa cuốn sách đến với bạn đọc.
BAN BIÊN TẬP
KhongTu
05-05-2009, 04:48 PM
http://files.chungta.com/Thumbnail.ashx/0/180/0/74C47377446C4577B7C7B73B3208B13B/Nguyen_Tran_Bat-Tong_tu_lenh_dieu_khac_biet.jpg
Cầu đường, triết học và luật, những khúc nối có vẻ thiếu đồng điệu nhưng lại là những tổ hợp đồng điệu trong con người ông Nguyễn Trần Bạt - một vị tổng giám đốc đam mê quan sát cuộc sống. Chẳng ai ngờ cái thứ đam mê lạ lùng ấy, một ngày kia đã biến ông trở thành một trong những doanh nhân thành đạt bậc nhất Việt Nam.
Phiên dịch sự khác biệt
Trong một buổi giao lưu với sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân, ông Nguyễn Trần Bạt - Tổng giám đốc công ty tư vấn đầu tư InvestConsult Group đã tâm sự thế này: “Cái đáng giá nhất trong cuộc đời của tôi không phải là tạo ra một công ty mà là tạo ra được một nghề mới ở Việt Nam. Đó là nghề tư vấn đầu tư và phát triển các quan hệ thương mại”.
Cũng giống như Jeff Beros - ông chủ của Amazon.com, người mở đường cho cả một ngành thương mại điện tử đang bùng nổ khắp thế giới - câu nói hàm chứa nhiều sự tự hào này chính là bí quyết thành công của Nguyễn Trần Bạt: nhìn thấy và có khả năng hiện thực hoá điều nhiều người không thể.
Vốn là một kỹ sư cầu đường nhưng ông lại ham mê triết học và quan sát cuộc đời. Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, để tâm xem xét những biến động của tình hình quốc tế, ông đi đến một nhận định rằng “Việt Nam chắc chắn là phải có đổi mới”. Ông cho rằng khi thực hiện đổi mới, mở cửa sẽ có hai cộng đồng người gặp nhau: “người phương Tây không hiểu gì về Việt Nam và người Việt Nam chẳng hiểu gì về phương Tây”. Khi hai cộng đồng ấy mở cửa nhìn nhau và đều “ngọng” trong việc diễn đạt các nguyện vọng của mình, họ cần phải có một kẻ phiên dịch.
“Tôi lập công ty này với ý đồ trở thành kẻ phiên dịch sớm nhất cho sự khác biệt giữa hai hệ thống kinh tế, hai hệ thống chính trị và hai mức độ phát triển”, ông kết luận việc mình nhìn ra thị trường của một ngành kinh doanh hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam trong thời điểm ấy, một cách đầy triết lý như thế.
Được manh nha từ năm 1987 - khi ông còn công tác ở Bộ Khoa học Công nghệ, công ty của ông được chính thức thành lập năm 1989. Và hai năm sau, với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Chính phủ, ông quyết định đưa công ty của mình thành công ty tư nhân.
“Khi mới thành lập công ty, có người cho tôi là thằng khùng nhưng tôi phớt lờ. Tôi có cái để bán và rất nhiều người mua thì tại sao lại không làm - đó là trí khôn. Tôi khai thác những hiểu biết để cảnh báo rủi ra và biến chúng thành dự báo”. Ông cắt nghĩa ngắn gọn con đường mình đã và đang đi.
Từ khởi đầu với vỏn vẹn 3 người, đến nay, công ty của ông đã có hơn 300 nhân viên với các văn phòng đại diện ở thành Hà Nội, Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh. Đến giờ công ty của ông đã trở thành một địa chỉ tư vấn tin cậy của không chỉ các công ty trong nước mà còn của các tập đoàn có tên tuổi trên thế giới như Coca-Cola, IBM, Nec, CitiBank hay Deawoo…
Khi kẻ “ngẩn ngơ” trở thành “tổng tư lệnh”
Khi được hỏi “thế nào là một CEO?”, ông đã không ngần ngại dùng một phép so sánh, mà đối trọng là nhà độc tài quân sự người Pháp Napoléon Bonaparte. Ông nói: “Tất cả các chủ tịch hay giám đốc của các tập đoàn kinh tế lớn (CEO) cần phải có những phẩm chất như Napoleon… Trong thời đại của chúng ta, CEO chính là những người chỉ huy, phụ trách các dự án kinh tế. Vì thế, họ phải có phẩm chất của một viên tướng. Mà chất lượng của một viên tướng là phải biết kết thúc hay nhất một trận đánh.
Tự nhận mình là “một kẻ ngẩn ngơ, dại dột trong cuộc sống hàng ngày”, nhưng trong kinh doanh, ông tự tin cho rằng mình là một CEO - một viên tướng, một tổng tư lệnh thực thụ. Bởi, ông có cách “điều binh” đặc biệt.
“Tôi không thuộc những người sử dụng lao động một cách tầm thường. Cho nên, nếu hỏi kinh nghiệm (sử dụng và đào tạo lao động) của tôi thì tôi sẽ nói kinh nghiệm của tôi không phổ biến trong xã hội. Tôi không làm gì cả”, ông nói. “Nếu linh cảm mách bảo tôi rằng người này có giá, tôi sẽ nhận vào làm ngay”.
Thứ “linh cảm” mà ông nói đến xuất phát từ việc “đo độ nhạy tinh thần” và “độ cao thượng trong đời sống tinh thần” khi ông tuyển dụng nhân viên. Theo ông, độ nhạy bén cộng với sự cao thượng sẽ tạo ra “khả năng không thể dự báo được về sự phát triển”.
“Tôi còn một cái khác nữa là những người tôi cần đào tạo, không bao giờ tôi chiều ngay từ đầu cả. Có những kẻ tôi dấu kín. Và 5 năm sau, tôi bỗng đưa lên từ một nhân viên thông thường thành một giám đốc công ty”.
Vị “tổng tư lệnh” 61 tuổi giải thích: “Thực phẩm của thiên tài là tự do. Mà điểm mấu chốt của tự do là quên đi sự lệ thuộc của mình vào lời khen, tiếng chê của người khác”.
Với quan niệm ấy, ông “khuyến khích sự sáng tạo, khuyến khích tự do đối với nhân viên của mình. Tự do đến làm việc cho tôi, nếu anh cảm thấy tự tin và tự do dời công ty của tôi nếu anh cảm thấy bất hạnh, anh cảm thấy không hạnh phúc”. "Tôi không giữ họ khi họ có đủ tài năng để có thể tìm kiếm những chân trời rộng hơn tôi. Tôi trân trọng điều ấy".
Kết quả của phương pháp lựa chọn nhân sự có vẻ thiên về cảm tính ấy là một đội ngũ nhân viên rất chất lượng và chuyên nghiệp. Ông tự hào cho biết: "Người của tôi rất có uy tín trên thị trường lao động Việt Nam". Tổng giám đốc Ngân hàng ANZ hiện nay đã từng là trợ lý của ông. Khoảng hơn 70 công ty làm dịch vụ tư vấn hiện nay có người đứng đầu là những người từng có thời gian công tác trong công ty ông. Và không ít các luật sư sau khi thôi làm ở công ty ông, họ được nhận công việc tại những công ty luật danh tiếng thế giới như Baker & McKenzie hay White & Case...
Ông tâm niệm: một CEO, một vị tướng - linh hồn trong sự phát triển của một tập đoàn - là người “phải biết rõ mình đang làm gì, mình có mục tiêu gì, mình thực hiện mục tiêu đó bằng gì, vào lúc nào, trên quy mô nào và bao giờ chấm dứt".
Ông nói: "Tôi luôn nghĩ rằng tôi không phải là một ông chủ. Tôi là tư lệnh của một dự án kinh tế. Tôi luôn trả lương cho cán bộ của mình rất cao. Vì cho rằng mình phải chia phần chiến lợi phẩm mình kiếm được cho các “binh sĩ”. Với quan niệm như thế, tôi là một CEO bền vững".
Phẩm hạnh - triết lý thành công
“Làm gì có doanh nhân, làm gì có nhà chính trị. Đó chỉ là những trạng thái khác nhau của cuộc đời… Và điều quán xuyến hợp lý những trạng thái khác nhau đó của cuộc đời là đạo đức”, người đàn ông có thói quen tự cười mình này nhìn nhận về cuộc sống.
Đối với ông, đạo đức, sự lương thiện hay phẩm hạnh, không chỉ là nền tảng của một cuộc sống tốt đẹp mà còn là bản lề của sự thành công: dù bạn có là một người bình thường, một nhân viên hay một doanh nhân.
"Nếu không bắt đầu từ sự lương thiện thì con người sẽ chẳng làm được gì. Phải biết yêu thương con người. Chẳng hạn tôi bắt đầu kinh doanh là vì yêu con tôi. Các quy luật tinh thần sẽ mách bảo bạn cần phải làm gì rồi các bạn sẽ tự tìm thấy sự thành đạt thích hợp cho mình”, ông tâm sự.
Cách đây hơn 20 chục năm, khi ấy ông vẫn là một cán bộ làm việc trong biên chế nhà nước, cô con gái đầu lòng của ông mắc bệnh hiểm nghèo. Bỏ nghiệp nghiên cứu, ông sang làm kỹ sư xây dựng với mong muốn duy nhất: có đủ tiền để chữa bệnh cho con. Năm 1985, ông mất cô bé vì không thể kiếm đủ 30.000 USD - phí tổn cần thiết cho một ca phẫu thuật thay tủy. Cảm giác bất lực của một người cha khi ấy đã thôi thúc ông tìm cách bảo vệ gia đình trước khi những điều tương tự có thể xảy ra. "Tôi nghĩ rằng cần phải lao động, cần phải sáng tạo, không thể trông đợi vào những kinh nghiệm mà mình đã có cho đến lúc ấy. Cho nên tôi tạo ra nghề này".
Lương thiện cũng là tiêu chuẩn đầu tiên của một nhân viên dưới quyền ông phải đạt được. Đối với một người coi "tâm hồn" - nguồn sức mạnh vô hình có thể làm nở mọi thứ - là "vốn liếng quý giá nhất của con người" như ông, thì thiếu lương thiện đồng nghĩa với việc tự loại mình ra khỏi sự phát triển.
Ông cho hay: "Tôi không khắt khe về chuyên môn, nhưng tôi cực kỳ khắt khe về sự lương thiện. Nếu một người nào đã trót không lương thiện thì không qua mặt tôi được. Tôi không bao giờ tiếp nhận người không lương thiện, nếu cấp dưới của tôi có nhầm lẫn thì tôi cũng tìm cách loại bỏ. Lương thiện là phẩm chất quan trọng nhất để tôi chọn hay không chọn một cán bộ. Nếu có một người được việc nhưng không lương thiện thì người đó cũng sẽ không phát triển, không đi xa được".
"Tôi không tự mãn rằng tôi có khả năng biết mọi thứ, nhưng trong những thứ tôi biết được thì đạo lý của sự đúng đắn là yếu tố khống chế toàn bộ hoạt động của tôi".
Thế nên, đừng nóng vội, "hãy kiên nhẫn giữ gìn phẩm hạnh của bản thân... để chờ đợi cuộc sống tốt hơn. Chúng ta đừng làm xấu xí mình vì các thúc bách của đời sống, để đến khi cuộc sống tốt hơn thì chúng ta lại trở thành kẻ ngoài rìa".
Đó là triết lý sống của ông. Trước giờ vẫn vậy và sau này vẫn thế.
KhongTu
05-05-2009, 04:51 PM
Phó hiệu trưởng Trần Đức Thìn:
Kính thưa ông Nguyễn Trần Bạt, thưa quý vị đại diện cho InvestConsult Group (http://www.investconsultgroupservices.com/), thưa các thầy các cô và thưa toàn thể các em sinh viên. Tôi xin giới thiệu với các em InvestConsult Group (http://www.investconsultgroupservices.com/)là một công ty rất lớn, trước đây đã trao một số suất học bổng cho sinh viên của trường ta. Đó có là món quà hết sức quý giá dành cho những em sinh viên có kết quả học tập tốt và có ý chí vượt qua khó khăn. Nhân buổi nói chuyện với ông Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch - Tổng giám đốc InvestConsult Group (http://www.investconsultgroupservices.com/)hôm nay, thay mặt cho nhà trường chúng tôi muốn nói lời cám ơn tới InvestConsult Group (http://www.investconsultgroupservices.com/)đã hỗ trợ sinh viên của trường chúng tôi. Chúng tôi rất mong trong tương lai giữa nhà trường và công ty có mối quan hệ thường xuyên.
Như chúng ta đã biết, ngày 07/11/2006 đánh dấu một mốc rất quan trọng trong lịch sử phát triển hội nhập của nước ta, đó là Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Chắc chắn đây là một vấn đề mà không chỉ sinh viên Đại học Luật mà sinh viên của rất nhiều trường đại học khác cũng rất quan tâm. Thay mặt cho Đảng ủy và Ban Giám hiệu nhà trường, tôi xin khai mạc buổi nói chuyện của ông Nguyễn Trần Bạt với sinh viên Đại học Luật Hà Nội với chủ đề "Việt Nam gia nhập WTO - Cơ hội và thách thức". Xin chúc cho buổi nói chuyện của chúng ta thành công tốt đẹp!
http://files.chungta.com/Image.aspx/image=pjpeg/c1dfc1dc33e64bd08189d69e2414ca31-M1.jpg/M1.jpgNguyễn Trần Bạt (NTB): Xin kính chào các thầy, các cô cùng tất cả các bạn. Khi chúng ta nói hội nhập, đổi mới với sự thơ thới, sự thanh thản của thế hệ trẻ thì các bạn sinh viên có thể nghĩ đó là một việc tất nhiên. Nhưng đối với những người đã đấu tranh gian khổ trong suốt cả cuộc đời thì để đổi mới, để hội nhập là cả một vấn đề. Hôm nay Quốc hội bỏ phiếu về việc nước CHXHCN Việt Nam gia nhập WTO, chỉ có 90% ủng hộ, vẫn có 3 phiếu chống và 2 phiếu trắng, điều ấy có nghĩa rằng không dễ dàng gì để hôm nay Chính phủ chúng ta, đất nước chúng ta hội nhập, chúng ta tham gia WTO. Cho nên, nhân dịp gặp gỡ này tôi xin tất cả mọi người vỗ tay hoan nghênh về quyết định của nước CHXHCN Việt Nam gia nhập WTO. Đây là một sự kiện vô cùng hệ trọng. Ngoài cuộc Cách mạng Tháng Tám và cuộc Giải phóng Miền Nam ra, tôi chưa thấy việc gì hệ trọng hơn việc nước chúng ta gia nhập WTO. Đây là một quyết định chính trị vô cùng sáng suốt của những người lãnh đạo Việt Nam.
Ban tổ chức có giao cho tôi nhiệm vụ trình bày với các bạn về hội nhập, về WTO. Tôi có những hiểu biết về WTO cũng giống như các bạn bởi vì các văn bản chính thức bằng tiếng Việt đang được chuẩn bị, chưa được công bố một cách công khai. Các bạn biết rằng cuộc đàm phán này kéo dài tới 11 năm, qua nhiều thế hệ bộ trưởng thương mại, qua nhiều đời thủ tướng và phải nói rằng nó vô cùng gian khổ. Tôi quen hầu hết những nhà đàm phán, làm việc, thảo luận và nghe được hầu hết tâm tư của những người tham gia các quá trình đàm phán, tôi hiểu rằng câu chuyện không hề đơn giản. Với tư cách là một người nghe ngóng trước và có điều kiện để nghe ngóng một cách kỹ lưỡng hơn các bạn sinh viên, tôi nghĩ rằng cách hay nhất để chúng ta sử dụng cho có ích thời gian của chúng ta là các bạn hỏi và tôi trả lời. Tuy nhiên, trước khi vào phần đối thoại, tôi xin nói một chút mở đầu về một số khái niệm.
Vấn đề mà tôi muốn nói là liệu hội nhập có phải chỉ là cơ hội và thách thức hay không và thế nào là cơ hội, thế nào là thách thức. Tôi đã nói chuyện với sinh viên của Khoa Quốc tế, Đại học Hà Nội, với sinh viên Khoa Quản lý đào tạo Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân về vấn đề này. Tôi không nghĩ rằng hội nhập chỉ có hai vấn đề là cơ hội và thách thức mà nó phong phú hơn như vậy. Sáng nay, trong buổi trao đổi với các đồng nghiệp của tôi, tôi có nói rằng bản chất của hội nhập hay công việc chính trị cơ bản của hội nhập là xây dựng nhà nước pháp quyền. Các bạn có thể thấy rằng công việc vất vả nhất sau khi đàm phán là công việc mà Quốc hội chúng ta đang làm ngày làm đêm để thông qua một loạt các bộ luật để kịp thời thoả mãn các đòi hỏi của Tổ chức Thương mại Thế giới. Tuy nhiên chúng ta cũng chỉ mới làm ở mặt tiền của quá trình lập pháp để phục vụ quá trình hội nhập thôi, bên trong lòng xã hội chúng ta vẫn còn rất nhiều công việc có chất lượng lập pháp phải làm để từ đó chúng ta hoàn thiện thể chế cho phù hợp với các đòi hỏi của quá trình hội nhập. Các bạn cũng thấy rằng ngày hôm qua chánh án Toà án tối cao của nước CHXHCN Việt Nam trả lời một cách cực kỳ vất vả trước các chất vấn của các đại biểu Quốc hội đối với hoạt động của ngành tư pháp, đặc biệt là của toà án. Các bạn là sinh viên luật, các bạn có một địa vị vô cùng quan trọng cho việc hoàn thiện Nhà nước Pháp quyền Việt Nam. Tôi không hiểu được nếu có ai đó không tin rằng sinh viên luật và giới luật sư rất có tương lai trong giai đoạn hiện nay. Khi Việt Nam quyết định hội nhập thì giới luật học càng có giá trị, và đến lúc nào đó các bạn sẽ thấy rằng nếu một người không phải tối thiểu là cử nhân luật thì sẽ không thể trở thành một công chức có chất lượng hành động thỏa mãn yêu cầu của thời đại. Trường Luật là một trường rất có tương lai trong toàn bộ giai đoạn phát triển sắp tới của đất nước chúng ta. Tôi hết sức cám ơn các thầy cô giáo và các bạn đã nghe tôi nói và cho tôi cái vinh dự được nói. Khi tổng thống Mỹ Bill Clinton đến Thái Lan, ông ta đã chọn trường Chulalonkorn, một nơi đào tạo các luật sư của Thái Lan để nói chuyện, để gửi các thông điệp chính trị của người Mỹ. Ngay cả ở Mỹ, khi cần gửi thông điệp chính trị đối với xã hội thì tổng thống Clinton hoặc tổng thống Bush cũng phải đến trường Yale để nói chuyện với các sinh viên luật. Vì thế, được nói chuyện với các bạn đối với tôi là một vinh hạnh, tôi cám ơn các bạn về cái vinh hạnh mà các bạn trao cho tôi.
Phải nói rằng chúng ta có một xã hội nếu xét theo quan điểm của một nhà luật học là một xã hội chưa hoàn chỉnh. Xã hội ấy chưa hoàn chỉnh bởi chúng ta chưa có một hệ thống nhà nước pháp quyền hoàn chỉnh và rõ ràng. Chúng ta có một công nghệ lập pháp rất thô sơ. Sự thô sơ của công nghệ lập pháp của chúng ta thể hiện ở chỗ người đưa ra sáng kiến lập pháp là những người hành pháp. Các nhà lập pháp của chúng ta tức là các đại biểu quốc hội nhiều khi đưa ra những chất vấn và nhiều khi chấp nhận những câu trả lời phi luật học. Đấy là một trong những nhược điểm được biểu hiện một cách công khai rõ ràng trên tất cả các phương tiện truyền thông. Chúng ta có một hệ thống tư pháp, một hệ thống xét xử rất không chuyên nghiệp, số lượng các vụ xử oan sai lên đến hàng chục ngàn tức là có hàng chục ngàn người bị oan tồn tại trong xã hội đang phát triển ở thế kỷ XXI. Chúng ta có một số lượng luật sư trên đầu người ở mức gần như thấp nhất thế giới. Chúng ta có một số lượng các công ty luật có lịch sử ngắn nhất thế giới. Chúng ta có một Bộ Tư pháp mà tuổi đời của nó cũng trẻ nhất trong tất cả các Bộ Tư pháp trên thế giới. Đó là những đặc điểm của tính không hoàn thiện hay tính chưa hoàn thiện của xã hội chúng ta. Vậy chúng ta hoàn thiện nó bằng cách nào? Nếu bỗng nhiên tất cả mọi nhà chính trị đều thức tỉnh về vai trò của việc hoàn thiện nhà nước pháp quyền, đều ủng hộ nó thì liệu xã hội có làm nổi cái việc ấy không với lực lượng các nhà luật học mỏng manh như hiện nay chúng ta có? Là một trong những người sử dụng nhiều nhà luật học nhất với tư cách là một tổng giám đốc công ty, tôi hiểu ra rằng ở xã hội chúng ta để hoàn thiện được các thể chế, vận hành nó như một đất nước hiện đại, chúng ta còn mất rất nhiều thời gian. Thứ nhất, chúng ta có một số cơ sở đào tạo luật như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Khoa Luật của Đại học Quốc gia Hà Nội nhưng tất cả công suất (chưa nói đến chất lượng) của các cơ sở đào tạo ấy hoàn toàn không đủ để cung cấp cho xã hội đủ lực lượng để hoàn thiện nhà nước pháp quyền dù bất kỳ theo nghĩa nào. Để làm như vậy thì ở mỗi một phường, ông chủ tịch phường phải là cử nhân luật nhưng hiện nay vẫn còn rất nhiều ông chủ tịch phường phát biểu một cách phi luật học.
Vậy làm như thế nào để cung cấp đủ số lượng các cử nhân luật để làm chủ tịch phường, xã? Với công suất của các cơ sở đào tạo luật học của chúng ta, tôi cho rằng hoàn toàn không đủ cung cấp cho xã hội chúng ta lực lượng để hoàn thiện nhà nước pháp quyền. Thứ hai, quan điểm đào tạo rất khác nhau ở các trường, thậm chí khác nhau ở các lớp học ở trong cùng một trường, khác nhau ở quan điểm thế hệ của các hiệu trưởng và các chủ nhiệm khoa. Do đó, chúng ta chưa thống nhất được các tiêu chuẩn để có thể có những sản phẩm là những nhà luật học phù hợp với đòi hỏi của thời đại. Thứ ba, các cơ sở đào tạo luật học của chúng ta là đào tạo khép kín, tính mở của hệ thống đào tạo phụ thuộc vào độ mở của các chính sách, độ mở của thái độ của các quyết định chính trị. Vì vậy, rất khó cho các cơ sở đào tạo đón trước tất cả các khuynh hướng để có thể giúp các cử nhân luật có đủ các phẩm chất để giải quyết vấn đề mang tính thời đại của chúng ta là chúng ta hội nhập như thế nào. Hội nhập không chỉ là một ý chí chính trị, hội nhập là một năng lực thật sự của con người, trong đó năng lực của những người hướng dẫn luật pháp là một trong những năng lực vô cùng hệ trọng. Ví dụ như vụ án người Bỉ bắt ông Bửu Huy, Phó giám đốc Công ty XNK Nông sản - Thực phẩm An Giang. Anh buôn bán mà không biết đã vi phạm pháp luật nước mà mình bán hàng đến thì anh không hội nhập được. Tôi cho rằng sự hiểu biết của nhiều thế hệ các cử nhân Luật do chúng ta đào tạo ra về hệ thống luật pháp quốc tế là không đầy đủ. Tôi có cộng tác rất lâu dài với một quan chức cao cấp từng là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về Hợp tác và Đầu tư, ông Đậu Ngọc Xuân. Nhiều khi ông ấy nói với tôi rằng: "Tôi sợ rằng tìm ra một người hiểu biết một cách trọn vẹn và đầy đủ các bộ luật của WTO là một việc rất khó ở Việt Nam". Tất nhiên đấy là vào ba năm trước, còn bây giờ có lẽ tình hình đã khá hơn.
Tôi cho rằng, chất lượng, nhất là chất lượng để phục vụ hội nhập là một vấn đề. Do cái may mắn của nghề nghiệp mà tôi có điều kiện va chạm với hầu hết các bộ luật thương mại của các nền kinh tế quan tâm đến Việt Nam. Cách đây 15 năm tôi nhận một công việc của tập đoàn General Electrics. Đó là một hợp đồng so sánh luật chống tham nhũng của Hoa Kỳ với tất cả những quy định về chống tham nhũng ở Việt Nam, vì lúc bấy giờ chúng ta chưa có luật chống tham nhũng, chúng ta chỉ có những quy định có tính chất hành chính đối với việc chống tham ô và lãng phí. Và chúng tôi buộc phải đặt bên cạnh bộ luật chống tham nhũng của Hoa Kỳ những quy định rời rạc rất khó hệ thống của cái được gọi là hệ thống các quy định chống tham ô lãng phí của Việt Nam. Ngay từ 15-16 năm trước tôi đã thấy tính không tương thích của hệ thống luật pháp Việt Nam. Cho nên hội nhập ngoài tất cả những khó khăn về chính trị, ngoài tất cả những khó khăn về kinh tế, về thương mại có một khó khăn vô cùng to lớn, thậm chí nó là khó khăn bản chất, đó là việc chúng ta xây dựng nhà nước pháp quyền của chúng ta như thế nào để hội nhập một cách bình đẳng với tất cả các thể chế đang tồn tại trong khuôn khổ WTO. Đó chính là công việc của các bạn. Bây giờ, tôi rất muốn trả lời câu hỏi của các bạn.
Trước khi các bạn hỏi, tôi xin nói thêm rằng hỏi là một trong những kỹ năng hết sức quan trọng thể hiện tài hoa của luật sư. Các bạn xem phim và các bạn thấy rằng những luật sư tài thì không phải nói, không phải biện hộ nhiều mà họ chỉ hỏi thôi, hỏi các nhân chứng, hỏi bị cáo, hỏi cả ông công tố. Xin các bạn hỏi tôi như là một dịp để chúng ta rèn luyện kĩ năng chất vấn của một luật sư. Biết đâu nay mai trong số các bạn có nhiều người lại trở thành những nghị sĩ của nước CHXHCN Việt Nam, sẽ làm cho các Bộ trưởng phải điêu đứng vì phải chuẩn bị đủ trí khôn để trả lời các bạn.
http://files.chungta.com/Image.aspx/image=pjpeg/213af7f34f714615abf9fb80c6742897-M2.jpg/M2.jpgSinh viên (SV): Có sinh viên nhận xét về cơ chế đào tạo của Việt Nam rằng "khi dắt một con bò vào cổng trường đại học, con bò đấy trở thành một sinh viên, và khi dắt sinh viên ấy ra khỏi cổng trường đại học, sinh viên ấy là một con bò". Theo ông tại sao tất cả các cơ sở luật học đều không đáp ứng đủ nhu cầu, và tất cả các sinh viên luật ra trường đều không dám tự vỗ ngực và nói rằng Tôi tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội?
NTB: Tôi rất yêu quý và trân trọng những sinh viên không bước vào trường đại học với tư cách là một con bò. Tôi vô cùng trân trọng và chỉ tuyển dụng những sinh viên nào ra khỏi cổng trường đại học mà không biến mình thành một con bò. Thưa các bạn, cuộc đời của các bạn đẹp lắm, đôi khi các bạn cưỡi lên lưng nó mà không biết giá trị của nó. Cách đây 40 năm, khi tôi là sinh viên, chúng tôi không có hội trường như thế này, không có đèn chiếu như thế này, không có micro để có thể bày tỏ nguyện vọng của mình đối với thầy giáo. Nhưng các thầy giáo của tôi và thế hệ đại học của tôi rất nhiều người trở thành những Bộ trưởng. Bộ trưởng Đỗ Quốc Sam, Bộ trưởng Đặng Hữu là thầy của tôi. Thế hệ của chúng tôi không có đèn chiếu, không có hội trường để ngồi và không có micro để nói to được ý nghĩ của mình nhưng chúng tôi vẫn buộc phải tự tin. Các bạn trẻ thân mến, tôi không nói với tư cách là một kẻ đãi bôi khi trả lời các bạn, bởi các bạn thuộc thế hệ của con cái tôi, tôi không thể trả lời xã giao đối với con tôi được. Điều đầu tiên tôi phải nói với các bạn là không được phép coi thường chính cuộc đời của mình. Mình phải lái cuộc đời của mình, phải tận dụng không gian tự do mà mình có, tận dụng tất cả những gì mình có được trong tay để sống như một con người và không bao giờ được phép, kể cả trong giấc mơ nghĩ mình là một con bò bước vào hay bước ra từ cổng trường đại học.
SV: Thưa ông, ông có thể cho sinh viên trường Luật một lời khuyên ngay từ khi còn đang học tập trong trường Luật làm thế nào để khi ra trường có thể giúp đất nước hội nhập với thế giới?
NTB: Chúng ta có những bằng chứng vô cùng đẹp về những luật sư. Chúng ta đã có luật sư Phan Anh, ông ta đã làm nên một sự nghiệp vĩ đại, ông ta trở thành không chỉ một nhà luật học mà còn là một nhà văn hóa. Chúng ta có luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã làm quyền Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam. Chúng ta có luật sư Trịnh Đình Thảo, chúng ta có nhiều luật sư là bằng chứng sự thành đạt của nghề luật, của luật sư trong bất kỳ điều kiện gay gắt, khốc liệt nào của cuộc sống. Cái tệ nhất của sinh viên bây giờ là chỉ nghĩ xem học xong ra mình làm gì, mình kiếm việc như thế nào mà không học đủ để có năng lực thuyết phục cuộc đời rằng nếu các anh không tuyển mộ tôi thì các anh thiệt. Có một bạn sinh viên trường Kinh tế Quốc dân hỏi tôi rằng "Thưa ông, có phải khi ra trường sinh viên phải có được cái mà người ta cần mua không?" Tôi đã trả lời rằng không phải. Anh bán cái người ta cần, nhưng song song với việc đó anh phải thuyết phục mọi người rằng cái mà tôi có quan trọng hơn cái anh cần, bởi vì cái mà tôi có ngày mai anh mới biết rằng anh cần. Cho nên, tôi nghĩ rằng sinh viên một trường đại học như Đại học Luật phải tự tin. Tôi khuyên các bạn phải tự tin, phải tự hào về nghề nghiệp của mình. Năm 1990 tôi đến New York và được tổ chức nói chuyện tại Đoàn Luật sư New York. Không có đoàn luật sư nào trên thế giới này đem so được với Đoàn Luật sư New York, công ty luật nhỏ nhất ở New York cũng phải có 600 luật sư. Việt Nam còn rất lâu nữa mới có được công ty luật có 600 luật sư. Thế mà tôi đã nói chuyện ở đấy, tôi nói rằng tôi sẽ xây dựng một công ty luật chuyên nghiệp đầu tiên ở Việt Nam nhưng lúc ấy tôi chưa phải là luật sư, tôi chưa học luật. Tôi chưa học luật mà tôi có ý chí phải thành lập một công ty luật, phải trở thành luật sư, phải kiếm tiền. Với tư cách là một công ty luật, tôi rất ít khi lấy tiền người Việt mà tôi lấy tiền của những công ty có trụ sở ở những nơi như New York. Nếu bạn hỏi tôi khuyên bạn như thế nào thì lời khuyên của tôi là hãy tự hào về chỗ ngồi học của mình, hãy học hết mình.
Tuy nhiên, làm như thế nào để cho việc học trở nên hấp dẫn thì chúng ta có hai cái vướng. Thứ nhất là chúng ta có được học cái chúng ta muốn học không, bởi vì ngay cả nhà trường hiện nay cũng chưa tự do. Thứ hai là liệu học tất cả những cái mà nhà trường dạy rồi thì còn thời lượng để học thêm những thứ mà cuộc đời xác nhận rằng mình cần phải có không? Khi tôi còn là sinh viên năm thứ nhất, người yêu của tôi tức là vợ tôi bây giờ học Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm. Học ở khoa văn thì có nhiều anh con trai tán hay lắm, mà tôi thì học trường Xây dựng. Một anh sinh viên Xây dựng vụng về thì làm thế nào có được năng lực để có thể bảo vệ cô bạn gái mà mình gửi ở khoa văn ấy. Tôi nghĩ rằng mình phải đi học văn, và tôi đã học văn tại chức tại khoa ngữ văn của một trường đại học. Khi chúng ta yêu cái gì thì chúng ta có thể bất chấp tất cả mọi thứ để làm miễn là chúng ta không làm việc xấu. Không có cách gì khác cả, nếu bạn muốn hấp dẫn, nếu bạn muốn tất cả mọi người nhìn bạn thèm thuồng bởi những năng lực bạn có thì bạn phải lao động một cách cực kỳ vất vả. Không có lối thoát nào cho một con người lười biếng cả. Không có một người anh hùng nào chết trên giường cả, hầu hết mọi người anh hùng đều chết trên trận địa. Muốn trở thành một kẻ hấp dẫn, uyên bác thì phải học, thậm chí học đến đổ máu cam chứ không phải học một cách thông thường. Không biết các bạn đã có ai đổ máu cam vì học chưa nhưng tôi đã từng có một thời kỳ như vậy.
SV: Với sinh viên mới ra trường khi đi tìm việc rất khó bởi vì các nhà tuyển dụng thường đòi hỏi phải có kinh nghiệm ít nhất là 1 đến 2 năm. Vậy theo ông, khi ra trường muốn làm việc với tư cách là một luật sư thì sinh viên Luật cần phải có những phẩm chất gì để có thể theo đuổi được mong ước của mình và vượt qua được yêu cầu về kinh nghiệm?
NTB: Đã có rất nhiều sinh viên hỏi tôi câu này, rằng bây giờ đến đâu người ta cũng đòi hỏi 2 năm kinh nghiệm. Ở Đại học Tài chính và Ngân hàng, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Hà Nội sinh viên cũng hỏi tôi như vậy. Tôi có trả lời họ như thế này: Cơ sở nào tuyển người mà đòi hỏi sinh viên mới ra trường phải có 2 năm kinh nghiệm thì nó ngốc nghếch giống như việc đi hỏi vợ mà đòi hỏi người đàn bà mình lấy có hai năm kinh nghiệm về đàn ông. Tôi không quan niệm các bạn phải có 2 năm kinh nghiệm và tôi kêu gọi xã hội không nên đặt ra cái đòi hỏi ấy đối với sinh viên mới ra trường, bởi vì toàn bộ sức sáng tạo của con người là ở chỗ cái miền ký ức, cái tiềm thức của nó được chất chứa một cách chặt chẽ tất cả các kiến thức được đào tạo một cách căn bản tại nhà trường chứ không phải là kinh nghiệm chạy sô. Tất cả những người nào có năng lực chạy sô khi còn là sinh viên thì dường như dễ xin việc ở giai đoạn ban đầu nhưng cực kỳ khó phát triển và thành đạt ở giai đoạn sau. Nếu muốn trở thành một luật sư chuyên nghiệp thì không nên sốt ruột như bạn vừa nói. Tất cả những sự chuyên nghiệp đều được hình thành một cách rất tự nhiên. Ở công ty tôi có anh Đỗ Trọng Hải là cựu sinh viên trường luật. 12 năm trước đây khi anh Hải gia nhập công ty của tôi, có người bảo anh chàng quê mùa này thì làm thế nào để đào tạo được. Vậy mà bây giờ anh Hải đã là giám đốc Công ty Luật của chúng tôi và là Phó chủ tịch của InvestConsult Group (http://www.investconsultgroupservices.com/). Tôi thấy có nhiều người trông bóng bẩy lắm, nhiều người hào hoa phong nhã lắm nhưng không trụ được bởi vì những người đó không có được phẩm chất của một người lao động tích cực, cần mẫn và kiên nhẫn. Các nhà luật học quan trọng đều hết sức cần mẫn và kiên nhẫn. Tất cả những người láu tôm, láu cá có lẽ dễ xin việc ở giai đoạn đầu nhưng khó thành đạt về lâu về dài. Với tư cách là một người 60 tuổi và là một trong những người làm nghề luật có thu nhập cao theo tiêu chuẩn quốc tế, tôi khuyên các bạn hãy kiên nhẫn, hãy từ tốn. Đừng sốt ruột, các bạn sẽ đạt được những sự phát triển mà ngay bây giờ các bạn không ý thức được, còn nếu sốt ruột thì bạn sẽ trở thành người đắt hàng nhưng không phải là người có năng lực phát triển, và cũng không có triển vọng. Phải học một cách kiên nhẫn, không có lối thoát nào khác cả. Tất cả những ai đòi hỏi bạn phải có 2 năm kinh nghiệm thì bạn đừng đến làm cho họ, bởi những người đòi hỏi một cách vô lý như vậy sẽ không đủ trí tuệ sử dụng khả năng của các bạn.
SV: Thưa ông, ông vừa nói về một phẩm chất của tuổi trẻ Việt Nam là phải tự tin. Với kinh nghiệm từng trải của ông, ông có thể cho biết một người tự tin là người như thế nào?
NTB: Một người tự tin là một người không nghi ngờ về khả năng của mình, không nghi ngờ về phẩm hạnh của mình. Một người tự tin là một người không nghi ngờ về sự chính xác trong mỗi một hành vi mình làm hàng ngày. Chúng ta đừng đi tìm điều gì huyền bí trong con người mình mà hãy lắng nghe tâm hồn mình xem mình có phải là người lương thiện không, mình có phải là người tốt không, hãy kiểm nghiệm phẩm hạnh của mình thông qua sự yêu mến, sự san sẻ các bí mật của người khác xung quanh mình. Xác định giá trị của một người là người khác. Người khác làm cho mình tự tin chứ không phải chính mình. Sự yêu mến, sự kính trọng và sự xác nhận về tính chính xác của các hành vi của mình của người khác dần dần trở thành nguyên liệu cho lòng tự tin của bạn, còn nếu không thì là chủ quan chứ không phải là tự tin.
SV: Thưa ông, trong lúc học ở trường thì sinh viên nói chung học lý thuyết rất nhiều nhưng cơ hội thực hành rất ít. Để tự tin hơn thì sinh viên phải có việc làm thực tiễn, như các sinh viên nước ngoài vẫn làm việc bán thời gian. Vậy các công ty luật như công ty của ông có thể tạo điều kiện cho sinh viên học việc không?
NTB: Tôi sẵn sàng tạo điều kiện cho các bạn, bạn nào thấy cần phải thực tập, thậm chí cần phải lao động ngoài giờ trong công ty của tôi thì đến gặp anh Đỗ Trọng Hải. Tuy nhiên điều mà bạn giải thích khi đặt câu hỏi thì lại sai. Sinh viên nước ngoài họ không có tiền thì họ phải đi lao động để kiếm tiền. Họ vừa học vừa làm chứ không phải vừa học, vừa làm nghề. Đại bộ phận các sinh viên ở nước ngoài làm thêm là đi rửa bát, đi dọn phòng ở khách sạn, đi quét lá trong công viên... Sinh viên trường Harvard cũng làm như vậy. Những lao động như thế không liên quan gì đến luật học cả nhưng nó có một giá trị khác, đó là làm cho anh hiểu đời, mà luật học là khoa học để điều khiển hành vi của con người trong cuộc đời của nó. Vậy thì hiểu đời cũng quan trọng như hiểu lý thuyết hay hiểu sách vở, cho nên thường những sinh viên nghèo học rất giỏi bởi vì họ có cơ hội để hiểu đời trước những sinh viên có hoàn cảnh thuận lợi về mặt tài chính. Đối với họ, đấy không phải là phương pháp hay cách thức gì cả mà là bắt buộc. Tuy nhiên phải coi chừng. Con trai út của tôi năm nay đang học năm thứ ba khoa PPE tức là khoa triết học và kinh tế học, tại trường Đại học Kinh tế London. Hè năm ngoái cậu ấy đến ngân hàng HSBC của TP Hồ Chí Minh, thực tập tại phòng nhân sự Head-hunting Department. Khi quay lại trường học thì cậu ấy luôn luôn nói về câu chuyện đi tuyển người. Tôi hỏi sau này học xong con định làm gì. Cậu ấy trả lời rằng chắc con làm nhân sự thôi. Cái việc mình làm trước khi tốt nghiệp đại học có thể có lợi nhưng nó gây ra một định kiến không phải có lợi hoàn toàn đối với một sinh viên. Chúng ta học nhiều thứ, chúng ta có một phổ rất rộng tất cả các cách tiếp cận của chúng ta đối với công việc. Trói mình vào một khía cạnh nào đó khi trí tuệ của mình, kiến thức của mình chưa đủ để lựa chọn đôi khi là một bất lợi. Cho nên, các bạn cần phải nhớ điều quan trọng nhất để một con người phát triển một cách lâu dài là tự do, không trói mình vào những kinh nghiệm ban đầu nào cả. Đấy là điều vô cùng quan trọng đối với tương lai của các bạn.
SV: Năm nay cháu là sinh viên năm cuối trường luật, ra tết cháu có nhận một đề tài "Sự gia nhập của Việt Nam vào tổ chức WTO với tư cách là thành viên chính thức". Cháu muốn bác chia sẻ cho cháu một số kiến thức để cháu có thể thực hiện thành công đề tài này và xin bác đánh giá về sự phát triển của Việt Nam sau khi gia nhập WTO?
NTB: Tôi sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm của tôi về WTO. Bạn có thể liên hệ với công ty của tôi, tôi sẽ cung cấp cho bạn những thông tin tóm tắt về tổ chức WTO. Tôi có thể cung cấp những bài viết mà các anh các chị đã ra trường cũng lâu rồi viết về khái niệm này. Phần thứ hai câu hỏi của bạn là tương lai của Việt Nam thế nào sau khi gia nhập WTO. Đáng ra bạn phải đặt câu hỏi như thế này: "Liệu Việt Nam có tương lai không nếu không gia nhập WTO?" Việt Nam có một tương lai giống như 149 nước đã gia nhập WTO, tức là phải lao động vất vả, phải nâng cao sức cạnh tranh của mình, phải hoàn thiện thể chế của mình để giúp con người của mình phát triển. Nhân dân phát triển chính là phát triển sức cạnh tranh của một quốc gia. Một đất nước mà nhân dân không phát triển được thì nước đấy không có sức cạnh tranh. Gia nhập WTO là một thất thiệt đối với những quốc gia không có năng lực cạnh tranh. Còn nhân dân có năng lực cạnh tranh mà đất nước không chịu gia nhập WTO thì nhân dân thất thiệt vì không có cơ hội để đua tài, để làm ăn.
Để trả lời tương lai của Việt Nam như thế nào thì cũng giống như 149 quốc gia kia, có thể bình thường nếu dân tộc chúng ta là một dân tộc bình thường, có thể vĩ đại nếu dân tộc chúng ta là một dân tộc vĩ đại. Dân tộc chúng ta đã từng vĩ đại trong nhiều loại hình hoạt động khác, liệu dân tộc của ta có thể trở thành một dân tộc vĩ đại trong thời đại toàn cầu hoá không? Cái đó lệ thuộc rất nhiều vào việc nâng cao sức cạnh tranh, mà một trong những công cụ, một trong những hoạt động cơ bản để nâng cao sức cạnh tranh của xã hội là xây dựng một thể chế có thể làm cho con người phát triển một cách toàn diện. Người giúp nhà nước xác lập một thể chế hỗ trợ con người là các luật sư, là các cử nhân luật. Tôi nói như vậy là hoàn toàn có cơ sở chứ không phải là để đãi bôi các bạn. Chỉ có những người nào đủ gan và có một sự hiểu biết tối thiểu nào đó mới dám nói chuyện với sinh viên trường luật chứ không phải dễ. Lúc chưa làm luật sư tôi rất sợ các cử nhân luật. Vợ tôi là một nhà báo, trưởng ban biên tập bạn đọc của báo Phụ nữ Việt Nam từ năm 1976 cho đến khi về hưu, và có thời kỳ viết bài rất dài trên mục tâm sự với tên Thanh Tâm. Vợ tôi rất nhiều năm làm hội thẩm nhân dân để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Với tư cách là hội thẩm nhân dân, mặc dù là một luật sư không chuyên nhưng lập luận của bà ấy ghê lắm. Tôi kiên quyết học luật một cách có bài bản một phần là bởi sợ khả năng lý sự của vợ. Có lẽ cái đấy cũng là một yếu tố run rủi tôi đến với nghề luật.
SV: Thưa ông, nước ta đã có 20 năm đổi mới rồi nhưng kinh tế vẫn phát triển thấp, vậy 20 năm đổi mới ấy đã tích lũy đủ về lượng để biến đổi về chất chưa? Thứ hai, vấn đề quan trọng nhất của doanh nghiệp Việt Nam và nông dân Việt Nam là thiếu thông tin về WTO, vậy ông có cách nào giúp doanh nghiệp và nông dân có được thông tin không? Thứ ba, theo ông làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh của nông dân Việt Nam khi gia nhập WTO?
NTB: Chúng ta đổi mới 20 năm, chúng ta đã khá hơn trước đây. Nhưng có những dân tộc khi gia nhập WTO người ta đã đổi mới 100 năm, người ta đổi mới liên tục, cho nên, đổi mới đã 20 năm rồi là một đổi mới muộn. Chúng ta có thể tự hào vì chúng ta đã đổi mới nhưng chúng ta không thể tự hào là đã đổi mới lâu quá rồi. Tôi nói rằng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam khi hội nhập là rất thấp. Khả năng cạnh tranh là gì? Khả năng cạnh tranh chính là khả năng có thể huy động được các nguồn lực. Xã hội chúng ta là xã hội chưa có nguồn lực có khả năng cạnh tranh, bình quân thu nhập đầu người mới 400-500 USD/năm thôi, bây giờ nghe nói là lên được 700 USD nhưng tôi chưa tin con số này. Tuy nhiên, nếu là 700 USD đi nữa thì vẫn rất thấp. Chúng ta là một nước có chỉ tiêu phát triển rất thấp so với toàn bộ điều kiện phát triển của nền kinh tế thế giới, vì thế chúng ta còn phải cố gắng nhiều lắm. Không thể tự hào về 20 năm đổi mới được, không thể ỉ lại vào việc đã đổi mới tới 20 năm. Mặc dù 20 năm là một thời gian rất dài đối với mỗi một cá nhân nhưng đối với sự phát triển của một dân tộc thì nó ngắn và chưa đủ.
Về câu hỏi thứ hai của bạn, tôi nghĩ rằng, phổ biến thông tin về WTO là một khái niệm có vẻ mang đậm màu sắc của nền kinh tế bao cấp, bởi vì nói cho cùng thì thông tin là có và Thủ tướng Chính phủ đã lệnh cho Bộ Thương mại phải đưa nó lên mạng, cho nên những ai cần thì phải tự đi kiếm. Bây giờ chúng ta không thể làm như cách đây 20 năm chúng ta làm. Nếu bây giờ mà sáng nào các phát thanh viên ở phường cũng đọc văn bản gia nhập WTO dài cả ngàn trang thì các bạn sẽ thấy rất phiền. Cho nên những ai cần thì phải đi tìm và cần phải phổ biến lên báo chí để mọi người biết rằng khi cần thì tìm nó ở đâu. Nhưng ngay cả khi biết chỗ tìm rồi thì cũng phải nói thật với các bạn rằng tìm thấy rồi mà đọc nó cũng chưa chắc đã hiểu. Tôi tin rằng ngay cả luật Việt Nam thôi mà đưa về nông thôn thì người ta cũng không hiểu, vì thế mới cần một đội ngũ chuyên nghiệp là luật sư. Cho nên, tôi nghĩ rằng chính sinh viên của trường luật là một đội ngũ hết sức hùng hậu để học luật WTO và trở thành người cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp để họ hiểu về WTO. Còn nếu phổ biến thông tin để các doanh nghiệp hiểu thì tôi không tin là họ hiểu đúng và không tin là họ hiểu đủ để có thể cạnh tranh. Đây là một bộ luật hết sức chuyên nghiệp đòi hỏi năng lực chuyên nghiệp mới có thể hiểu được, vì thế nguồn thông tin thì có thể có nhưng tôi không tin rằng phổ biến rộng rãi đến phường là một cách tốt, giống như trước đây chúng ta vẫn làm.
Về câu hỏi thứ ba, nông dân Việt Nam muốn cạnh tranh tốt thì cũng phải làm như nông dân các nước khác, chẳng có cách nào khác cả. Một trong những điều kiện mà chính phủ chúng ta rất khó xử khi đàm phán để gia nhập WTO chính là chấm dứt tình trạng bảo hộ đối với các sản phẩm nông nghiệp. Các bạn biết rằng, ở châu Âu người ta không bỏ phiếu phê chuẩn Hiến pháp chung châu Âu là bởi sự bất mãn của người nông dân châu Âu đối với các điều khoản về trợ cấp nông nghiệp của EU. Tất cả các vòng đàm phán của WTO được diễn ra một cách cực kỳ gay gắt chủ yếu bởi vấn đề trợ cấp nông nghiệp. Cho nên, chúng ta gia nhập WTO thì người nông dân phải vươn lên. Người nông dân vươn lên không có nghĩa là người nông dân phải đi học luật WTO. Người nông dân vươn lên là người nông dân tìm ra những kẻ chuyên nghiệp để biến nông thôn đơn giản thành một nông thôn có chất lượng thương mại. Tôi đã từng nói chuyện với đồng chí Phạm Chánh Trực là Phó ban Kinh tế Trung ương Đảng, ông ấy hỏi tôi giống như bạn hỏi: Làm thế nào để nâng cao các giá trị thương mại của các sản phẩm nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long? Tôi trả lời rằng phải thay thế bằng các hình thức khác, bằng các công ty nông nghiệp, các công ty thương mại nông thôn hay là thương mại trên các sản phẩm nông nghiệp. Bây giờ chúng ta đã bắt đầu có các sản phẩm bán ra với tư cách là sản phẩm có chất lượng thương mại chứ không phải là những sản phẩm có chất lượng thuần nông. Tự do hoá thương mại tức là tạo điều kiện để thương mại phát triển một cách không biên giới, đã không biên giới thì mọi người đều giống nhau, mọi người muốn giống nhau thì mọi người phải học tập để cho giống nhau. Người nông dân Việt Nam cũng phải làm như vậy, còn làm bằng cách nào thì tôi nghĩ là xây dựng các công ty kinh doanh ở nông thôn là một trong những cách tốt nhất. Cần phải thu hút tất cả những nhà đầu tư, tất cả những người có tiền, tất cả những người có trí khôn đô thị đầu tư vào nông thôn để lập ra những công ty buôn bán các sản phẩm của nông dân.
SV: Ông có nói rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam là rất thấp. Nếu không có khả năng cạnh tranh thì các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ làm ăn thua lỗ và phá sản. Vậy việc gia nhập WTO có thực sự giúp ích cho doanh nghiệp Việt Nam không? Theo ông, ở Việt Nam hiện nay những ngành nào có thể chủ động khi hội nhập?
NTB: Tôi nói rằng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là thấp, chứ tôi không nói sức cạnh tranh của bất kỳ ngành nghề nào của Việt Nam là thấp. Khi nào anh có sức cạnh tranh cao thì anh cạnh tranh, cuộc sống bắt anh phải cạnh tranh. Nếu anh liều mạng cạnh tranh khi anh không đủ tiềm lực thì công ty anh phá sản. Người ta cường điệu việc phải cạnh tranh quốc tế khi chúng ta gia nhập WTO nhưng thực ra WTO là nơi chỉ để giải quyết các khúc mắc trong quá trình cạnh tranh toàn cầu. Trước khi chúng ta gia nhập WTO thì chúng ta đã cạnh tranh rồi, đã buôn bán quốc tế rồi. Các bạn đều biết rằng, lộ trình để chúng ta nâng cao sức cạnh tranh là tới 12 năm. Chúng ta có lộ trình, cho nên chúng ta cứ bình tĩnh mà làm. WTO không phải là một trận vỡ đê, không phải là một cơn lũ, không phải là một trận bão. Nó là một làn gió rất mát, nhưng chúng ta muốn không bị cảm thì chúng ta phải có áo quần tử tế và chúng ta chuẩn bị dần. Không phải gia nhập WTO là cạnh tranh ngay từ đây lên đến Lào Cai đâu. Nó không khốc liệt như thế vì trên thế giới này có 150 nước gia nhập WTO thì Việt Nam là nước thứ 150 mà thế giới cũng chỉ có khoảng 200 nước, có nghĩa là chỉ có 50 nước nữa chưa gia nhập thôi. Người ta sống được thì mình sống được, người Việt Nam mình có đến nỗi nào đâu. Cho nên, tôi nghĩ rằng bạn không nên quá băn khoăn chuyện ấy.
Trước đây khi chúng ta đóng cửa lại, chúng ta thấy ít tự do, chúng ta tiếp xúc với người nước ngoài khó, chúng ta đọc sách cũng khó, sách dịch không có, nhưng bây giờ cái gì cũng có, tức là hội nhập đem lại rất nhiều may mắn. Khi tôi còn là sinh viên làm gì có những bộ quần áo đủ màu sắc rực rỡ như vườn hoa trong hội trường như thế này. Tôi còn nhớ khi tôi đã trở thành quyền chủ nhiệm một bộ môn nghiên cứu tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải, một năm tôi có tiêu chuẩn để mua một, hai mảnh vải may quần. Có lần tôi ra cửa hàng bán vải ở Cầu Giấy, khi xếp hàng đến lượt thì người bán hàng nói rằng chỉ còn mỗi mảnh vải màu tím thôi. Tôi nói rằng chỉ có đàn ông mắc bệnh thần kinh thì mới mặc quần màu tím. Người bán hàng trả lời rằng chỉ còn mỗi mảnh này là hết, anh không lấy thì thôi. Có một người đứng xếp hàng sau tôi nói với tôi rằng: anh cứ lấy đi, vì chúng tôi ở Bộ Y tế, chúng tôi biết rằng có đến 75% người Việt Nam có dấu hiệu thần kinh phân lập. Nhưng tôi vẫn sống được đến ngày nay, vẫn có cơ hội để nói chuyện với các bạn. Chúng ta cứ đi qua tất cả các nỗi sợ chúng ta sẽ thấy không sợ nữa. Trong ký túc xá của con trai tôi ở bên Anh có một cửa hàng bán quần áo có một cái ma-nơ-canh mà tất cả các sinh viên khi đi qua đều cảm thấy sợ, nhất là lúc khuya khi có ánh đèn chiếu xuống cái ma-nơ-canh ấy. Con tôi cũng sợ nhưng nó bảo với tôi là mọi người sợ thì con cũng sợ nhưng con nghĩ rằng tại sao lại kéo dài nỗi sợ một cách ngớ ngẩn như vậy. Một hôm con đến đứng trước cái ma-nơ-canh ấy và nhìn nó trừng trừng trong nửa tiếng đồng hồ, hôm sau con không thấy sợ nữa. Chúng ta phải mở mắt ra để đối diện với tất cả các thách thức, để thắng nỗi sợ, để "sợ" không còn là ngôn ngữ mà chúng ta dùng để giao tiếp với sự hội nhập nữa.
KhongTu
05-05-2009, 04:53 PM
Nguyễn Trần Bạt (NTB): Xin chào tất cả các bạn! Tôi không phải là một nhà hàn lâm, tôi không đi tìm kiếm cái cảm giác thần phục của sinh viên đối với mình như là một nhà hàn lâm mà tôi đang cố gắng làm trẻ mình, làm mới mình, làm sinh động hoá trí khôn của mình thông qua giao lưu với các bạn. Giao lưu là một nghệ thuật hết sức tích cực, nghệ thuật đấy tạo ra tất cả mọi sự phát triển vốn có của đời sống tinh thần. Vì thế cho nên, tôi là người chống lại tất cả những gì áp đặt lên hoạt động này, nhất là với sinh viên. Trong công ty của tôi có khoảng 300 nhân viên rải rác ở Hà Nội, Sài Gòn, Cần Thơ. Cách của tôi là khuyến khích sự sáng tạo, khuyến khích tự do đối với các nhân viên của mình, tự do đến làm việc cho tôi nếu anh cảm thấy tự tin và tự do rời công ty của tôi nếu anh cảm thấy bất hạnh, anh cảm thấy không hạnh phúc. Vì thế, hôm nay, tôi sẽ không giảng gì, tôi sẽ không làm gì như một nhà hàn lâm mà tôi sẽ kể với các bạn về việc tôi hình thành doanh nghiệp của tôi như thế nào Tuy không là nhà hàn lâm nhưng tôi có viết một vài cuốn sách cũng gây được sự chú ý và thậm chí nổi giận của nhiều người. Trong xã hội của chúng ta, chỉ nguyên việc gây ra được một sự nổi giận không chết người đã là có giá trị tích cực. Tất nhiên, những sự nổi giận chết người thì không khôn ngoan nhưng sự nổi giận cần thiết tạo ra sự sinh động của cuộc đời mình thì tôi nghĩ là chúng ta nên làm, bởi vì chúng ta phải chứng tỏ chúng ta còn sống, còn sống thì mới làm được cho người khác nổi giận một chút. Nói như vậy có nghĩa là khi các bạn đặt câu hỏi cho tôi thì cũng không cần thiết phải né tránh những điều mà các bạn cho là phạm húy hoặc cho là có chất lượng hàn lâm. Tôi không cho mình là một nhà hàn lâm nhưng tôi nghĩ rằng tôi có thể đối thoại với các bạn ở một chừng mực phổ thông của khái niệm này.
Cái đáng giá nhất trong cuộc đời của tôi không phải là tạo ra một công ty mà là tạo ra được một nghề. Tôi là người Việt Nam đầu tiên tạo ra một loại nghề nghiệp, đó là nghề tư vấn về đầu tư và phát triển các quan hệ thương mại. Công ty này được thành lập trước khi Chính phủ ban hành nghị định 139/HĐBThướng dẫn thi hành luật đầu tư nước ngoài. Nó ra đời tại Bộ Khoa học và Công nghệ, trước khi thành lập Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư một năm. Vào thời điểm tôi bắt đầu hoạt động có nhiều nhà lãnh đạo gọi cái nghề mà tôi đang làm bây giờ là nghề cai đầu dài, nghề môi giới. Và đã có một thời Chính phủ rất nổi giận vì có một nghề nghiệp mà mình không phân loại và không kiểm soát nó được. Khi tôi lập công ty đầu tiên về lĩnh vực này, tôi phải thuyết phục được họp báo. Có 27 vị đại sứ đã đến dự cuộc họp báo của tôi, trong đó tôi có mời cả Bộ trưởng là giáo sư Đặng Hữu, thầy giáo dạy tôi tốt nghiệp đại học. Tôi nhớ rằng Đại sứ Liên hiệp Vương quốc Anh lúc bấy giờ hỏi tôi: "Nếu chúng tôi cần dứa, ông làm thế nào để cung cấp dứa cho chúng tôi?" Tôi nói rằng: "Tôi sẽ phải nghiên cứu xem tỉnh nào có dứa, sau đó tôi sẽ thông báo với các công ty của ngài rằng nơi nào có dứa, dứa đấy sẽ chín vào mùa nào và hệ thống vận tải từ các cánh đồng dứa ra ngoài thuận lợi như thế nào, giá cả của nó và các điều kiện khác..." Sau đó tôi có nghe Bộ trưởng nói rằng "Đến Bộ cũng không nắm nổi việc ấy thì làm sao mà một công ty chỉ có 3, 4 người làm được." Cách đây mấy năm, khi còn làm Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, giáo sư có mời công ty của chúng tôi đến trình bày về vấn đề làm thế nào để quản lý được toàn bộ quá trình bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam. Tôi đã uỷ quyền cho các Phó Tổng giám đốc của tôi đến trình bày. Buổi nói chuyện ấy rất được các nhà lãnh đạo của chúng ta hoan nghênh và nó góp phần làm tiền đề cho việc Quốc hội của chúng ta phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ.
http://files.chungta.com/Image.aspx/image=pjpeg/bd474e64def74ef58eeaed65866110ea-Nguyen-Tran-Bat.jpg/Nguyen-Tran-Bat.jpg Nguyễn Trần Bạt là người sáng lập kiêm chủ tịch và Tổng Giám đốc InvestConsult Group (http://www.investconsultgroupservices.com/). Ông Bạt có bằng cử nhân luật của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và bằng kỹ sư xây dựng dân dụng của Đại học xây dựng Hà Nội. Ông Bạt được coi là người đầu tiên xây dựng một công ty Việt Nam tư vấn chuyên nghiệp về đầu tư và kinh doanh ngay sau khi Việt Nam ban hành chính sách “Đổi mới” năm 1987 mở cửa nền kinh tế Việt Nam cho các hoạt động đầu tư nước ngoài. Ông Bạt là tác giả của rất nhiều bài báo, sách và các công trình nghiên cứu tập trung vào nội dung làm thế nào Việt Nam phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá, ông là tác giả 3 cuốn sách viêt về lý luận chính trị và phát triển: “Văn hoá và Con người (http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Nguyen_Tran_Bat-Dam_me_quan_sat_cuoc_song/)”, “Suy tưởng (http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Sach-Hay/Suy_Tuong/)” và “Cải cách và sự phát triển (http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Sach-Hay/Cai_cach_va_Su_phat_trien/)”. Ông Bạt được nêu danh trong cuốn Barons Who's Who in Vietnam và Barons Who's Who in Asia Pacific như một luật sư và nhà tư vấn xuất sắc.
Cũng phải nói với các bạn về một số nét xuất xứ của tôi. Tôi là kỹ sư cầu đường, tôi tốt nghiệp Đại học Bách khoa, Khoa Xây dựng. Tôi vào đại học năm 1964, tốt nghiệp năm 1972, lý do là giữa đó có quãng thời gian đi bộ đội. Sau đó tôi lại vào bộ đội một lần nữa với tư cách là sĩ quan công binh, làm việc tại Cục công binh 559, thuộc Binh đoàn Trường Sơn. Tôi rất tự hào khi tôi đến Mỹ kể câu chuyện tôi đã từng tham gia làm đường Hồ Chí Minh. Không có một người Mỹ nào lại ghét một người đã từng làm đường Hồ Chí Minh để tạo ra tiền đề giao thông vận tải cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi đã kể lại chuyện ấy một cách rất đàng hoàng tại New York, tại Washington, tại Los Angeles, tại San Francisco, cả tại trường Harvard nữa. Năm 1976, tôi rời khỏi quân đội để về làm việc tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải, và trở thành quyền chủ nhiệm một bộ môn cho đến khi tôi rời Viện vào năm 1985, với một lý do hết sức riêng tư. Lý do riêng tư ấy gồm hai khía cạnh. Vào khoảng thời gian ấy, tôi đi thi làm nghiên cứu sinh. Các bạn bây giờ không biết được rằng thi nghiên cứu sinh vào cái thời ấy là cuộc thi khủng khiếp đến mức nào. Số lượng những người dự thi trong một cuộc thi như vậy ngồi kín hội trường chính của trường Đại học Kinh tế Quốc dân nhưng số lượng người thi đỗ chắc chắn không bằng một dãy ngồi trong phòng học này. Tỷ lệ thi đỗ vào khoảng 1/100. Tôi đã thi đỗ, thế nhưng đến khi đi thì người ta không cho đi vì cho rằng tôi là kẻ kiêu ngạo. Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí, vào lúc ấy, tôi có một đứa con gái sinh năm 1974, nó bị căn bệnh không sống được, đó là bệnh máu trắng. Thế là tôi đành từ bỏ việc đi nghiên cứu sinh. Để chữa căn bệnh ấy trong những điều kiện hết sức hạn hẹp ở Việt Nam, mỗi một ngày cũng cần có khoảng 30 đô la tiền thuốc. Với tư cách là một cán bộ cấp phòng (Bộ môn của tôi tương đương với một phòng) thì không có cách gì để có đủ tiền cả và tôi nghĩ là cần phải kiếm ra tiền. Để cứu con mình tôi buộc phải từ bỏ sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình và đi làm kỹ sư xây dựng, rồi về phụ trách công việc xây dựng tại Cục Sở hữu Công nghiệp Việt Nam (bây giờ là Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam). Các bạn cũng biết rằng tham nhũng bây giờ tạo ra sự giầu có, nhưng tham nhũng vào đầu những năm 80 thì chỉ cải thiện đời sống. Không biết định nghĩa thế nào là tham nhũng nhưng tôi cảm thấy cuộc sống của mình tốt hơn một chút khi tôi làm việc trực tiếp. Các nhà khoa học thì không có công tác phí vì các nhà khoa học chẳng đi đâu bao giờ, nhưng làm nghề xây dựng thì hay phải đi nên có công tác phí và có sự chắp vá của tất cả những gì gom góp được nhờ sự phát hiện các kẽ hở của công tác quản lý nhà nước để có thể sống được. Thế là tôi cũng có đủ tiền thuốc để chữa bệnh cho con nhưng không cứu được nó. Tôi mất con gái của tôi vào cuối năm 1985. Lúc bấy giờ giá một ca mổ để ghép tuỷ ở Paris là 200.000 fran, ở Budapest là 30.000 đô la. Tôi không thể có số tiền ấy và tôi đành để mất đứa con gái. Phải nói là cho đến bây giờ, vĩnh viễn không bao giờ vết thương ấy được liền trong đời sống tinh thần của tôi. Tôi có nói với con gái tôi rằng tôi là một người cha tồi vì không cứu được con. Tôi không có tiền, tôi không sáng tạo ra cái gì để có thể giúp con mình sống được. Lúc đó tôi có thêm hai đứa con trai nữa. Tôi nghĩ rằng cần phải lao động, cần phải sáng tạo, không thể trông đợi vào những kinh nghiệm mà mình đã có cho đến lúc ấy. Cho nên tôi tạo ra nghề này.
Những ý tưởng đầu tiên để làm nghề này xuất hiện khi tôi bắt đầu đọc cuốn "Nhà tư bản tài chính" của Theodore Dreiser. Tôi nghe nói rằng Lenin cũng đọc quyển ấy. Nhưng Lenin đọc quyển ấy để làm Cách mạng Tháng Mười còn tôi chỉ làm cuộc cách mạng nho nhỏ trong đời sống cá nhân của tôi thôi. Tôi cứ thấy người ta bảo Lenin thích gì là tôi thích thử xem sao. Ví dụ, có hai bản giao hưởng mà Lenin thích nghe là Appassionata và Moonlight, tôi đã nghe thử và cố gắng hình dung ra cái tâm trạng nào mà một người như Lenin có thể thích chúng. Tôi nghĩ rằng, đi tìm cái quy luật tinh thần của mỗi một vĩ nhân trong cuộc đời chính là cách tốt nhất để chúng ta dẫn mình đến những thử nghiệm tinh thần của mình. Lúc trẻ, tôi đọc quyển "Tuổi trẻ của Karl Marx”, phải nói rằng tôi thấy tinh thần của cậu bé Marx lúc 17 tuổi làm thắp sáng đời sống tâm hồn của mình. Có lần, khi một cán bộ cao cấp hỏi tôi: "Bây giờ, khi chúng tôi làm việc với bọn trẻ, chúng luôn luôn phê phán chúng tôi rằng các khái niệm có vẻ cao thượng như yêu nước, yêu thế nọ, thế kia là mâu thuẫn với thực tế của cuộc sống. Theo anh, tôi phải giải thích như thế nào với bọn trẻ để có thể xuôi được?" Tôi nói rằng, chỉ nguyên việc anh đặt ra vấn đề giải thích để cho nó xuôi đã là hỏng rồi. Bởi vì con người cần cả những cái cụ thể như là tiền lương, nhưng con người cần cả những cái cao thượng thắp sáng tâm hồn. Khi đói kém chúng ta có thể tạm quên những thứ cao thượng đi, nhưng khi no đủ rồi chúng ta bỗng nhiên thấy thiếu cái đấy mà chúng ta đi tìm thì có khi không tìm lại được nó nữa.
Bắt đầu từ việc cứu đứa con, từ việc bảo hộ đời sống vật chất cụ thể của những đứa con của mình, tôi đã tạo ra một nghề mà ở trong nước hiện nay có khoảng 300 công ty thực thi các dịch vụ như thế, trong đó vào khoảng 1/3 số công ty này là do cán bộ từ công ty của tôi tạm biệt tôi để bắt chước tôi. Công ty này là một công ty lớn, cái thứ hai sau nó không so được với nó. Chúng tôi có khoảng độ 300 cán bộ, cung cấp dịch vụ cho khoảng 20% toàn bộ thị trường các dự án ODA ở Việt Nam, khoảng 15% thị trường các đầu tư FDI ở Việt Nam, cung cấp những dịch vụ luật sư cho những giao dịch mua bán rất quan trọng như là mua vệ tinh đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, làm hợp đồng cho các giao dịch mua bán hoặc thuê mua các máy bay Boeing và máy bay Airbus của Vietnam Airlines. Phải nói rằng chúng tôi sử dụng một lực lượng lao động cố định khá lớn nhưng cái dòng lao động đi qua chúng tôi cũng lớn. Hôm qua tôi có tổ chức một buổi hội thảo mà tôi rất tự hào bởi vì một trong những người trình bày chính tại hội thảo ấy là Tổng giám đốc ngân hàng ANZ Việt Nam đã từng là cán bộ của tôi. Khi còn làm cho tôi, chị ấy là thư ký, là phiên dịch cho tôi, người giúp tôi đối thoại với tiến sĩ Henry Kissinger, với các bộ trưởng Úc vào đầu những năm 90. Chị ấy giỏi tiếng Anh đến mức khi tôi dẫn chị ấy đến nói chuyện tại trường Harvard, kết thúc buổi nói chuyện, ông hiệu trưởng Havard Business School bảo với tôi rằng nếu ông không phản đối thì tôi cấp ngay cho cô ấy một học bổng. Nhưng chị ấy kiêu ngạo đến mức không thèm xin học bổng tắt như vậy mà chị ấy thi và đỗ vào trường Wharton, Đại học tổng hợp Philadelphia, một trong những trường dạy về tài chính và tiền tệ tốt nhất thế giới. Tất cả những nhà quản lý của các băng tội phạm quan trọng nhất trên thế giới đều được đào tạo ở đấy. Ngũ đại gia đình ở New York chỉ tuyển người quản lý tài chính từ trường này. Các ngân hàng đầu tư lớn như Morgan Stanley, JP Morgan cũng lựa chọn các kế toán trưởng từ đấy. Sau 10 năm chị ấy trở thành tổng giám đốc ngân hàng ANZ Việt Nam, với mức lương hàng trăm nghìn đô la một năm. Người Việt Nam chúng ta cứ phong nhau tổng giám đốc ào ào, nhưng mà thu nhập của họ cũng chỉ bằng 1/5 thu nhập của tổng giám đốc ngân hàng ANZ ở Việt Nam thôi. Cho nên phải nói rằng, khi chúng ta làm việc, chúng ta phải rất thực tế.
Tôi đã giới thiệu sơ lược về mình. Tôi muốn bắt đầu buổi giao lưu hôm nay. Tôi có mang theo một số tài liệu, nếu tôi giở ra để giảng về cải cách chắc là tôi sẽ nói rất hay nhưng mà các bạn sẽ không nghe đâu, cái mà các bạn bây giờ đang sôi sục lên là mình sẽ làm gì sau khi học. Tôi có cậu con út đang học năm thứ ba tại khoa Philosophy, Politics and Economics (PPE), trường Kinh tế London. Tôi biết được tâm trạng của nó bây giờ là nó bắt đầu nghĩ xem sau khi ra trường mình làm gì, học tiếp như thế nào, đi thực tập ở đâu. Nhưng cái đó cũng chỉ là phần cơ bản thôi, còn phần chính là, liệu ta chọn ai làm hình mẫu cho sự phát triển cá nhân ta, chọn Goeroge Soros hay là Bill Gates. Cậu ấy nói rằng con rất tự hào bởi tất cả các bạn sang học khoa Auditing, khoa Marketing, còn con học khoa PPE, khoa của con có George Soros. Tất cả những thứ lãng mạn như vậy làm sôi sục tâm hồn các bạn, cho nên tôi chấm dứt nói chuyện một cách chủ động ở đây, các bạn cứ chất vấn tôi như một kẻ đã trót dại ba hoa một chút về mình với các bạn, để tạo ra cho các bạn cảm giác thách thức trong sự đối thoại. Tất cả mọi sự đối thoại có chất lượng kích thích, có chất lượng thách thức đều dẫn đến những đòi hỏi sự sáng tạo của các bạn và do đó mới có ích cho Khoa Quản lý Đào tạo Quốc tế với tư cách là nơi tạo ra sự hoàn chỉnh của một sản phẩm mà xã hội được nhờ vào sản phẩm ấy. Thực ra, ở Việt Nam những người có khả năng đối thoại bình đẳng với các bạn là rất hiếm. Rất nhiều nhà doanh nghiệp không tự tin khi nói với sinh viên. Lý do là họ chưa từng là sinh viên, hoặc họ là sinh viên một cách chiếu lệ và họ sẽ nói với các bạn về tiền, bởi vì ưu thế của các nhà kinh doanh là tiền. Nhưng tôi sẽ không nói với các bạn về tiền, tôi nói với các bạn về cái cách mà chúng ta phải làm để trở thành một con người mà tiền chỉ là sản phẩm phụ của sự nghiệp của chúng ta.
Sinh viên (SV): Xin ông cho biết về động cơ khiến ông quyết định thành lập công ty của ông?
NTB: Lúc trước tôi đã nói về động cơ cá nhân rồi. Chúng ta ai cũng phải tìm ra động cơ cá nhân của mình. Đừng che giấu động cơ cá nhân của mình. Động cơ cá nhân trước mỗi một hành động là một trong những năng lượng quan trọng nhất để tạo ra sự chính đáng của hành vi. Vậy còn động cơ xã hội của nó là gì? Từ những năm 70 tôi đã nghiên cứu về diễn biến tình hình phát triển thế giới. Cuối những năm 70, khi người Trung Quốc bắt đầu mở cửa, đầu những năm 80, khi Mikhail Gorbachov bắt đầu tiến hành cuộc đổi mới ở Nga thì tôi đi đến một khẳng định dứt khoát rằng hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa sẽ sụp đổ. Rất nhiều người sau này cho rằng tôi nói phét, nhưng khi nhìn vào những việc tôi làm và tôi chuẩn bị thì người ta rút ngay cái ý kiến như vậy. Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã thì hiệp ước khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế các nước XHCN) sẽ mất hiệu lực và Việt Nam dứt khoát sẽ rơi vào khủng hoảng. Các bạn biết là vào những năm 1984-1985, khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam trở nên tồi tệ, đỉnh cao là giá lương tiền. Vào thời điểm ấy, tôi nghiên cứu diễn biến chính trị thế giới, tôi không nghiên cứu Việt Nam, tôi xem Việt Nam là hệ quả tất yếu của diễn biến chính trị toàn cầu. Khi chúng ta mất đi bầu sữa của khối SEV thì chúng ta khủng hoảng. Chúng ta tưởng rằng chúng ta có thể qua khỏi khủng hoảng bằng giá lương tiền, và đương nhiên tất cả những giáo sư được học hay nghiên cứu kinh tế theo những trường phái như thế vào lúc ấy thì người thông minh nhất cũng chỉ tưởng tượng được đến thế thôi. Tôi âm thầm nghiên cứu kinh tế học mà tôi gọi là kinh tế học phi Marxist. Tôi bắt đầu đọc cuốn Kinh tế học của giáo sư Samuelson vào đầu những năm 80. Tôi có một anh bạn dạy ở trường Đại học Thủy Lợi, không biết anh ấy quen ở đâu đó trong Viện Kinh tế, anh ấy lấy được cho tôi bộ sách ấy và tôi học rất cẩn thận. Sau này, vào những năm 1987-1988 tôi tiếp đại sứ Thụy Điển, khi tôi nói về các quy luật của một nền kinh tế thị trường thì bà ta hỏi tôi rằng tại sao ở một nước như thế này mà lại có người hiểu thấu đáo các quy luật của một nền kinh tế tự do như vậy? Tôi trả lời rằng tôi là kẻ không thuộc bài cũ nên dễ học bài mới. Thế hệ đại học của các bạn bây giờ rất may vì không buộc phải học một thứ nữa, các bạn có quyền tiếp cận đến nhiều trào lưu tư tưởng kinh tế. Những quyển sách về các tư tưởng kinh tế trên thế giới đang được bán đầy ở ngoài đường, không thể nói là nó được dịch tốt hay không nhưng thà dịch không tốt còn hơn là không có.
Tôi dự báo như thế, tôi biết Việt Nam chắc chắn là phải có đổi mới. Năm 1986, bắt đầu từ Đại hội VI là có Đổi mới. Tôi có quan hệ với con trai lớn của bác Trường Chinh và tôi nhận ra rằng chắc chắn là phải có đổi mới. Đỉnh cao của Đổi mới đến năm 1989 mới lộ ra, đó là Mở cửa. Trước đây chúng ta đổi mới quan hệ sản xuất trong nông nghiệp vì chúng ta thiếu gạo, chúng ta bỏ ngăn sông cấm chợ và chúng ta thực hiện chính sách Khoán Mười. Chính sách Khoán Mười như là một chỉ giới về tầm nhìn của sự phát triển kinh tế Việt Nam trong nông nghiệp. Nhưng đến năm 1989, cùng với một số thể nghiệm tương đối táo bạo của thành ủy thành phố Hồ Chí Minh mà chúng ta có những kinh nghiệm để đưa chính sách Đổi mới thành Mở cửa. Tôi cho rằng khi mở cửa sẽ có hai cộng đồng người gặp nhau. Người phương Tây không hiểu gì về Việt Nam và những người Việt Nam cũng chả hiểu gì về tư bản phương Tây. Hai cộng đồng ấy mở cửa nhìn nhau và đều ngọng trong việc diễn đạt các nguyện vọng của mình, và họ cần phải có một kẻ phiên dịch. Và tôi lập công ty này với ý đồ trở thành kẻ phiên dịch sớm nhất cho sự khác biệt giữa hai hệ thống kinh tế, hai hệ thống chính trị và hai mức độ phát triển. Tôi tưởng thế, tôi cũng lãng mạn nghĩ thế nhưng tôi không thể ngờ rằng tôi đúng đến thế. Đấy là tôi trả lời câu hỏi của bạn. Tôi trả lời rất cẩn thận một câu hỏi để nói với các bạn rằng tôi rất tôn trọng các câu hỏi.
SV: Khi Việt Nam gia nhập WTO, theo ông, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có khó khăn gì và họ cần chuẩn bị như thế nào? Đối với riêng công ty của ông, ông đã chuẩn bị như thế nào?
NTB: Đây là một câu hỏi rất hay. Vấn đề mà tôi định nói với giới báo chí là không một ai được phép đem các nguy cơ của WTO ra mà dọa xã hội. Chúng ta không có cách nào khác ngoài việc hội nhập với thế giới. WTO là một thể chế để quy định, để hoạch định, để kiểm soát tính hội nhập toàn cầu của các nền kinh tế chứ không phải là thể chế duy nhất. Sẽ còn nhiều hình thức khác nữa. Ngay bản thân WTO có cấu tạo là các vòng đàm phán, các vòng đàm phán sẽ ngày càng chặt chẽ và sẽ thắt vào cổ tất cả các quốc gia không ý thức được về hội nhập. Nếu trước đây Việt Nam gia nhập WTO thì dễ hơn nhiều. Lúc đầu WTO là một cái sân rộng rãi, người ta khuyến khích vào, thậm chí không cần mua vé. Thế nhưng bây giờ nó trở nên đông quá rồi. Khi mà cộng đồng đông thì ý chí của cộng đồng trở thành ý chí của nhiều người, là đòi hỏi của nhiều người. Cho nên càng ngày tiêu chuẩn của WTO càng khắc nghiệt và những kẻ vào sau sẽ phải đối thoại, phải thảo luận với rất nhiều điều kiện. Đó là một tất yếu, không nên sợ nó. Ví dụ, thi là tất yếu đối với mọi sinh viên nên các bạn không thể sợ thi mà phải chuẩn bị học để thi. WTO là một trường thi đối với các quốc gia chậm phát triển như chúng ta. Chúng ta không thể sợ thi. WTO không tàn phá gì cả, nó chỉ tàn phá những mặt cũ kĩ, những mặt lạc hậu, những mặt vô tổ chức, vô kỷ luật của các nền kinh tế để huấn luyện các nền kinh tế bán chuyên nghiệp trở thành những đối tượng chuyên nghiệp. Chắc chắn tất cả những yếu tố phi chuyên nghiệp, những yếu tố tạm bợ, những yếu tố không chính thống dần dần sẽ bị loại bỏ theo sự áp đặt các tiêu chuẩn mà các thành viên của WTO phải tuân thủ. Tôi đã từng viết trong một bài đăng trên báo rằng WTO là một trường học vĩ đại để giáo dục các nền kinh tế chưa chuyên nghiệp.
Công ty của tôi chuẩn bị việc này từ lâu rồi. Tôi có quan hệ với tất cả các nền kinh tế trên thế giới quan tâm đến Việt Nam. Tôi có quan hệ rất mật thiết với Phòng Thương mại Hoa Kỳ ở Việt Nam, với Phòng Thương mại New York, Phòng Thương mại Los Angesles, Phòng Thương mại San Francisco, Phòng Thương mại London, Phòng Thương mại Paris. Tôi nghiên cứu các thị trường quan trọng nhất của nền kinh tế thế giới một cách rất chuyên nghiệp, nghiên cứu hệ thống các quy tắc thương mại và các bộ luật liên quan đến kinh doanh của tất cả các nền kinh tế quan trọng, những nền kinh tế có ảnh hưởng tới Việt Nam. Vì thế, tôi hơi giống một chút như tương quan giữa giáo viên với các bạn, tức là giáo viên dẫn các bạn đi thi, còn các bạn thì thi. Tôi không phải thi nữa, bởi vì tôi đã thi rồi. Công ty của tôi đã thi vào WTO cách đây 18 năm rồi.
SV: Khi những tập đoàn nước ngoài như tập đoàn của ông vào Việt Nam, họ có thế mạnh hơn về nguồn nhân lực, lương cao hơn... Vậy sự cạnh tranh của tập đoàn của ông với các tập đoàn bên ngoài ấy sẽ như thế nào?
NTB: Tôi buộc phải chấp nhận cuộc cạnh tranh ấy. Tôi không thể đem chi bộ, công đoàn của công ty ra thay thế tiền lương cho cán bộ được. Hiện nay tôi trả lương cho cán bộ của tôi tốt hơn nhiều so với một công ty nước ngoài có mặt tại Việt Nam. Tất cả những cán bộ là phó của tôi có lương cao hơn những người ở cùng vị trí như vậy trong bất kỳ công ty nước ngoài nào có mặt tại Việt Nam. Những cán bộ mới ra trường sau 3 năm là có một thu nhập tốt hơn người làm như thế ở công ty nước ngoài. Không có cách gì để khất lần cuộc cạnh tranh như vậy được. Chúng ta buộc phải thắng, ở đây không thể có nhân nhượng được nếu bạn muốn trở thành một nhà kinh doanh. Người ta cứ nói rằng "hy sinh đời bố để củng cố đời con" hay "chịu khổ ba năm để sướng muôn đời", tất cả những thứ như vậy không có giá trị trong thời đại của chúng ta. Thời đại của chúng ta là thời đại các bạn nữ thay đổi mốt áo quần của mình hàng tháng. Các bạn sẽ rất đau khổ nếu mặc một cái áo trong vòng 6 tháng mà người bạn trai của mình trông thấy nó liên tục. Các bạn buộc phải làm mới các nhu cầu của mình. Sự tăng trưởng các nhu cầu tiêu dùng như là dấu hiệu hệ trọng nhất của sự phát triển. Nếu ai không nghiên cứu được sự phát triển nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì người đó không hiểu gì về kinh tế thị trường cả. Các bạn là các chuyên gia về kinh tế thị trường thì phải hiểu được đó là quy luật số một. Phải chấp nhận cạnh tranh. Chúng ta buộc phải thừa nhận sự tăng trưởng, sự thay đổi các nhu cầu là động lực của sự phát triển nền kinh tế. Rất là bất hạnh cho ngành dệt may nếu như bạn thích cái áo đang mặc quá một năm. Bản chất của nền kinh tế mà chúng ta muốn xây dựng chính là sự đỏng đảnh của nhu cầu tiêu dùng. Chúng ta không những đón nhận một cách tự nhiên các nhu cầu tiêu dùng mà chúng ta còn tạo ra các phương pháp luận để rủ rê con người thay đổi các nhu cầu của mình. Thời trang là một ví dụ, âm nhạc là một ví dụ. Sự thay đổi các dòng nhạc tạo ra một nền công nghiệp đắt giá và nhiều lợi nhuận nhất trong nền kinh tế Hoa Kỳ, đó chính là nghệ thuật biểu diễn. Thời đại của chúng ta là thời đại mà nhu cầu tiêu dùng thay đổi không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng, nó tạo ra một trào lưu mà tất cả những nhà sản xuất phải đón lõng. Khi tất cả các nhà sản xuất đón lõng sự đỏng đảnh của nhu cầu tiêu dùng thì các nhà cung cấp dịch vụ cũng phải đón lõng ở đầu đường xa hơn một chút để nghiên cứu nhu cầu và chuẩn bị dịch vụ để cung cấp. Và chúng ta buộc phải cạnh tranh.
Bạn có nói đến vấn đề tiền lương, vấn đề tiền lương là vấn đề sống còn. Một công ty có thể tuyên bố phá sản sau 3 tháng không trả lương. Người ta làm sụp đổ một đại công ty chỉ vì chủ tịch công ty đã sử dụng quỹ dự trữ tiền lương cho những mục tiêu cạnh tranh khác. Bí thư thành ủy Thượng Hải, Ủy viên Bộ chính trị vừa bị cách chức và có lẽ sẽ vào tù vì bị buộc tội tham nhũng khi ông ta sử dụng quỹ an sinh xã hội cho mục đích riêng, đấy cũng là một loại quỹ có liên quan đến tiền lương. Tiền lương quan trọng bởi vì nó là động lực cho việc người ta phát triển các nhu cầu tiêu dùng. Cho nên đồng lương phải thỏa mãn không chỉ trong sự cạnh tranh giữa các công ty với nhau mà cả trong sự cạnh tranh với thời đại nữa. Cho nên, tôi có hẳn một quan chức cấp phó chủ tịch luôn nghiên cứu về sự dao động của đồng lương tối thiểu trên thị trường lao động và chúng tôi kiểm điểm hàng tuần để luôn luôn giữ được tính tiên tiến của tiền lương. Tất cả những bài thi về WTO tôi đã trả giống như cô giáo của các bạn đã thi Master rồi. Chúng tôi đã làm Master về WTO từ mười mấy năm trước, bây giờ chúng tôi rủ các công ty khác đi học những bài như vậy.
SV: Theo ông, điểm yếu nhất của sinh viên Việt Nam hiện nay là gì? Ông có lời khuyên gì cho các sinh viên hiện nay? Trong những tiêu chí lựa chọn nhân viên của mình, ông cho tiêu chí nào là quan trọng nhất?
NTB: Câu hỏi này hay nhưng nó thể hiện tính ngây thơ của người đặt câu hỏi. Những đánh giá của một chủ xí nghiệp, của một nhà giáo dục, của người nước ngoài... là rất khác nhau. Do đó, không có câu trả lời đồng nhất cho việc nghiên cứu về điểm yếu nhất của sinh viên Việt Nam với tư cách là những người thực dụng thông thường. Nhưng tôi trả lời bạn một cách trân trọng vì tôi nhìn điểm yếu của sinh viên hiện nay khác với tất cả các cách nhìn khác của những người thực dụng khác. Theo tôi, điểm yếu nhất của sinh viên Việt Nam hiện nay là không hiểu tự do là gì. Các bạn luôn luôn đi tìm kiếm tiêu chuẩn, tìm kiếm đòi hỏi của người khác để chiều theo mà các bạn không biết giá trị quan trọng nhất của các bạn chính là phải hình thành ra tiêu chuẩn tinh thần của mình. Các bạn phải tự do đi tìm giá trị của mình, phát hiện ra các giá trị của mình và tìm cách bán các giá trị mà mình cho là xuất sắc nhất trong tập hợp nội hàm giá trị mình có. Điều quan trọng nhất đối với một con người là họ phải tự phát hiện ra mình là ai và mình có những thứ gì. Các bạn nghe bố mình bảo rằng mình giỏi toán, nghe cô giáo dạy vật lý khen mình là một trong 5 người giỏi vật lý nhất và tưởng mình có khả năng. Tất cả các sinh viên đều hóng hớt về khả năng của mình mà chưa biết cách đo đạc một cách chính xác khả năng thật của mình, chưa nghiên cứu về khả năng thật của mình một cách biện chứng. Có những người bỗng nhiên nghĩ rằng mình có khả năng âm nhạc nhưng nhà mình nghèo nên không mua nổi một cây đàn, như vậy có nghĩa là khả năng âm nhạc là khả năng tự nhiên của người đó nhưng không phù hợp với điều kiện khách quan của anh ta. Khi khả năng không phù hợp với điều kiện khách quan của mình thì nó nghiễm nhiên trở thành tiềm năng, mà tiềm năng thì không phải là khả năng. Cho nên, khi nghiên cứu về khả năng của mình, phải nghiên cứu khả năng bên trong trời cho mình và cả tập hợp các điều kiện khách quan để biến nó trở thành hiện thực, trở thành thứ dịch vụ bán được. Muốn thế thì con người phải rất tự do, không nghe ai cả, không hóng hớt ai cả mà hãy lắng nghe tâm hồn mình, hãy đo đạc mình và đo đạc các điều kiện khách quan của mình để tìm kiếm sự phù hợp. Tôi đã từng định nghĩa: Phát triển là sự gặp gỡ một cách thuận lợi giữa các tiềm năng bên trong của con người với các điều kiện khách quan. Khi con người có tự do và biết sử dụng công nghệ tự do thì tự nhiên con người sẽ hình thành một khả năng rất quan trọng đó là tự lập. Khi nào các bạn tự lập được thì các bạn mới trả lời được một cách chính xác mình là ai. Khi còn sống bằng bố mẹ, bằng cô dì, chú bác, bằng tất cả các mối quan hệ không phải là sản phẩm trực tiếp từ trí tuệ của mình thì chưa tự lập. Khi nào con người tự lập được thì sẽ xuất hiện một cái quan trọng hơn nhiều, đó là tự trọng. Tự do - Tự lập - Tự trọng là những đại lượng hết sức quan trọng để hình thành giá trị của con người. Các bạn đều biết rằng có những con người nếu mà đầu tư cho nó một chút thì giá của nó cao gấp mười lần so với giá tự nhiên, người ta gọi đó là lăng-xê. Rất nhiều người được lăng-xê, trông xa thì lấp lánh nhưng đến gần thì thấy rất thất vọng. Lăng-xê là một dịch vụ của nền kinh tế hiện đại để tạo ra vẻ lấp lánh của tất cả các đối tượng hàng hoá. Cần phải làm sao để mình được đầu tư để được lăng-xê, nhưng quan trọng hơn cả là làm sao sau khi được lăng-xê mình vẫn còn là mình. Khi nào các bạn hoàn tất được một vòng công nghệ như vậy thì không bao giờ các bạn sợ mất giá trị và cái đó được hình thành trong logic bộ ba Tự do - Tự lập - Tự trọng.
SV: Thưa ông, các cơ hội trong thời đại hội nhập ngày nay làm cho người giầu càng giầu còn người nghèo càng nghèo, vậy về mặt kinh tế, Việt Nam cần phải phát triển như thế nào để khắc phục khoảng cách giầu nghèo đó?
NTB: Bạn tưởng rằng khi nước ta chưa gia nhập WTO thì không có người giầu, người nghèo, không có khoảng cách giầu nghèo ư? Có chứ. Tôi nghĩ rằng càng phát triển thì khoảng cách giầu nghèo càng lớn. Phát triển là gì? Phát triển là người ta khai thác các năng lực tự nhiên của con người một cách có hệ thống và có tính hiệu quả cao nhất, mà năng lực của con người thì không giống nhau. Một sinh viên có hứng thú và có sức để học 20 tiếng một ngày thì không thể đem so với một người học 2 tiếng đã ngủ gật được. Vào những năm tôi học đại học, không có đèn điện như bây giờ mà tôi phải học bằng đèn dầu. Số lượng dầu mà tôi thắp để học bằng tiêu chuẩn của hai gia đình đông con. Ngày xưa một gia đình đông con được 5 lít dầu/tháng, và tôi đốt 10 lít/tháng để học. Tôi nghĩ rằng những người học 2 tiếng/ngày không thế đem so với tôi được, vĩnh viễn không bao giờ so sánh được. Khoảng cách giầu nghèo không chỉ là khoảng cách của sự may mắn mà còn là khoảng cách của sự phân bố tự nhiên các năng lực của con người. Cho nên, chúng ta phải thừa nhận khoảng cách ấy một cách khách quan mà chúng ta không thể khắc phục triệt để khoảng cách ấy được. Những nhà lý luận của chủ nghĩa xã hội đã từng mơ tưởng đến một sự bình đẳng như vậy và các nền kinh tế ấy đã thất bại bằng sự mơ tưởng. Người ta buộc phải phấn đấu và buộc phải thừa nhận tính khách quan của khoảng cách giầu nghèo nhưng người ta cần chống lại khái niệm khác chứ không phải khái niệm bạn vừa đề cập, đó là khái niệm nghèo khổ. Người ta chống lại sự nghèo khổ chứ không chống lại khoảng cách giầu nghèo. Nếu tôi có 1000 đô la/tháng tiền lương mà bạn chỉ có 10 đô la/tháng thì bạn là người nghèo khổ, khoảng cách giữa tôi với bạn là khoảng cách của sự nghèo khổ. Nhưng nếu tôi có 10.000 đô la mà bạn có 1.000 đô la thì bạn không nghèo khổ nữa nhưng bạn không giầu bằng tôi. Tuy nhiên, khoảng cách giữa 1.000 đô la và 10.000 đô la vẫn là khoảng cách không thể thay đổi được vì tôi năng động hơn bạn, tôi lao động vất vả hơn bạn. Tôi vừa viết một công trình nghiên cứu về tham nhũng, trong đó tôi có nói rằng sự hướng dẫn sai về chính trị, kinh tế, văn hoá trong xã hội đã tạo ra sự mất mát năng lực trên quy mô toàn xã hội. Khi con người mất mát năng lực thì không có khả năng cung cấp các dịch vụ trung thực cho xã hội. Để có thể sống được người ta buộc phải cung cấp các dịch vụ không trung thực. Các dịch vụ không trung thực là bản chất xã hội học của hiện tượng tham nhũng. Cho nên, chúng ta phải xoá đói giảm nghèo bằng cách cung cấp các dịch vụ để nâng cao năng lực của con người. Ví dụ như ở công ty chúng tôi vẫn thường tiến hành các cuộc điều tra nghiên cứu xã hội học để cải thiện năng lực xã hội. Nâng cao năng lực là cách phổ biến nhất để khắc phục hiện tượng nghèo đói, và trong chừng mực nào đó tạo ra khả năng cảm nhận một cách không đau khổ về khoảng cách giầu nghèo. Bởi khi người ta nhận thức được rằng khoảng cách giầu nghèo là một tất yếu thì người ta sẽ không đau khổ, còn nếu khuyến khích người ta nhìn nhận một cách sai lệch về khoảng cách giầu nghèo thì sẽ có đấu tranh giai cấp và sẽ có cách mạng và chúng ta lại cùng nhau nghèo đói. Chúng ta đã đi qua gần nửa thế kỷ cùng nhau nghèo đói. Người Việt Nam cực kỳ có kinh nghiệm về cái sự thật cùng nhau nghèo đói. Cho nên, nghĩ ít về khoảng cách giầu nghèo thôi nhưng cần phải làm mọi cách để chống lại sự nghèo đói của bản thân mình.
SV: Nhưng nghèo quá thì rất khó phát triển, số lượng người nghèo rất đông, làm thế nào để ra khỏi nghèo đói một cách nhanh chóng được?
NTB: Không có cách gì để thoát ra khỏi nghèo đói nếu không phát triển. Không sốt ruột được.
SV: Ví dụ như Cuba, người ta làm được. Ở Cuba nhân dân được chu cấp toàn bộ kinh phí chữa bệnh và thuốc men?
NTB: Nếu sốt ruột rằng cần phải làm như Cuba thì về cơ bản Cuba không có khoảng cách giầu nghèo nhưng Cuba lại là một nước rất nghèo. Vậy bạn chấp nhận có khoảng cách giầu nghèo hay bạn thích chúng ta cùng nghèo đói?Chúng ta phải nhớ một điều là chúng ta đang sống trong một thế giới mà cái chúng ta nghe thấy buộc chúng ta phải rất thận trọng để nghe cho đúng. Không được nhầm lẫn giữa cái người ta nói với mình với cái người ta có trong thực tế. Không có cách gì để ra khỏi sự nghèo đói một sớm một chiều được. Không có cách gì để một sinh viên đang học năm thứ hai, thứ ba trở thành một ông chủ. Không đốt cháy giai đoạn như thế được. Bạn buộc phải học rất giỏi, rất chăm, bạn phải đi qua giai đoạn lao động như một kẻ bị thuê mướn rồi sau đó bạn mới trở thành ông chủ được. Con người không thể sốt ruột được. Có những hiện tượng đột biến được gọi là thiên tài trên thế giới này như Bill Gates. Nhưng không có 2 Bill Gates trên thế giới và chúng ta cũng không thể nói với sinh viên rằng Bill Gates có học đại học đâu mà ông ta trở thành người giầu nhất thế giới. Khi Bill Gates sang đây nói chuyện ở trường Bách Khoa là tôi rất lo cho các bạn vì nếu mà nghe người ta xui dại như vậy thì hỏng. Chúng ta buộc phải lao động một cách rất trung thực.
BBT. Rất may Bill Gates đã khuyên hết sức đúng rằng đầu tư cho bản thân quan trọng nhất là đầu tư cho học tập. Nếu bạn theo học đại học thì bạn cần có nghĩa vụ đối với quốc gia thông qua công việc của mình.
SV: Ông có thể cho biết trong quá khứ ông đã gặp những khó khăn gì và đã vượt qua như thế nào để có một công ty từ 3 người lên đến 300 người? Trong những năm tới công ty ông có chiến lược phát triển như thế nào?
NTB: Tôi kể cho bạn nghe câu chuyện này. Khi tôi còn học phổ thông, bên cạnh lớp tôi có một cô học sinh rất đẹp, cô ấy kéo violon cực hay. Tôi thích cô ấy lắm mà không nói được vì tôi nghèo quá. Rồi tôi đi bộ đội, tôi chưa kịp học đại học còn cô ấy vào đại học. Sau khi đi bộ đội về tôi học lại phổ thông một năm để có kiến thức thật để thi đại học vì tôi không bao giờ học giả vờ. Khi tôi đi học lại thì cô ấy đã trở thành một cô giáo dạy toán, cô ấy đến lớp giảng và phát hiện ra cái cậu đã từng thích cô ấy đang ngồi ở dưới. Khi ấy tôi rất tự tin nhưng cô ấy thì bỏ chạy, cô ấy xin chuyển trường, không dạy ở đó nữa. Bao nhiêu năm sau, khi chúng tôi họp lớp thì cô ấy đến lớp với tư cách là một người không chồng, cô ấy bỏ chồng. Cô ấy mời tôi đi uống cafe và nói rằng, nếu ngày ấy cậu không sỗ sàng và thô lỗ, nếu ngày ấy cậu tỏ ra duyên dáng hơn một chút thì mình đỡ bất hạnh bao nhiêu. Tôi kể cho các bạn nghe câu chuyện này để nói với các bạn rằng cần phải chân thành với chính mình, cần phải đủ dũng cảm để sống chân thật với chính mình thì sẽ nhận ra rằng không có cái gì trên đời này thực sự là thử thách cả. Thử thách hay khó khăn chỉ là cái một người quan sát một người khác thôi, còn đối với một người biết chịu đựng những thử thách của số phận thì thử thách ấy chính là nội dung cuộc sống của họ. Tâm hồn như một đôi cánh để giúp con người đi qua các khó khăn mà nó không kịp nhận ra sự bất hạnh của nó trong khó khăn. Đấy là kinh nghiệm vĩ đại nhất mà một người 60 tuổi như tôi nhận ra ở con người. Không ai thật nhận ra thử thách của cuộc đời mình cả nếu nó hoạt động dũng cảm như một con người. Như chuyện cô Tuyển vác một lúc được 2 hòm đạn chẳng hạn. Sau này các nhà tuyên huấn của chúng ta bảo cô ấy vác lại để quay phim thì cô ấy chịu, không vác lại được vì không ai có thể vác được 2 hòm đạn nặng đến thế để biểu diễn sự khoẻ mạnh, người ta chỉ có thể làm việc đó trong tình huống khi lòng yêu nước trở thành đôi cánh, trở thành thiên thần trong đời sống tâm hồn của mình. Cho nên, nếu các bạn yêu cầu tôi nói về những kinh nghiệm đi qua những thử thách, những khó khăn trong cuộc đời của mình thì tôi phải nói thật với các bạn rằng với tư cách là một người hoạt động thực tiễn, với tư cách một người yêu con người thì tôi không bao giờ cảm thấy những khó khăn, không có lúc nào tôi cảm thấy bất hạnh rình mò xung quanh cuộc đời của tôi cả. Đôi lúc nhìn lại, ở những trạng thái khác khi đã đi qua khó khăn ấy thì thấy hoá ra mình không ra gì nhưng mình cũng đáng nể. Tại mỗi thời điểm như vậy một con người hành động dũng cảm không cảm thấy khó khăn. Tôi nói với các bạn nguyên lý hết sức phổ quát đối với đời sống tinh thần của một người thành công thật trong cuộc đời là người ta không cảm thấy khó khăn mà cảm thấy tính phải đạo, tính có lý, tính bắt buộc phải hành động vào những lúc khác nhau, những tình huống khác nhau, những trạng thái khác nhau của cuộc đời một con người. Đừng vì sự tỉnh táo, sự khôn ngoan mà đánh mất đi sự trong sáng của đời sống tâm hồn, vì nếu đánh mất nó thì con người sẽ trở thành một kẻ lữ hành bằng cách đi bộ trên mặt đất đầy chông gai. Nếu giữ được sự trong sáng của đời sống tâm hồn thì các bạn sẽ thấy rằng đôi lúc người ta bay mà không phải đi bộ.
SV: Hiện nay, hàng năm chỉ số tăng trưởng kinh tế của Việt Nam rất cao, giá cả hàng hoá cũng cao nhưng thu nhập của người lao động vẫn rất thấp. Sự mâu thuẫn đó sẽ dẫn đến chảy máu chất xám. Vậy theo ông, khi tốt nghiệp ra trường, những sinh viên có năng lực nên ra nước ngoài làm việc để có cuộc sống khá hơn hay là ở lại Việt Nam?
NTB: Câu hỏi rất hay. Tôi nghĩ rằng, theo xu hướng hiện nay, toàn cầu hoá là một quá trình dịch chuyển tất cả các dòng năng lực của nhân loại đến những chỗ mà giá trị có thể tăng trưởng. Lao động cũng là một năng lực và nó sẽ dịch chuyển. Bạn đi ra nước ngoài hay ở Việt Nam đó là quyền của bạn, và đó là quy luật của sự vận động của các dòng năng lực ở trên thế giới. Tôi không đưa ra bất kỳ lời bình luận nào khuyên bạn nên ở Việt Nam hay ra nước ngoài, nhưng bạn nên nhớ rằng đi ra nước ngoài không phải là sự dịch chuyển thuận hoàn toàn. Bạn tưởng bạn có kiến thức, nhưng 3/4 giá trị thương mại của bạn phụ thuộc vào thói quen được hình thành trong những điều kiện phát triển của người ta. Không phải là cái bạn học được, không phải năng lực của bạn tác nghiệp trên máy hoặc trên một số vấn đề cụ thể nào đó quy định giá cả của bạn trên thị trường lao động nước ngoài. Nếu bạn muốn đi ra nước ngoài thì bạn phải có thêm một số năng lực ngoài những năng lực bạn nhận là bạn có và năng lực bán sản phẩm của bạn là năng lực lớn nhất. Trong cái thị trường bậy bạ ở ngoài phố thì một cô gái quê bán mình giá rẻ hơn rất nhiều so với một cô gái đô thị. Cho nên để bán các năng lực của mình thì con người buộc phải có các mẹo vặt, con người phải đô thị hoá. Trong quá trình dịch chuyển thì một người ở Lạng Sơn có thể là nhà quê so với một người cư trú ở Hà Nội và Việt Nam hoàn toàn có thể quê mùa so với thị trường New York. Sự thiếu hụt về kiến thức trong chương trình học của trường đại học Kinh tế Quốc dân Việt Nam so với trường đại học Havard có thể khắc phục được bằng sự cố gắng. Nhưng để khắc phục được tình trạng nhà quê của người Việt Nam so với tình trạng phát triển đô thị ở New York thì phải mất gấp 4 lần thời gian cho kiến thức. Phải rất cẩn thận, nếu không bạn sẽ mắc bệnh chủ quan.
SV: Ông có thể giải thích tại sao kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng đều đặn hàng năm và giá cả hàng hoá thì cao nhưng mức lương vẫn rất thấp?
NTB: Mức lương vẫn thấp bởi vì người Việt Nam không có văn hoá tiền lương. Chính sách tiền lương của chúng ta không được dựa trên những tiêu chuẩn đúng đắn của văn hoá tiền lương. Người Việt Nam chưa ra khỏi mâu thuẫn của quan hệ giữa tiền lương và năng lực. Bởi vì chúng ta có quá nhiều người được tuyển mộ theo những quan niệm sai trái, được đào tạo theo những tiêu chuẩn không phù hợp và hiện nay chúng ta đang giẫm chân tại chỗ trong sự không tương thích giữa năng lực và tiền lương. Các bạn cũng cần quan sát một cách cẩn thận để xem hiện tượng đó diễn biến như thế nào. Tuy nhiên, không phải cả xã hội giẫm chân tại chỗ trong quan hệ tiền lương thấp, có nhiều bộ phận khác nhau của xã hội đã bắt đầu ra khỏi và phát triển một nền văn hoá tiền lương khác, không còn giống với mức chung vốn có. Quy luật của sự phát triển là các bộ phận phát triển một cách khác nhau chứ không phải tất cả mọi bộ phận đều phát triển đồng đều. Cho nên khi bạn nói rằng tìền lương ở Việt Nam vẫn thấp thì đấy là bạn nói ở mức kết luận chung chung. Nhưng nếu bạn đi sâu vào các xí nghiệp bạn sẽ thấy rằng: vì nhà nước không hỗ trợ một chính sách thu nhập cao cho nên đại bộ phận các xí nghiệp đã trả lương cao đều giấu ưu điểm của mình, bởi vì nếu không họ sẽ phải mất thêm một lượng chi phí khá lớn để đóng thuế. Cho nên, vấn đề đặt ra là nhà nước phải ra khỏi nền văn hoá tiền lương thấp chứ không phải xã hội, bởi vì xã hội đã bắt đầu làm việc ấy rồi. Đây là một vấn đề lý luận thật sự, lý luận của những người hoạch định chính sách cao nhất chứ không phải chỉ là lý luận của một trường đại học.
SV: Nhiều người vẫn khuyên sinh viên rằng phải học để sau này đi làm bán cái mà người ta cần chứ không phải bán cái mà mình có. Theo ông điều đó có đúng không?
NTB: Có hai câu trả lời khác nhau cho câu hỏi của bạn. Đối với đại bộ phận người sử dụng lao động cũng như người bán sức lao động thì lời khuyên ấy là đúng, tức là bán cho người ta cái người ta cần chứ không phải bán cái mình có. Nhưng với sinh viên của trường Đại học Kinh tế Quốc dân là một trường đại học có giá trị chiến lược đối với nền kinh tế Việt Nam thì lời khuyên ấy không đúng. Bởi vì với một xã hội chưa chuyên nghiệp như xã hội chúng ta thì sinh viên của trường này phải thuyết phục xã hội rằng cái các anh cần là cái tôi có. Chúng ta phải rèn luyện năng lực để nói với xã hội rằng các anh chưa biết tôi có cái mà các anh cần. Cách đây nhiều năm, tôi đến nói chuyện tại một câu lạc bộ được xem là cổ xưa nhất của nền văn hoá Hoa Kỳ là Commonwealth Club ở San Francisco. Tại buổi nói chuyện, người chủ tịch câu lạc bộ ấy nói với tôi trước khi tôi bắt đầu rằng cái chỗ mà ông đứng là chỗ của những nhà chính trị hàng đầu của Hoa Kỳ, của các nguyên thủ quốc gia và các nhà văn hóa nổi tiếng trên thế giới, ông phải ý thức về cái vinh dự ấy và ông phải nói với chúng tôi về điều A, điều B... Tôi trả lời rằng xét về mặt lịch sử mà nói thì tôi có trình độ tương đương với một người được giáo dục ở mức trung bình của Hoa Kỳ, cho nên tôi hiểu lịch sử câu lạc bộ của ngài, và tôi cũng biết rằng người Mỹ nếu đặt ra câu hỏi thì đã có sẵn câu trả lời rồi. Hôm nay tôi sẽ nói với các ngài về những thứ mà người Mỹ chưa có kinh nghiệm đặt câu hỏi vì tôi ý thức được vinh dự của tôi. Tôi kể câu chuyện này để nói với các bạn rằng sinh viên của trường Đại học Kinh tế quốc dân, Khoa Quản lý Đào tạo Quốc tế dứt khoát phải rèn luyện mình ở mức để nói với người sử dụng mình, người sẽ sử dụng mình rằng cái tôi có quan trọng hơn cái anh cần, cái tôi có là cái tương lai anh cần chứ không phải là cái mà hôm nay anh nhận ra là cần thiết. Đội ngũ trí thức của chúng ta phải đủ tinh khôn để rèn luyện mình ở mức ấy chứ không phải là đi bán năng lực thông thường vì nếu bán như thế thì không thể có giá cao cho lao động của các bạn được.
SV: Với vai trò là người tuyển dụng, ông có những yêu cầu gì với những người gia nhập công ty của mình?
NTB: Tôi chẳng đòi hỏi gì cả. Khi giao lưu với sinh viên trường Tài chính Kế toán, có sinh viên hỏi tôi rằng "Thưa ông, chúng tôi làm sao mà xin việc được nếu như đến cơ quan nào người ta cũng đòi hỏi hai năm kinh nghiệm?" Đối với một sinh viên mới ra trường mà đòi hỏi như thế thì cũng ngốc nghếch giống như việc lấy vợ mà lại đòi hỏi người đàn bà phải có hai năm kinh nghiệm về đàn ông. Tôi không đòi hỏi gì cả, tôi đo độ nhạy về tinh thần của các bạn, tôi đo độ cao thượng của đời sống tinh thần của các bạn. Độ nhạy bén cộng với sự cao thượng sẽ tạo ra khả năng không thể dự báo được về sự phát triển. Tôi không thuộc những người sử dụng lao động một cách tầm thường, cho nên nếu hỏi kinh nghiệm của tôi thì tôi sẽ nói kinh nghiệm không phổ biến trong xã hội. Tôi không làm gì cả, nếu linh cảm mách bảo tôi rằng người này có giá thì tôi sẽ nhận vào làm ngay. Tôi còn có một cái khác nữa là những người tôi cần đào tạo không bao giờ tôi chiều ngay từ đầu cả, có những kẻ tôi dấu kín và 5 năm sau tôi bỗng đưa lên từ một nhân viên thông thường thành một giám đốc của công ty. Thực phẩm của những thiên tài là tự do, mà điểm mấu chốt của tự do là quên đi sự lệ thuộc của mình vào lời khen, tiếng chê của người khác. Người Việt chúng ta có một nhược điểm hết sức phổ biến và hệ trọng là luôn luôn chờ đợi, hóng hớt lời khen của người khác. Lâu lâu không ai khen thì mình có cảm giác như mình sống trên sa mạc, một lời khen đểu giả đôi khi tạo ra niềm hân hoan ngớ ngẩn của rất nhiều con người. Những kẻ không lệ thuộc vào lời khen, tiếng chê, kẻ cặm cụi nghiên cứu, chấp nhận và khai thác các lẽ phải trong đời sống tâm hồn kín đáo của mình sẽ tạo ra thiên tài. Tôi có một định nghĩa về thiên tài trong một quyển sách mà tôi đã xuất bản rằng thiên tài là một thứ năng lực mà người sở hữu nó là kẻ cuối cùng biết đến nó. Thiên tài là thứ rất ít khi người có nó nhận ra nó. Ngay cả tài năng mà chúng ta nhận ra, rồi chúng ta tự giác đánh bóng mạ kền cho nó, chúng ta bày nó lên để bán thì cũng vẫn là nhầm lẫn. Các bạn sống hồn nhiên, các bạn tìm mức sống tối thiểu bằng việc bán những khả năng thông thường của mình một cách thực dụng nhưng các bạn phải chăm sóc những điều ẩn dấu ở những chỗ sâu xa trong tiềm thức của các bạn, đến một ngày nào đó số phận thiên thời của các bạn đến, cái đó sẽ xuất hiện trước một ai đó. Con người đừng nhầm lẫn cuộc sống thông thường với cuộc sống thành đạt. Người ta thành đạt là do sự gặp gỡ một cách hoàn toàn may mắn giữa những yếu tố mình có với cái mà thiên hạ cần, còn để tạo ra cuộc sống hàng ngày thì con người phải lao động một cách thông thường, chấp nhận các tiêu chuẩn thông thường, sử dụng các công nghệ thông thường của cuộc sống. Tức là thành đạt có hai mức độ, mức thông thường là mức chúng ta vẫn sống, có thể không bao giờ cơ hội đến với ta cả. Tôi vốn là một người nghèo khổ, năm 44 tuổi tôi chỉ có 1 cái xe đạp thôi và kẻ trộm cũng lấy nốt đi. Nhưng đến 45 tuổi tôi đi ôtô. Chuyển từ đi xe đạp lên đi ôtô, tôi không hề ngỡ ngàng, ngượng ngập, không hề vội vàng khi mở cửa ôtô. Tôi bước lên ôtô cũng duyên dáng không kém gì bước lên xe đạp, bởi vì dù bước lên ôtô thì tôi vẫn là một con người, từ trong tâm hồn tôi vẫn nghĩ mình là một con người thánh thiện. Con người cần phải có đủ tự tin để tin vào sự cao quý của đời sống tinh thần của mình. Cái đó là tài sản vô giá của tất cả các bạn, không vì bất cứ lý do gì mà đánh đổi nó. Thưa ông, thưa bà, ông bà có thể lấy đi bất cứ cái gì thuộc về miền năng lực thông thường của tôi, nhưng cái bí mật, cái riêng tư của đời sống tâm hồn của tôi thì xin ông bà bỏ dép bên ngoài nếu muốn bước vào. Nếu làm được như thế thì các thầy cô của các bạn sẽ quý trọng các bạn. Xã hội quý trọng những người như thế không phải vì chính người ấy mà muốn thông báo rằng xã hội gồm những người có giáo dục. Giống như đối với những người tài thì vấn đề không phải là việc họ được tặng huân chương. Tặng huân chương không phải là để họ trở thành người tài mà tặng huân chương là để thể hiện người có giáo dục thì phải biết tôn trọng người tài, huân chương ấy chính là bằng chứng thể hiện sự có giáo dục của nhà nước. Khi nào các bạn nghĩ được như thế thì các thầy cô giáo sẽ yêu quý các bạn hoàn toàn tự nhiên và niềm tự hào của thầy cô giáo sẽ lớn gấp mười lần so với niềm tự hào của sự khách sáo.
Powered by vBulletin® Version 4.1.5 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.