PDA

View Full Version : Bàn về chữ Nhân trong Dịch - Ứng dụng trong luận Tử vi



KhongTu
02-14-2007, 03:01 PM
Kính chào quý vị,
Được sự động viên của bác Thiên Sứ và sự đồng ý của tác giả cuốn sách "Nhân Mệnh trong Kinh Dịch", Lão Nông tôi xin được đưa dần lên diễn đàn những nội dung cơ bản của cuốn sách "Nhân Mệnh trong Kinh Dịch", là một trong những tài liệu được trích rút từ kinh nghiệm nghiên cứu luận giải tử vi lâu năm của tác giả Nguyễn Văn Hoạt - Bảo Lộc - Lâm Đồng.
Tôi xin phép chỉ post những nội dung cuốn sách này lên chủ đề, những lời bàn đúng sai - những ý kiến liên hệ khác nếu có, xin phép Ban Quản trị diễn đàn cho đăng vào một chủ đề phụ (như bác Thiên Sứ đã thực hiện đối với lý thuyết Lạc Việt Độn toán).
Những nội dung đầy đủ nhất của cuốn sách này sẽ được bác Thiên Sứ cùng Trung tâm Lý học Phương Đông phối hợp với tác giả Nguyễn Văn Hoạt đưa ấn hành trong thời gian tới .
Sau đây là nội dung chính của chủ đề:

Lời dẫn
Con người, trong lịch sử phát triển của mình, cùng với thời gian đã khám phá ra biết bao bí mật của thiên nhiên, của vũ trụ, của cuộc sống… Nhưng có một bí mật mà bất kỳ ai, dù họ ở thời đại nào và sống trong trong cộng đồng xã hội nào cũng đều muốn tìm hiểu, muốn biết một cách thấu đáo, đó chính là bí mật về tương lai, vận mệnh của mỗi người. Thiên nhiên có qui luật của thiên nhiên, cuộc sống có qui luật của cuộc sống, mỗi loài tồn tại và phát triển đều có quy luật riêng trong một “tọa độ thời gian – không gian riêng”, ví như loài người có tuổi thọ trung bình là 60 – 70 năm, loài trâu – bò có tuổi thọ trung bình 15 – 20 năm, hay như các loài ruồi, muỗi… tuổi thọ trung bình rất ngắn. Tất cả các loài khi sinh ra, chết đi đều hoàn thành một chu trình sống, phát triển trong khung thời gian của từng loài (nói chung) và chu trình sống ấy phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống.
Khoa học hiện đại có thể căn cứ vào tố chất của từng người để tiên đoán về sức khoẻ, về trí thông minh, về năng lực của chính họ, kết hợp cùng với điều kiện gia đình, xã hội mà người ấy sống, có thể phần nào tiên đoán được tương lai, sự nghiệp của từng cá nhân… Tuy nhiên, kết quả có đạt được như mong muốn của mỗi người hay không, chắc các bạn cũng thấy: không được bao nhiêu.
Có một học thuyết người xưa truyền lại, chính là học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, được hàm chứa trong bộ Kinh Dịch, một bộ Kinh mà từ xưa đến nay, chưa ai dám nhận là hiểu rõ nội dung của nó, một bộ Kinh có thể diễn giải chặt chẽ mọi qui luật của các cõi giới. Khi diễn giải thì vô cùng, khi quy nạp thì gọn về chân không… Kinh Dịch là bộ sách thần kỳ mà nội dung của nó được đem ra ứng dụng trên nhiều mặt đời sống xã hội như triết học, chính trị học, kinh tế xã hội học, dự đoán hoc… Cuốn sách nhỏ này không dám lạm bàn về những mặt rộng lớn khác nhau của Kinh Dịch, chỉ khai thác một điểm nhỏ thuộc về Dự đoán học, đó là số phận Con Người, nói cách khác là Nhân mệnh trong mối quan hệ Thiên – Địa – Nhân.
Quan điểm Thiên Địa Nhân là một quan điểm lớn xuyên suốt bộ Kinh Dịch. Chỉ có ba chữ mà tính khái quát rất cao, nói lên rằng Con Người là một tiểu vũ trụ, con người xứng đáng được xếp vào trong bộ ba của vũ trụ: Trời, Đất, Người. Là loài “động vật có Linh”, có vai trò là gạch nối giữa Trời và Đất, Con người ở đây gắn chặt và sống hài hòa với thiên nhiên. Kinh Dịch có những tiêu chí chỉ ra cho mỗi con người nên sống như thế nào để hòa hợp với thiên nhiên, với môi trường, với xã hội, gia đình mình đang sống một cách hết sức mềm mại, uyển chuyển, không quyết đoán một chiều, cứng nhắc. Chính vì đặt Con Người trong mối quan hệ Thiên Địa Nhân mà Kinh Dịch có khả năng giúp mỗi người dự báo được tương lai, và nhiều khía cạnh trong cuộc đời, nhiều điểm khá riêng tư cho mỗi cá nhân…
Có nhiều kết quả nghiên cứu gần đây đã tiến tới việc “biết” Kinh Dịch là một bộ phận của Phật học, có xuất xứ từ hàng trăm ngàn năm trước. Quả thật vậy, khi ta đặt các quy luật vận động của Kinh Dịch dưới ánh sáng của Phật học, sẽ thấy các quẻ Dịch hiện ra trước mắt ta với vẻ linh diệu, trong sáng, khác thường.
Trong kinh Dịch có nhiều bộ môn thuộc Dự đoán học. Có môn học như Độn Giáp, Phong Thủy, Thái Ất… xuất phát từ các vận động của Trời và Đất (Thiên – Địa). Lại có các môn học như Tử Vi – Bát Tự Hà Lạc, Tứ Trụ, Bốc Phệ, Đông Y học, Thời Châm học (chữa bệnh bằng châm cứu theo thời gian vượng suy của hệ Kinh Lạc) lấy vận động của Con Người trong Trời Đất – tức là lấy chữ Nhân - làm điểm xuất phát. Tôi cố gắng hướng sự học hỏi và nghiên cứu vào chữ Nhân nói ở trên. Trong nhiều môn học ấy, tôi thấy muốn hiểu hoặc nói đúng hơn muốn lý giải, muốn trả lời được những câu hỏi mà thực tế cuộc sống đưa ra, chúng ta phải tìm ra sự liên kết lôgích giữa các môn học không tìm ra được điều đó thì trong dự đoán sẽ bị khiên cưỡng, gượng ép, đức tin của người học sẽ thiếu sự trong sáng, khó thành. Trong thực tế dự đoán học, ta dễ dàng thấy các môn toán như Tử Vi, Bát Tự Hà Lạc, Bốc Phệ… tuy khác nhau về cấu trúc, tín hiệu (ví dụ môn Bát tự, tín hiệu là các quẻ Dịch, môn Tử Vi là các sao), nhưng khi luận giải thì không trái nhau, mà hầu như cùng soi sáng những khía cạnh khác nhau của một vận mệnh. Vì các môn học ấy đều bắt nguồn từ Kinh Dịch. Bởi mỗi con người là một “tiểu vũ trụ”, cuộc đời của mỗi người là một pho sử, cuộc sống thiên hình vạn trạng, có phần Nổi có phần Tàng. Cho nên trong dự báo cũng vậy, phải biết liên kết các môn học, nhằm tìm ra các phần Nổi và các phần Tàng chứa qua các “mã số” của mỗi môn học. Chúng tàng ẩn trong nhau, hòa quyện và liên kết rất uyển chuyển. Cũng như trong Đaọ Phật, chia ra nhiều tông phái, thực ra thì các tông phái này đều đưa người tu học về một đích, chỉ là các tông phái dùng để hợp cơ duyên cho từng người mà thôi.
Chính vì những lý do đó, cuốn sách này mang tên NHÂN MỆNH TRONG KINH DỊCH. Trong cuốn sách này, tôi lấy bộ môn Tử Vi làm căn bản, soi chiếu cùng với các môn học khác, tạo thành một mạng liên kết có lôgích trong dự báo, mong góp phần khám phá trước hết về phương pháp luận, sau nữa làm phong phú thêm về thực hành, luận giải. Phần luận giải đan xen với hướng dẫn thực hành, cốt để bạn đọc nhanh chóng nhập vào chiều sâu và cái “linh”, cái “thần” của môn học. Riêng phần hướng dẫn thực hành tôi tìm những phương pháp kỹ thuật đơn giản (nói đúng hơn là những “mẹo” của người xưa, tính ngay trên đầu ngón tay), chỉ cần bạn đọc chú tâm và kiên trì là làm được.
Tinh thần của Kinh Dịch là hướng con người hòa hợp với thiên nhiên, với xã hội đang sống, phát huy hết tiềm năng của mỗi cá nhân, dùng tài đức cho đúng nơi, đúng chỗ, đúng việc, để tự mình tìm thấy sức mạnh, khả năng của mình, biết tiến, biết thoái, biết người, biết ta… Với tinh thần ấy, tôi mạnh dạn viết ra những hiểu biết của mình, có thể đúng, có thể sai, cùng các chuyên gia khác, mỗi người một ý, hôm nay chưa được sau này tất sẽ thành. Tất nhiên ở đây có nhiều điều còn phải dựa vào các “tiên đề” do người xưa để lại, chúng ta người hậu thế đành công nhận đã. Và còn những hạn chế do trình độ hiểu biết của bản thân, điều này người viết mong được bạn đọc thông cảm và lượng thứ.Những hiểu biết của tôi được viết trong cuốn sách này, chỉ để những người đam mê môn học này tham khảo, mong rằng trong muôn một, có ai đó làm rạng danh được môn học của Thánh nhân để lại.
__________________
Lão Nông tri ... Tiền

KhongTu
02-14-2007, 03:02 PM
˜[™



I. NGŨ HÀNH NẠP ÂM, PHẦN HỒN, CÁI GỐC CỦA CON NGƯỜI.


Trong Kinh Dịch, Ngũ hành nạp âm của Lục Thập Hoa Giáp có lẽ là phần khó lí giải nhất, cho đến nay chưa có ai hiểu tỏ tường, các sách, các tác giả tên tuổi đều chỉ công nhận đó như một tiên đề trong bộ môn nghiên cứu của mình. Ngay như tác giả Thiệu Vĩ Hoa, một nhà dịch học uyên bác của Trung Quốc trong cuốn “Chu Dịch Với Dự Đoán Học” khi bàn đến phần này, ông cũng chỉ dám viết: “…người xưa tuy có bàn đến nhưng chưa có căn cứ, chưa nói rõ do đó huyền bí – bí hiểm, khó giải. Sự biến hóa vô cùng của bảng đối với giới học thuật của nước ta vẫn còn là câu đố…”.
Như vậy, thật rõ ràng là để hiểu được một cách cặn kẽ lôgic lập thành của bảng này và ứng dụng nó trong các bộ môn của Kinh Dịch thì là thật khó. Cái khó ấy chính là chỗ: ta phải dùng nó, công nhận nó mà không biết, không hiểu tại sao? Bây giờ ta đi từng bước một để diễn giải vậy (Bảng Lục Thập Hoa Giáp ở đây sắp xếp theo Ngũ hành và thứ tự của Địa chi từ Tí đến Hợi).

1. Hành Kim:
Giáp Tí-Ất Sửu : Hải Trung Kim.
Nhâm Dần-Quý Mão : Kim Bạc Kim.
Canh Thìn-Tân Tị : Bạch Lạp Kim.
Giáp Ngọ-Ất Mùi : Sa Trung Kim.
Nhâm Thân-Quý Dậu : Kiếm Phong Kim.
Canh Tuất-Tân Hợi : Thoa Xuyến Kim.

2. Hành Mộc:
Nhâm Tí – Quý Sửu : Tang Đố Mộc.
Canh Dần – Tân Mão : Tùng Bách Mộc.
Mậu Thìn – Kỷ Tỵ : Đại Lâm Mộc.
Nhâm Ngọ – Quý Mùi : Dương Liễu Mộc.
Canh Thân – Tân Dậu : Thạch Lựu Mộc.
Mậu Tuất – Kỷ Hợi : Bình Địa Mộc.

3. Hành Thủy:
Bính Tí – Đinh Sửu : Giản Hạ Thủy.
Giáp Dần – Ất Mão : Đại Khê Thủy.
Nhâm Thìn – Quí Tỵ : Trường lưu Thủy
Bính Ngọ – Đinh Mùi : Thiên hà Thủy
Giáp Thân – Ất Dậu : Truyền trung Thủy
Nhâm Tuất – Quí Hợi : Đại hải Thủy

4. Hành Hỏa:
Mậu Tí – Kỷ Sửu : Tích Lịch Hỏa.
Bính Dần – Đinh Mão : Lô Trung Hỏa.
Giáp Thìn- Ất Tị : Phú Đăng Hỏa.
Mậu Ngọ- Kỷ Mùi : Thiên Thượng Hỏa.
Bính Thân- Đinh Dậu : Sơn Hạ Hỏa.
Giáp Tuất Ất Hợi : Sơn Đầu Hỏa.

5. Hành Thổ:
Canh Tí – Tân Sửu : Bích Thượng Thổ.
Mậu Dần – Kỷ Mão : Thành Đầu Thổ.
Bính Thìn – Đinh Tị : Sa Trung Thổ.
Canh Ngọ – Tân Mùi : Lộ Bàng Thổ.
Mậu Thân – Kỷ Dậu : Đại Dịch Thổ.
Bính Tuất – Đinh Hợi : Ốc Thượng Thổ.


Bảng 1: Lục Thập Hoa Giáp

Tại sao khi nạp giáp (nạp âm) lại thành các Hành khí như bảng trên? Như trên đã nói, cho đến nay chưa ai trả lời được câu hỏi ấy, chúng ta chỉ biết công nhận theo cổ nhân mà thôi và cũng chỉ biết: Ngũ hành nạp âm là tiếng vang vọng của Ngũ hành, cái mà chúng ta biết là có đấy nhưng không nhìn thấy được, không nắm bắt được… Thuyết Ngũ hành của thánh nhân truyền lại thật huyền bí.
Khi Ngũ hành xuất hiện ở dạng vật chất thì rõ nét. Ví dụ khi nói đến hành Mộc thì ta đều hiểu là Gỗ – Cây, hành Thủy là Nước, hành Hỏa là Lửa, hành Kim là các Kim loại, hành Thổ là Đất… khó có thể hiểu khác.
Còn khi Ngũ hành không còn ở dạng vật chất? Thánh nhân bảo rằng ta hãy cảm nhận được cái sinh sôi nhân từ của hành Mộc, cái hiểm – lắt léo của hành Thủy, cái nóng – bốc lên – toả sáng của hành Hỏa, cái lạnh lùng – cứng rắn của hành Kim, cái yên tĩnh – bằng an của hành Thổ.
Theo Kinh Dịch thì mọi vật chất đều được cấu tạo bằng năm hành tượng trưng (Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ) và sự sinh khắc của Ngũ hành tạo ra cuộc sống, bảo đảm sự tồn tại của vật chất… Cho nên Ngũ hành hiện hữu ở khắp nơi và hòa quyện, lẫn vào nhau mà sinh khắc; trong hành này có hiện diện của hành khác. Nhưng khi nạp âm ta thấy:
Để thành hành Kim, chỉ có các Thiên can: Giáp – Ất (Mộc), Nhâm – Quý (Thủy), Canh – Tân (Kim) kết hợp với 12 Địa chi mà thành Kim. Không có dương Hỏa và dương Thổ tham gia cấu tạo hành Kim. Còn 3 hành âm Kim, Mộc, Thủy (Dậu, Mão, Hợi) khi kết hợp với Thiên can hành Âm (ất, Quý, Tân) cũng rất chọn lọc. Cấu trúc như sau:
· Dương Mộc (Giáp) nạp dương Hỏa (Ngọ) và dương Thủy (Tý) thành Kim.
· Âm Mộc (Ất) nạp âm Thổ (Mùi) và âm Thổ (Sửu) thành Kim.
· Dương Thủy (Nhâm) nạp dương Mộc(Dần) và dương Kim (Thân) thành Kim.
· Âm Thủy (Quí) nạp âm Mộc (Mão) và âm Kim (Dậu) thành Kim.
· Dương Kim (Canh) nạp dương Thổ (Thìn) và dương Thổ (Tuất) thành Kim.
· Âm Kim (Tân) nạp âm Hỏa (Tỵ) và âm Thủy (Hợi) thành Kim.
Nhìn cấu trúc trên, ta thấy từng cặp có chung Thiên can nhưng khác Địa chi, các Địa chi này xung nhau (cấu trúc của các hành khác cũng vậy). Vì có những hành đồng chất mà xung nhau như vậy nên cổ nhân đặt ra câu cho ta vận dụng: “Lưỡng Kim – Kim khuyết, lưỡng Hỏa – Hỏa tiệt, lưỡng Thủy – Thủy kiệt, lưỡng Mộc – Mộc chiết, lưỡng Thổ – Thổ diệt”.
Xét kỹ thì thấy cùng chung một cha (ví dụ Giáp Mộc), thì có hai mẹ xung nhau (ví dụ Tí Thủy và Ngọ Hỏa) mà cùng sinh Kim (tức là cặp Giáp Tý, Giáp Ngọ cùng có hành Kim).
Ta xem một số tuổi khi nạp giáp:
- Tuổi Giáp Tí – Mệnh Hải Trung Kim – Dương Kim, năm Giáp Tí là năm tự hành tương sinh, Địa chi Tí Thủy sinh Thiên can Giáp Mộc, như vậy Kim ở đây sinh Địa (Kim sinh Thủy) khắc Thiên (Kim khắc Mộc), trợ Âm phế Dương, giúp Mẹ khắc Cha.
- Tuổi Ất Sửu cùng là Hải Trung Kim nhưng Ất Sửu – Âm Kim, năm Ất Sửu là năm tự hành tương khắc, Ất Mộc khắc Sửu Thổ, Thiên khắc Địa, Kim ở đây khắc Thiên (Kim khắc Mộc) hao Địa (Thổ sinh Kim, Kim làm hao tổn Thổ), phế Dương hại Âm, khắc Cha hại Mẹ… đấy là tính cách của Kim Phương Bắc…
Các năm khác cũng lí như vậy để hiểu tính cách cùng hành khác phương của Ngũ hành khi nạp âm.
Tại sao nói tuổi Ất Sửu là mệnh Hải Trung Kim và là Kim phương Bắc? Theo sách “Hiệp kỷ biện phương thư” của học giả Mai Cốc Thành đời vua Càn Long nhà Thành thì: “Giáp Tí-Ất Sửu là Hải Trung Kim. Tí thuộc Thủy lại là cái hồ, lại là đất vượng của Thủy, kiêm Kim tử ở Tí, mộ ở Sửu, Thủy vượng mà Kim tử, mộ, vì vậy đặt là Hải Trung Kim (vàng dưới biển)”.([1]) Tí – Sửu lại là bắc phương trên Địa bàn Tử vi, nên gọi Kim của Giáp Tí - Ất Sửu là Kim phương Bắc.
Khi Lạc thư đã định, cõi trần có chữ viết, văn tự đã có, tổ chức xã hội đã thành, cõi giới đã định, lấy trung tâm là hành Thổ, ấy là dãy Hy Mã Lạp Sơn, ngọn núi cao nhất làm trung tâm.
Nhìn về phương Đông - Mão Mộc, ta thấy các nước: Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên…
Phương Tây – Dậu Kim là Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi…
Phương Bắc – Tý Thủy – lạnh, là nước Nga và các nước Bắc Âu.
Phương Nam – Ngọ Hỏa gần xích đạo là các nước xứ nóng như nước ta, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a…
Ta sẽ thấy ở đâu cũng có sự hiện diện của Ngũ hành.
Nhưng khi tìm Kim ở Phương Bắc có nghĩa là ở dưới nước (Hải Trung Kim).
Ở Phương Nam có nghĩa là trong cát (Sa Trung Kim);
Ở Phương Đông thì trong các loại quặng, đá (Kim Bạc Kim);
Ở Đông Nam trong các đền – miếu (Bạch Lạp Kim);
Ở Phương Tây trong cát – gió (Kiếm Phong Kim);
Ở Tây Bắc trong dân gian, trong lòng đất (Thoa Xuyến Kim);
Ấy là hiện hữu của Ngũ hành trong bốn phương…
Các hành khác cũng luận như vậy.
Từ đây ta rút ra điều thứ nhất là: Ngũ hành hiện hữu khắp bốn phương tám hướng, có thể ở dạng vật chât hiện hữu (Ngũ hành) có thể ở dạng phi vật chất (Ngũ hành nạp âm).
Điều thứ hai là: các tên gọi còn tàng chứa các “phép” của Thần học dùng cho những người theo tu học, dùng cho các phép tắc khi con người trả thân về với cát bụi… Như vậy, nếu hiểu Thoa xuyến Kim là “vàng đeo tay”, Sa trung Kim là “vàng trong cát”… như một số sách thường nói, tôi e là không đơn giản như thế. Về việc này chúng ta tìm hiểu thêm chắc sẽ còn nhiều điều lý thú.


--------------------------------------------------------------------------------
[1] Hiệp Kỷ Biện Phương Thư – nxb Mũi Cà Mau năm 2002, tập I trang 122

KhongTu
02-14-2007, 03:02 PM
Nói “Con người là một động vật có linh” có nghĩa là cần phải xem xét con ngưòi trên cả hai phương diện: phần xác và phần hồn. Tạo ra phần Xác là quyền của Cha Mẹ, thuộc Âm. Và theo cấu trúc trên thì tạo phần Hồn thuộc về Thiên định (Ngũ hành nạp âm là phần Hồn, thuộc Dương). Chính vì thế mà người xưa đã nói: “Cha mẹ sinh con, Trời sinh tính”.
Nhìn trên 12 cung Địa Bàn, ta thấy có:
* Bốn cung Tràng Sinh (Tứ Sinh), là các cung mang Địa chi Dần – Thân – Tị – Hợi, thuộc các quẻ Cấn – Khôn – Tốn – Càn ở vào 4 hướng Đông Bắc – Tây Nam – Đông Nam – Tây Bắc, giữ các Thiên can Giáp – Canh – (Bính – Mậu) – Nhâm, thuộc các hành Mộc – Kim – (Hỏa – Thổ) – Thủy. Đó là Tứ sinh Dương.
* Bốn cung Tứ Tuyệt là: Mão – Dậu – Ngọ – Tí, thuộc các quẻ Chấn – Đoài – Ly – Khảm, và là chính hướng của 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc, giữ các Thiên can Ất – Tân – (Đinh – Kỷ) – Quí, thuộc các hành Mộc – Kim – (Hỏa – Thổ) – Thủy. Đó là Tứ sinh Âm.
Quan sát tổng hợp các cung tứ sinh, tứ tuyệt đó ta sẽ thấy chúng phản ánh vào vận mạng con người theo từng thời gian, từng góc độ, tạo nên các thông tin cho mỗi chủ thể, được định theo tính lý của các Thiên can chứ không theo các Địa chi, cho nên nói: Trời sinh tính là thế. (Thiên là Trời…)
Sự xuất hiện các thông tin có tính định mệnh (mạng) ấy lại được ấn định và diễn biến theo từng năm (gọi là Thái Tuế – vua của năm) và có chu kỳ là 60 năm.
Ví dụ: đối với người sinh năm Đinh Dậu, ta nói người đó mang mệnh Sơn Hạ Hỏa, khi nói năm Đinh Dậu ta nói đó là năm Hỏa, Hỏa đấy là Hỏa ở Phương Tây, Hỏa ở quẻ Đoài, Hỏa của Tân…
Nhưng cũng cần biết tiếp, là theo thuyết luân hồi thì cái thân xác hiện hữu ở cõi giới này của con người chỉ là một phần trong cuộc đời của người đó. Câu hỏi đặt ra là: Người đó từ đâu đến? Sau khi trả thân cho cát bụi thì người đó đi về đâu? Con người tâm linh từ đâu tới?
Bộ môn Tử Vi vốn giúp người ta biết mình để tu học, là người không có chân mạng tu hành thì biết mình, biết người mà đạt đạo làm người, có mạng tu hành phải biết con người xác phàm, con người tâm linh của mình hợp Thiên hay hợp Địa… để từ đó biết đường tu học, nếu Nhân hợp Thiên thì có thể thắng Địa, nếu Nhân hợp Địa có thể thăng Thiên, cho nên mới có câu “Đức năng thắng số”. Đức ở đây là chữ Biết để học tập, vận hành, cho hợp thời vậy.
Tác giả Nguyễn Hoàng Phương trong cuốn Tích hợp đa văn hóa Đông – Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai (Nhà xuất bản Giáo dục – Hà Nội – 1996) đã trích dẫn các quan điểm về một vũ trụ có trật tự của các tôn giáo như sau:
· Quan điểm vũ trụ có trật tự của Lão Giáo thì vũ trụ có 36 tầng trời.
· Quan điểm vũ trụ của Thông Thiên Học thì vũ trụ gồm 7 cõi chính, thành 49 cõi con; trong đó có các cõi hữu hình và các cõi vô hình.
· Quan điểm vũ trụ của Đạo Phật có rất nhiều cõi như: có 10 cõi Tiên, có 6 cõi Trời dục giới, 4 cõi Sắc giới, có các cõi Vô Sắc giới và 4 cõi Người, 4 cõi này là:
Ø Cõi Tây Ngưu Hóa Châu: Cõi này không chú ý đến việc học hành mà chỉ chú trọng đến việc làm giàu, mua bán, đổi chác…(Trên lá số Tử Vi thuộc các cung Thân – Dậu; giữ các Thiên can Canh – Tân; thuộc Phương Tây, thuộc quẻ Khôn, Đoài). Cõi này thường lấy “con Trâu” để trao đổi, mua bán. (Cũng hiểu rộng ra là cõi nhiều động vật – gia súc…).
Ø Cõi Bắc Cu Lô Châu: Đây là cõi trung gian giữa cõi Diêm Phù Đề và cõi Trời. (Thuộc Hợi – Tý; giữ các Thiên can Quý – Nhâm; thuộc Phương Bắc; thuộc Càn – Khảm).
Ø Cõi Đông Thắng Thần Châu: cõi này không có tư hữu, mọi người đều bình đẳng với nhau về quyền lợi, tài sản, không phân biệt giai cấp, mỗi người đều lấy sự học hành, tri thức đạo đức làm lẽ sống; người nào học cao thì đứng đầu theo sự suy tôn của quần chúng (Thuộc Dần – Mão; thuộc Giáp – Ất; thuộc Phương Đông; thuộc Cấn – Chấn).
Ø Cõi Nam Thiên Bộ Châu: đây là cõi chúng ta đang ở, còn gọi là cõi “Diêm Phù Đề”, cõi này lấy Vàng làm chuẩn, do vậy người cầm đầu một nước gọi là đức Kim thượng, mọi người tại cõi này ganh đua nhau làm giàu.
Phân biệt như vậy để có thể biết phần Linh hồn của con người đó, tức là phần Ngũ hành nạp âm, ở khoảng không gian & thời gian (Thiên can & Địa chi) đó, từ đâu đến? và cũng để trả lời câu hỏi rằng “Theo Thiên định (không đổi), thì sau khi hiện diện ở cõi này thì người đó đi về đâu?”
Điều này Kinh Dịch chỉ rõ là: đến thì bất dịch mà đi thì biến dịch, tùy thuộc vào Tháng – Ngày – Giờ sinh nữa, và cũng phụ thuộc rất lớn vào vào tâm thức, đức độ, sự tu học của từng người… ta sẽ lần lượt xem xét (ở đây ta lấy con người làm tiêu chí để luận lí).
__________________
Lão Nông tri ... Tiền

KhongTu
02-14-2007, 03:03 PM
Ví dụ: một người Nam sinh năm Nhâm Dần; tháng Quý Mão; ngày Bính Thìn; giờ Canh Dần, ta có các tiêu chí sau:
1. Sinh năm Nhâm Dần à Ngũ hành nạp âm (phần Linh Hồn) là Kim Bạc Kim (hành Kim): Thiên định kiếp trước là Người từ cõi Đông Thắng Thần Châu tới. Tại sao ta biết như vậy? Đó là vì Dần thuộc phương Đông và trong các tuổi Dần chỉ có một tuổi Nhâm Dần mang hành Kim, đồng thời ngôi Dần – Thân là “cửa Người” theo tính lý các cửa của đạo Phật. (Nếu là tuổi Nhâm Thìn chẳng hạn, thì ta nói người này kiếp trước là ATULA từ cõi Đông Thắng Thần Châu đầu thai về làm người tại cõi Nam Thiên Bộ Châu này).
2. Là Nam mạng (thuộc Dương) hành Kim àkhi hiện hình tại cõi này được địnhTràng Sinh tại Tỵ, Đế Vượng tại Dậu, Tử tại Tí, nhập Mộ tại Sửu, Thai tại Mão, như vậy người này thiên định đầu thai về Mão: về phương Đông thuộc Đông Thắng Thần Châu, thuộc quẻ Chấn là cửa Quan (cửa Súc sanh) có nghĩa là kiếp sau người này thiên định lại quay về cửa Quan tại cõi Đông Thắng Thần Châu.
3. Nhật Nguyên sinh (ngày sinh) là Bính – Hỏa giữ Nhân định: Bính Hỏa Tràng Sinh tại Dần, Đế Vượng tại Ngọ, Tử tại Dậu, Mộ tại Tuất, Thai tại Tí, như vậy bản thân người này khi sống làm người tại cõi Nam Thiên Bộ Châu này, luôn luôn hành sự, tu học… theo hướng sau này đầu thai về cửa Phật của cõi Bắc Cu Lô Châu.
4. Cục của lá số khi lập thành Tử Vi là Mộc Tam Cục à như vậy “Cục Đất” để trồng “Cây” này lại là Mộc, giữ phần Địa định (xã hội, môi trường…) là: Tràng Sinh tại Hợi, Đế Vượng tại Mão, Tử tại Ngọ, Mộ tại Mùi, Thai tại Dậu và ta thấy Địa định xu thế để người này kiếp sau làm Quan tại cõi Tây Ngưu hóa Châu.
Như vậy cả ba phần Thiên định – Địa định – Nhân định đều không cùng hành với nhau, nhưng theo thuyết tương sinh của Ngũ hành thì Mộc sinh Hỏa, cho nên phần Địa định (Mộc) tương sinh phần Nhân định (Hỏa) và ta nói: kiếp sau người này được vào cửa Phật tại cõi Bắc Cu Lô Châu.
Ta lại phải biết thêm tính giới của 12 Địa chi (cửa- Mật giáo):



Æ Tý – Ngọ là cửa Phật
Æ Tị – Hợi là cửa Tiên
Æ Dần – Thân là cửa Nhân
Æ Thìn – Tuất là A Tu La
Æ Mão – Dậu là: Súc sanh
Æ Sửu – Mùi là: Ngạ quỷ



Như vậy, khi xem trong Tứ Trụ các Địa chi của Năm – Tháng – Ngày – Giờ sinh của một người, ta cũng đã biết người đó Thiên định có thể tu học theo con đường nào, có thể vào cửa Phật hay chỉ tu vào các cõi Tiên…

KhongTu
02-14-2007, 03:03 PM
III. THUYẾT NGŨ HÀNH.

Ngũ hành hiện hữu và Ngũ hành nạp âm

Thuyết Ngũ hành chia ra Ngũ hành hiện hữu và Ngũ hành nạp âm, khi lý giải vào Tử Vi thì:
· Con người phần Xác lấy Thiên can ngày sinh là hành trong Ngũ hành hiện hữu. Xét Ngũ hành hiện hữu thì chú ý vòng Tương Sinh – Tương Khắc và biết về quan hệ Lục Thân (Bốc Phệ) của Ngũ hành:
· Con người phần Hồn lấy Ngũ hành nạp âm làm gốc, đây là con người Tâm linh, con người Tư duy, cho nên cung Phúc Đức trên lá số giữ vai trò rất quan trọng cho mỗi Mạng.
Từ lý giải trên, khi lập thành lá số, nhờ cung Phúc đức và các sao cài đặt trong cung, ta có thể phân biệt được một phần cá nhân đương số. Cung Phúc Đức này nói về Tâm linh, về đức nghiệp của các đời trước, nhưng khi nói về thực tại thì đó lại là tâm hồn, tư duy, còn khi nói về hậu vận là nói tới con cái của người có lá số.
Vì vậy, một người có cung Phúc nằm tại một trong ba ngôi Tràng Sinh – Đế Vượng – Mộ thì tốt hơn những người không được cung phúc nằm vào ba ngôi này. Nếu các sao trong cung Phúc lại đồng hành hoặc sinh cho hành của Mệnh thì các sao đó ảnh hưởng mạnh và trực tiếp với người có lá số.
Cho nên khi dùng Ngũ hành nạp âm để dự đoán cho con người, phải nắm chắc vòng Tràng Sinh, chú ý là khởi vòng này theo Kinh Dịch.
Ví dụ: Một người tuổi Nhâm Dần, mạng là Kim Bạc Kim (Ngũ hành nạp âm là Kim – phương Đông), Nam mạng, ta xét: Thiên can chữ Nhâm có ngũ hành là Dương Thủy; Địa chi chữ Dần mang ngũ hành Dương Mộc.
Xét vận năm Nhâm Dần ta nói: đây là năm Thiên – Địa tương sinh, Ngũ hành bản Mệnh của người đó là Thiên can Nhâm (Thủy) sinh cho Địa chi Dần (Mộc).
Năm Nhâm Dần, Ngũ hành nạp âm là Dương Kim, như vậy Kim ở đây là Phụ mẫu của Thủy, là Quan quỷ của Địa chi Mộc. Theo đó, người ở tuổi Nhâm Dần này thì Cha có lợi mà Mẹ thì bất lợi… Nên phần nhiều những người tuổi Nhâm Dần nam mạng mà sinh vào mùa thu thì rất khắc Mẹ, còn nếu là nữ mạng thì hại Cha, điều này liên quan đến vòng sinh – tử, âm – dương khác nhau. Cũng là mạng Kim của tuổi Quý Mão, nhưng nếu là Nam Mạng lại hại Cha vì khi đó Kim âm sinh tại Tý, Quý (Thủy) vốn đã phát sinh cho Mão (Mộc), lại còn phải sinh tiếp thì kiệt mất, còn Kim Dương, Tử tại Tí (Thủy) thì Thủy Vượng (theo bảng Vượng – Tướng – Hưu – Tù – Tử – Tuyệt).

Tam Hợp và Lục Hợp (Nhị hợp)

Tam Hợp là ba Địa chi hiệp lại tạo nên cục, cục này làm nên việc. Như tuổi Nhâm Dần, có Tam Hợp là: Dần – Ngọ – Tuất tạo thành cục Hỏa, mà trong đó phân ngôi là: Dần giữ Tràng Sinh, Ngọ giữ Đế Vượng, Tuất giữ Mộ địa của Cục Dương Hỏa.
Khi Dần giữ Thái Tuế sẽ hợp với Ngọ giữ Quan Phù, với Tuất giữ Bạch Hổ… (Thái Tuế là năm đang diễn ra, năm này có vai trò tối cao nên gọi là Thái Tuế).
Hợp Sinh – Vượng, lưỡng Kim thành khí đối với tuổi Nhâm Dần là năm Giáp Ngọ (hành Kim), năm Canh Tuất (hành Kim), hai năm này muốn được việc lớn thì người tuổi Nhâm Dần phải khơi việc, mở màn (Sinh) hoặc giữ việc xuất ngôn, ngoại giao, chủ trì… (Thái Tuế), năm Giáp Ngọ phát huy thực tài và trí tuệ vào công việc ấy… (năm Đế Vượng), cũng là năm chủ về văn bản, giấy tờ, cửa công môn… (vì Ngọ giữ Quan Phù). Đến năm Canh Tuất thì người tuổi Nhâm Dần nên lo giữ gìn thành quả, lo việc hậu thuẫn, hậu phương… (Mộ, kho), lo dẹp loạn, giữ an ninh cho công việc… (Bạch Hổ ở cung Địa Võng). Xem vận năm–tháng–ngày–giờ, hoặc liên quan đến người khác đều như vậy.
Các năm Thái Tuế là Bính Ngọ, Đinh Mùi (hành Thủy); Nhâm Tuất, Quý Hợi (hành Thủy) là Tử tôn của người tuổi Nhâm Dần, hợp đấy mà hao tổn đấy, chỉ lợi về việc phúc đức, việc con cái. Cũng trong cái hợp này có cái nguy về Mạng cho người tuổi Nhâm Dần nếu gặp hạn xấu… Xem năm – tháng – ngày – giờ, hoặc liên quan đến người đều như vậy.
Các năm Thái Tuế là Mậu Ngọ, Kỷ Mùi (hành Hỏa) – Giáp Tuất, Ất Hợi (hành Hỏa) là Quan quỷ của người tuổi Nhâm Dần, nên hợp lợi công việc, ngành nghề… Các năm này, người tuổi Nhâm Dần bị khắc chế, khắc chế nhưng thành việc. Xem năm – tháng – ngày – giờ, người đều như vậy.
Các năm Canh Ngọ, Tân Mùi (hành Thổ) – Bính Tuất, Đinh Hợi (hành Thổ) là Phụ mẫu của người tuổi Nhâm Dần, nên hợp (hay lợi cho) việc đất cát, ruộng vườn, nhà cửa, giải quyết những chuyện thuộc về gia đạo, đạo lí…đối với người tuổi Nhâm Dần thì rất có lợi. Xem năm–tháng–ngày–giờ, hoặc liên quan đến người đều như vậy.
Các năm Nhâm Ngọ, Quý Mùi (hành Mộc) – Mậu Tuất, Kỷ Hợi (hành Mộc) là Thê tài của người tuổi Nhâm Dần, nên hợp lợi việc cầu tài, buôn bán, làm giàu, lấy vợ… nhưng Nhâm Dần luôn bị kém hơn các tuổi kia… Xem năm – tháng – ngày – giờ, người có liên quan… đều như vậy.
Xem xét các trường hợp Nhị Hợp, (kể cả Tương xung, Tương hại…) cũng đều theo cách giải như trên, như vậy về khái quát, ta đã biết tương đối mọi sự cho người tuổi Nhâm dần. Còn như muốn khái quát phần tư tưởng, tâm linh của người này khi ở cõi trần, muốn lý giải cho sát, cho có nét rõ ràng, thì phải kết hợp với kiến thức của Bốc Phệ

KhongTu
02-14-2007, 03:09 PM
Vẫn lấy người tuổi Nhâm Dần nói trên làm ví dụ, trong Tử Vi, ta thấy như sau:
Tuổi Nhâm Dần, Ngũ hành nạp âm là: Kim Bạc Kim, Dương Nam, người này sinh vào tháng 2, giờ Dần, nên lá số Tử Vi cho thấy phần Tâm linh Thiên định là: Cung Quan – Tràng Sinh; Nô – Mộc Dục; Di – Quan Đới; Tật – Lâm Quan; Tài – Đế Vượng; Tử tức – Suy; Thê – Bệnh; Huynh đệ – Tử; Mệnh – Mộ; Phụ – Tuyệt; Phúc – Thai; Điền – Dưỡng. ([1])
Nhật Nguyên sinh là ngày Bính, thuộc hành Hỏa, nam mạng nên phần Tâm linh Nhân định trong cuộc đời là: Cung Phụ mẫu – Tràng Sinh; Phúc đức – Mộc Dục; Điền trạch – Quan Đới; Quan – Lâm Quan; Nô bộc – Đế Vượng; Thiên di – Suy; Tật ách – Bệnh; Tài bạch – Tử; Tử tức – Mộ; Thê – Tuyệt; Huynh đệ – Thai; Mệnh – Dưỡng.([2])
Tuổi Nhâm trên lá số Tử Vi, cung Mệnh lập tại Sửu, giữ Mộc Tam Cục, như vậy phần Tâm linh Địa định giống như phần Tâm linh Thiên định: có nghĩa là cung Mệnh đều nhập Mộ ngay (khi lập lá số Tử Vi ta thấy ngay sao Địa Kiếp tại cung Mệnh) nhưng Nhật Nguyên Bính Hỏa ngoài phần Nhân định, lại là phần Xác của người này, cung Mệnh được sao Dưỡng, cho nên phương án lí giải là: nên cho làm con nuôi người khác ngay (Dưỡng là nuôi).
Và khi giải Tử Vi, nếu người này mệnh yểu thì con người tâm linh của người này tới cõi trần Nam Thiên Bộ Châu và đầu thai về Đông Thắng Thần Châu. Nếu có tuổi thọ thì sau đầu thai về Bắc Cu Lô Châu, như vậy con người khi không theo tu học thì phần nhiều đều không thoát vòng sinh – tử luân hồi.
Khi luận giải Tử Vi, càng biết rõ nét cuộc đời của một người qua các vòng sinh – tử của Ngũ hành nạp âm, càng thấy đây chính là phần “Tàng” trong lá số, các sách đều gọi là nhân mệnh của mỗi người.



--------------------------------------------------------------------------------
[1] Ngũ hành Nạp âm là Kim bạc kim, nên Tràng sinh hành Kim khởi tại Tỵ, là cung Quan.

[2] Ngũ hành của Bính là Hỏa, Tràng sinh của Hỏa khởi tại Dần, là cung Phụ Mẫu.

KhongTu
02-14-2007, 03:10 PM
Chương Ba: Những điểm cần nắm trong 12 cung số


˜[™

Ở đây ta đi từ cung Dần thuận theo chiều kim đồng hồ đến cung Sửu.
1. CUNG DẦN:

Trong Kinh Dịch, cung Dần là quẻ Cấn, tượng là núi, địa lí là nơi ở trên rừng, gần núi non, lưng gò, là phương Đông Bắc.
- Nhân vật con người là con trai út, đàn ông trẻ.
- Thân thể là: ngón tay, xương, mũi, lưng.
- Tính cách: cách trở, giữ yên tĩnh, tiến thoái do dự, mặt sau, ngừng lại, không thấy.
- Màu: vàng. Ngũ hành là Dương Thổ
- Là đất Đế Vượng của Âm Mộc, là đất Lâm quan của Dương Mộc (Giáp), là đất Tràng Sinh của Dương Hỏa – Thổ.
- Thiên can: Giáp – Dương Mộc. Địa chi: Dần – Dương Mộc.
- Thời gian: tháng Giêng, mùa xuân, giữa đông sang xuân.
- Số của Thiên – Địa – Nhân là 3, 8, 7 (số này dùng trong các phép như cầu Thiên thì số 3, cầu Địa thì số 8 và cầu Nhân thì số 7, và cũng dùng các số đó trong dự đoán của Tử Vi như: 3 năm, 3 tháng, 3 ngày; 8 mẫu, 8 sào; 7 người, 7 tuổi…)
2. CUNG MÃO:

Là quẻ Chấn, tượng là Sấm Sét, kinh động, ồn ào, nỗi lo sợ.
- Địa lý là nơi gần đường, là chợ búa, là cửa Quan, cửa Trời (cửa Lôi môn) công đường, là nơi nhiều cây cối. Là phương Đông
- Nhân vật là trưởng nam, là quan lớn,
- Tượng là chân, gan, tóc.
- Ngũ hành thuộc Mộc, là đất Đế Vượng của Dương Mộc.
- Giữ Thiên can Ất – Âm Mộc, Địa chi Mão – Âm Mộc.
- Thời gian là tháng 02, mùa xuân.
- Số là: 4, 3, 4.
3. CUNG THÌN:

Là quẻ Phong Lôi ích, làm lợi cho người và người làm lợi cho mình (lời Kinh), là giao thời của mùa xuân sang hạ, Ngũ hành thuộc Dương Thổ;
- Là lưới Thiên La, là Mộ, kho của Dương Thủy,
- Hướng là Đông Nam thiên Đông. Chỉ giữ Địa chi Thìn - Dương Thổ.
- Thời gian là tháng 03;
- Số là 13, 7, 9;
4. CUNG TỴ:

Thuộc quẻ Tốn, tượng là Gió, là đình chùa, miếu mạo.
- Về con người: là trưởng nữ, là tu sĩ, quả phụ, tăng đạo, mang tính cách nhu hòa không quả quyết.
- Tượng thân thể là cánh tay, đùi, là khí, phong tật.
- Ngũ hành thuộc hành Mộc, là đất Tràng Sinh của hành Kim, là đất Lâm quan của Dương Hỏa – Thổ, là đất Đế Vượng của Âm Hỏa – Thổ, hướng là Đông Nam,
- Số là 9, 4, 5;
- Giữ Thiên can Bính, Mậu (Dương Hỏa – Dương Thổ) giữ Địa chi Tỵ – Âm Hỏa;
- Thời gian là giữa hạ, tháng tư.
5. CUNG NGỌ:

Thuộc quẻ Li, tượng là Lửa, nóng, văn minh, trí tuệ, ban ngày, điện, nơi văn hoá, khiêm tốn trong giao tiếp, việc sách vở, mỹ lệ.
- Là nơi gò đất cao, khô, nóng, hướng chính Nam. Là cửa Ngọ môn, là cung đình.
- Người là trung nữ.
- Tượng thân thể là mắt, tim, thượng tiêu.
- Ngũ hành thuộc hành Hỏa, là đất Đế Vượng của Dương Hỏa – Thổ, là đất Tràng Sinh của Âm Mộc.
- Giữ Thiên can Đinh – Kỷ (âm Hỏa và âm Thổ), giữ Địa chi Ngọ – Dương Hỏa.
- Thời gian là tháng 05, cuối Hạ, khí Dương hết, khí Âm sinh.
- Số là 2, 9, 3.
6. CUNG MÙI:

Thuộc quẻ Địa Hỏa Minh Di, thời đi lánh nạn, nên giấu bớt sự sáng suốt của mình đi (lời Kinh);
- Là Mộ địa của hành Mộc, hướng thuộc Tây Nam – thiên Nam.
- Giữ Địa chi Mùi – Âm Thổ. Thời gian là tháng 06.
- Số là 9, 11, 11
7. CUNG THÂN:

Là quẻ Khôn trong Bát Quái, tượng là đất bằng, bình địa.
- Người là bà già, mẹ già, mẹ kế, người nông thôn, đám đông người, tiểu nhân.
- Tượng thân thể là bụng, lá lách, thịt, dạ dày.
- Tính cách nhu mì, nhu thuận, biển lận.
- Hướng là Tây Nam, Ngũ hành là Âm Thổ, là đất Tràng Sinh Dương Thủy;
- Giữ Thiên can Canh – Dương Kim, giữ Địa chi Thân – Dương Kim.
- Thời gian là tháng 07.
- Số là: 7, 2, 8.
8. CUNG DẬU:

Là quẻ Đoài, tượng là ao đầm, mép nước, ao nhỏ, giếng bỏ đi.
- Nhân vật là thiếu nữ, là con gái út, là thầy bói, diễn viên, phiên dịch.
- Tính cách chỉ sự vui vẻ, cãi vã, miệng tiếng. Tượng thân thể là lưỡi, miệng.
- Ngũ hành là âm Kim, là đất Đế Vượng của Dương Kim.
- Hướng là chính Tây.
- Giữ Thiên can Tân – Âm Kim, giữ Địa chi Dậu – Âm Kim.
- Thời gian là tháng 08;
- Số là: 6, 7, 2.
9. CUNG TUẤT:

Là quẻ Thiên Trạch Lý, là có đi có lại (lời Kinh), tượng là cái giầy.
- Ngũ hành thuộc Dương Thổ, hướng là Tây Nam thiên Tây, là cửa Địa Võng, là đất mộ địa của Dương Hỏa – Thổ.
- Giữ Địa chi Tuất.
- Thời gian là tháng 09.
- Số là: 7, 13, 3.
10. CUNG HỢI:

Là quẻ Càn, tượng là Trời, là Cha, đại nhân, trưởng giả, người già, danh nhân, quan.
- Địa lí là kinh đô, quận lớn, địa hình hiểm yếu.
- Tượng thân thể là đầu, xương, phổi. Là vàng bạc, kim ngân, vật tròn.
- Tính cách cứng rắn, quả quyết, hoạt động.
- Ngũ hành thuộc Dương Kim, hướng Tây Bắc, là đất Tràng Sinh của Dương Mộc, giữ Thiên can Nhâm – Dương Thủy, giữ Địa chi Hợi – Âm Thủy;
- Số là 1, 6, 1. Thời gian là tháng 10.
11.CUNG TÍ:

Là quẻ Khảm, tượng là nước, là sông hồ.
- Người là trung nam, là giang hồ, trộm cướp.
- Tượng thân thể là tai, máu, thận, bụng.
- Tính cách là hiểm độc, là nguy, nhiều mưu lược;
- Ngũ hành thuộc Thủy, hướng là Chính Bắc, là đất Đế Vượng của Dương Thủy.
- Giữ Thiên can Quý – Âm Thủy, giữ Địa chi Tí – Dương Thủy.
- Số là 8, 1, 6.
- Thời gian là tháng 11.
12. CUNG SỬU:

Là quẻ Sơn Thủy Mông, thời mù mờ (lời Kinh). Ngũ hành thuộc Âm thổ, hướng là Đông Bắc thiên Bắc, là Mộ Địa của Dương Kim, giữ Địa chi Sửu – Âm Thổ.
- Số là 11, 9, 13. Thời gian là tháng 12 (tháng chạp).

KhongTu
02-14-2007, 03:10 PM
Khi ứng dụng vào môn Tử Vi, người luận giải rất cần thuộc và hiểu rõ tính lý các cung số nói trên. Bởi vì cuộc sống của mỗi cá nhân được ví như một vòng xoáy, có các vòng ngoài, các vòng trong… cuối cùng đều dẫn về một điểm. Vòng ngoài có các sao trong Tử Vi, còn vòng trong tàng ẩn tính lý của các cung, ví như Đất, như Nhà của các sao tại cung đó. Có thấu hiểu như vậy, mới tránh được duy lý, mới có thể luận lý một cách lô-gích và mềm dẻo, đưa ra những dự đoán sát với thực tế.
Có thể nêu một ví dụ: trong cuộc sống khi ta làm nhà cửa, cưới vợ gả chồng cho con cái… hay đi hỏi thày, và hay gặp câu: năm nay gặp hạn Kim Lâu. Đây là một môn bói trong Hoàng Lịch của các thuật sĩ Trung Quốc được truyền sang bên ta vào đời Tống. Các thày nói các tuổi 1, 3, 6, 8 (sau khi đã trừ đi bội số 9) đều phạm Kim Lâu. Như vậy tất cả các tuổi có số lẻ như trên đều không nên làm nhà, hoặc lấy vợ gả chồng. Vì sao như vậy? Thiết nghĩ vì ngày xưa cổ nhân chỉ để lại có câu đó mà không diễn giải, nên người đời sau tuân thủ máy móc và với dân số hiện nay thì nhiều người muốn làm nhà đều phạm cả! Nếu ta hiểu được các cung số của Địa Bàn sẽ thấy:
Ø Tháng Giêng kiến Dần, thuộc quẻ Cấn, thuộc hành Thổ, quẻ này nói nên Tĩnh, không nên Động, chỉ nên đi chơi vui vẻ thôi (Tiết khí Lập xuân thuộc quẻ Địa Thiên Thái) vì vậy không nên động thổ làm nhà.
Ø Tháng 03 thuộc tiết Thanh Minh, chỉ nên đi tảo mộ, sửa sang mộ phần cho người đã khuất, tiết khí thuộc quẻ Trạch Thiên Quải nói về sự nứt vỡ (5 quân tử quyết trừ một tiểu nhân). Lý tất nhiên cũng không nên động thổ làm nhà.
Ø Tháng 06 thuộc quẻ Địa Hỏa Minh Di, tiết khí vào thời Thiên Sơn Độn, làm nhà tất cũng bỏ mà đi, vì vậy cũng không nên động thổ làm nhà.
Ø Tháng 08 thuộc quẻ Đoái là tượng cái Đầm, tiết khí thuộc quẻ Phong Địa Quán là ý nên móng không vững, có việc cần xem xét, như vậy dễ gặp chuyện pháp luật, cũng không nên làm nhà. Do vậy 1 – 3 – 6 – 8 là những tháng trong năm không nên động thổ làm nhà.
Như vậy trường hợp do tuổi của mỗi người mà phạm Kim Lâu thì nên hiểu rằng chỉ có thể phạm nếu làm nhà vào các tháng như trên.
Ví dụ cụ thể hơn: một người mạng Hỏa làm nhà vào:
Ø Tháng 06 nếu là Quý Mùi thuộc Mộc, do vậy ngôi của người có tuổi mạng Hỏa gặp ngôi Phụ mẫu của nguyệt lệnh (mộc sinh hỏa), sẽ bị Kim Lâu Phụ, hại cho cha mẹ, hoặc hao tổn vì Cha mẹ.
Ø Tháng 06 nếu là Kỷ Mùi thuộc Hỏa, như vậy ngôi của người có tuổi mạng Hỏa gặp ngôi Huynh đệ của nguyệt lệnh, do vậy sẽ phạm Kim Lâu Mệnh, bản thân làm ăn không nên phải bỏ nhà cửa mà đi.
Ø Tháng 06 nếu là Ất Mùi thuộc Kim, gặp ngôi Thê tài của nguyệt lệnh, phạm Kim Lâu Thê, bị hại về đường vợ, hoặc tiền bạc.
Và như vậy ta thấy: rất cần phải thông tỏ các cung của Địa bàn, hiểu về Kinh Dịch, nhất là những người theo học Kinh Dịch lại càng phải thận trọng khi hành động, khi sử dụng vào thực tế