khanhhung2512
10-29-2008, 05:41 AM
Lần đầu tiên mình biết và quan tâm đến Kinh Dịch là khi nghe tin về thánh vật sông tô lịch rồi đến các bài về kinh dịch là của văn hiến lạc việt.Nhưng khi vào đây mình thực sự choáng ngợp về sự đa dạng của lý học phương đông,nào bát tự hà lạc,mai hoa,kỳ môn,giáp độn,nào nhâm,cầm,độn,toán,vân vân và vân vân(Mình ít hiểu biết nói có gì ngờ nghệch các cao thủ bỏ quá cho).Mong các cao thủ tốt bụng chỉ dẫn,giới thiệu tổng quan về các vấn đề của triết lý phương đông(hay gọi là cái gì đó cũng đc) giúp mình.Xin chân thành cảm ơn!
gaumeo
01-08-2009, 10:31 PM
trước tiên, bạn phải đọc qua về âm dương ngũ hành và bát quái thì mới có thể học các môn khác được.
Triết lý âm dương ngũ hành:
_Triết học Âm Dương Ngũ Hành là một hệ lý thuyết đa cấu trúc. Mỗi một cấu trúc là một tập hợp đầy đủ các đối tượng kết hợp với nhau đúng theo nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành. Tính chất Âm Dương Ngũ Hành của một đối tượng (trong một cấu trúc) được xác định đồng thời 2 yếu tố là tính chất Âm Dương và tính chất Ngũ Hành, tức là: một đối tượng được xác định tính chất là Âm (hoặc Dương) thì nhất thiết phải có cả tính chất xác định trong Ngũ Hành, và ngược lại, một đối tượng được xác định tính chất trong Ngũ Hành thì nhất định phải có tính chất xác định là Âm (hoặc Dương).
_Các cấu trúc cơ bản của Triết học Âm Dương Ngũ Hành gồm 5 cấu trúc sau:
-Cấu Trúc Thiên Can
-Cấu Trúc Địa Chi
-Cấu Trúc Nhân Thể
-Cấu Trúc Số
-Cấu Trúc Tượng
Kết hợp một cấu trúc này với một cấu trúc khác là một nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành hợp nhất trong Triết Học Âm Dương Ngũ Hành.
_Cơ bản của Âm Dương Ngũ Hành:
-Âm Dương Ngũ Hành gồm các đối tượng:
Âm Thổ, Dương Thổ.
Dương Kim, Âm Kim.
Dương Hỏa, Âm Hỏa.
Âm Thủy, Dương Thuy.
Âm Mộc, Dương Mộc.
-Luật Âm Dương Ngũ Hành gồm:
Luật Tương Sinh, Luật Tương Khắc là cơ bản và .v.v.
I-Nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành cơ bản của Cấu Trúc Thiên Can
Cấu Trúc Thiên Can có 10 đối tượng. Tính chất Âm Dương Ngũ Hành của 10 Thiên Can được xác định như sau:
Giáp có tính chất là Dương Mộc. Ất có tính chất là Âm Mộc.
Bính có tính chất là Dương Hỏa. Đinh có tính chất là Âm Hỏa.
Mậu có tính chất là Dương Thổ. Kỷ có tính chất là Âm Thổ.
Canh có tính chất là Dương Kim. Tân có tính chất là Âm Kim.
Nhâm có tính chất là Dương Thủy. Quý có tính chất là Âm Thủy.
II-Nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành cơ bản của Cấu Trúc Địa Chi
Cấu Trúc Địa Chi có 12 đối tượng. Tính chất Âm Dương Ngũ Hành của 12 Địa chi được xác định như sau:
Tý có tính chất là Dương Thủy.
Sửu có tính chất là Âm Thổ.
Dần có tính chất là Dương Mộc.
Mão có tính chất là Âm Mộc.
Thìn có tính chất là Dương Thổ.
Tị có tính chất là Âm Hỏa.
Ngọ có tính chất là Dương Hỏa.
Mùi có tính chất là Âm Thổ.
Thân có tính chất là Dương Kim.
Dậu có tính chất là Âm Kim.
Tuất có tính chất là Dương Thổ.
Hợi có tính chất là Âm Thủy.
III-Nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành cơ bản trong Cấu Trúc Nhân Thể (phần Tạng, Phủ và Kinh)
Trong hệ thống Kinh Lạc của Nhân thể có 12 Kinh chính, từ mỗi Kinh chính có một nhánh tách ra gọi là Kinh biệt. 12 Kinh biệt đi sâu vào cơ thể liên lạc với Tạng hoặc Phủ cùng tên.
1-Tính chất Âm Dương Ngũ Hành của 12 đường Kinh được xác định như sau:
Kinh Phế có tính chất là Dương Kim. Kinh Đại tràng có tính chất là Âm Kim.
Kinh Tỳ có tính chất là Dương Thổ. Kinh Vị có tính chất là Âm Thổ.
Kinh Tâm có tính chất là Dương Hỏa. Kinh Tiểu tràng có tính chất là Âm Hỏa.
Kinh Bàng quang có tính chất là Âm Thủy. Kinh Thận có tính chất là Dương Thủy.
Kinh Tâm Bào Lạc có tính chất là Âm Thổ. Kinh Tam Tiêu có tính chất là Dương Thổ.
Kinh Đởm có tính chất là Âm Mộc. Kinh Can có tính chất là Dương Mộc.
IV-Nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành cơ bản trong Cấu Trúc Số
1-Tiền đề Âm Dương Ngũ Hành của Hệ Thập Phân trong Cấu Trúc Số
Thiên nhất sinh Thuỷ, Địa lục thành chi
Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi
Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi
Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi
Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi
Trời lấy số 1 mà khởi sinh hành Thuỷ, Đất lấy số 6 mà tạo thành hành Thuỷ.
Đất lấy số 2 mà khởi sinh hành Hỏa, Trời lấy số 7 mà tạo thành hành Hỏa.
Trời lấy số 3 mà khởi sinh hành Mộc, Đất lấy số 8 mà tạo thành hành Mộc.
Đất lấy số 4 mà khởi sinh hành Kim, Trời lấy số 9 mà tạo thành hành Kim.
Trời lấy số 5 mà khởi sinh hành Thổ, Đất lấy số 10 mà tạo thành hành Thổ.
Các số lẻ 1,3,5,7,9 gọi là số của Trời, số Dương hay số Cơ, trong đó 1,3,5 là số Sinh của Trời, 7,9 gọi là số Thành của Trời.
Các số chẵn 2,4,6,8,10 gọi là số của Đất, số Âm hay số Ngẫu, trong đó 2,4 gọi là số Sinh của Đất, còn 6,8,10 gọi là số Thành của Đất.
2-Nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành của Hệ Thập Phân trong Cấu Trúc Số
Số 1 có tính chất là Dương Thủy, số 6 có tính chất là Âm Thuỷ.
Số 2 có tính chất là Âm Hỏa, số 7 có tính chất là Dương Hỏa.
Số 3 có tính chất là Dương Mộc, số 8 có tính chất là Âm Mộc.
Số 4 có tính chất là Âm Kim, số 9 có tính chất là Dương Kim.
Số 5 có tính chất là Dương Thổ, số 10 có tính chất là Âm Thổ.
3-Hệ quả Âm Dương Ngũ Hành của Hệ Thập Phân trong Cấu Trúc Số
Theo luật Ngũ Hành sinh, khắc Hệ Thập Phân trong Cấu Trúc Số được sắp xếp thành 2 đồ hình Hà đồ và Lạc thư.
V-Nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành trong Cấu Trúc Tượng
Trong Thiên thượng của Hệ Từ Truyện có viết:
Vì lời không diễn hết ý (của Âm Dương Ngũ Hành) nên phải đặt ra "Tượng" để diễn hết ý. Lại viết, Dịch là hình tượng (hào, quái): hình tượng là phỏng theo, là tương tự. Dịch có Thái cực, Thái cực sinh ra Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng, Tứ tượng sinh ra Bát quái.
-Thái Cực là Hành Thổ
-Nghi Âm là Âm Thổ và Nghi Dương là Dương Thổ.
-Thái Dương là Hành Kim
-Thiếu Dương là Hành Hỏa
-Thiếu Âm là Hành Thủy
-Thái Âm là Hành Mộc
-Càn là Dương Kim và Đoài là Âm Kim, (có quan hệ sinh khí thượng biến).
-Ly là Dương Hoả và chấn là Âm Hoả, (có quan hệ sinh khí thượng biến).
-Tốn là Âm Thuỷ và Khảm là Dương Thuỷ,(có quan hệ sinh khí thượng biến).
-Cấn là Âm Mộc và Khôn là Dương Mộc,(có quan hệ sinh khí thượng biến).
VI-Nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành Hợp Nhất
Kết hợp một cấu trúc này với một cấu trúc khác là một nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành hợp nhất trong Triết Học Âm Dương Ngũ Hành. Kết hợp các đối tượng trong Cấu Trúc Tượng với Hà Đồ và Lạc Thư trong Cấu Trúc Số sẽ được Hệ Quả là Hình Bát Quái Tiên Thiên và Hình Bát Quái Hậu Thiên:
Quái Khảm an tại cung số 1
Quái Tốn an tại cung số 6
Quái Càn an tại cung số 9
Quái Đoài an tại cung số 4
Quái Ly an tại cung số 7
Quái Chấn an tại cung số 2
Quái Cấn an tại cung số 8
Quái Khôn an tại cung số 3
Các Quái an tại các cung Số như vậy chỉ là tuân theo quy tắc tính chất Âm Dương Ngũ Hành tương ứng.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết về vũ trụ và con người có từ lâu đời. Nền tảng của nó về phương diện khoa học thì chưa được bàn đến một cách rốt ráo. Nhưng những ứng dụng của nó trong cuộc sống hàng ngày thì đã trở thành quen thuộc. Bài viết này sẽ giải thích về thuyết Âm Dương Ngũ hành và cách ứng dụng của nó trong việc lựa chọn nhân sự, đối tác trong công việc lẫn trong cuộc sống.
Trước khi nói về chuyện ứng dụng xét hợp khắc của một mối quan hệ, tôi bắt đầu bằng giải thích sơ lược về thuyết Ngũ hành và Ngũ hành nạp âm của bản mệnh.
Thuyết Âm Dương Ngũ hành: Đây thực ra là 2 thuyết khác nhau, nhưng tạo thành nền tảng luận lý cho quan điểm Phương Đông về vũ trụ, nên được gộp chung làm một. Âm Dương là quy luật bao trùm vũ trụ, mọi thứ sinh ra đều có thuộc tính âm hoặc dương. Ngũ hành, gồm Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ cũng là như thế, mỗi thứ đều có thuộc tính ngũ hành.
Tuy nhiên, thuộc tính ngũ hành chỉ là "tượng", tức là tên gọi của "khí", không phản ánh bản chất thật của cấu trúc duy lý của "thể". Có nghĩa là một vật thuộc ngũ hành là "thuỷ", không có nghĩa vật ấy là nước. Cũng như bạn sinh vào năm 1982, bản mệnh là Thuỷ, thì khí chất của bạn thuộc "Thuỷ", chứ bạn không phải là "nước".
Quan hệ giữa năm hành là quan hệ sinh khắc. Tính theo thứ tự Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ thì 2 hành kề nhau là tương sinh, 2 hành cách nhau là tương khắc. Quan hệ này cũng chỉ diễn ra theo chiều thuận, tức Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim. Khắc là Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ. Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ khắc Hoả, Hoả khắc Kim.
Ngoài quan hệ này, khi phân Âm Dương của hành, ứng dụng lý động của Dịch, người ta còn thấy một quan hệ nữa, gọi là "ký tế". Tức là Thuỷ khắc Hoả, nhưng Âm Hoả, khi thịnh lại cầm giữ không cho Dương Thuỷ vượng. Chữ "ký tế" được dùng cũng là tên của quẻ thứ 63 của Dịch (nghĩa quẻ là cầm giữ, lộn xộn, chưa xong).
Ngũ hành nạp âm: Mỗi một niên giáp gồm có 2 thành tố: thiên can và địa chi. Thiên can gồm Giáp Ất (Mộc), Bính Đinh (Hoả), Mậu Kỷ (Thổ), Canh Tân (Kim), Nhâm Quý (Thuỷ). Địa chi gồm Dần Mão (mộc), Thìn (Thổ), Tỵ Ngọ (Hoả), Mùi (Thổ), Thân Dậu (Kim), Tuất (Thổ), Hợi Tý (Thuỷ). Phối hợp của 10 can và 12 chi thành 60 hoa giáp, từ Giáp Tý đến Quý Hợi là 60 năm.
Sự phối hợp của Thiên can và Địa chi lại ra một ngũ hành mới, gọi là ngũ hành nạp âm. Nguyên lý của ngũ hành nạp âm của cổ nhân vẫn có nhiều điều chưa rõ, chỉ biết là nó được chia theo các cung của nhạc lý cổ (Cung Thương Cốc Chuỷ Vũ), nên gọi là nạp âm. Sự phối hợp này dẫn đến như tuổi 1972 là Nhâm (Thuỷ) Tý (Thuỷ) lại là Mộc, còn 1975 Ất (Mộc) Mão (Mộc) lại là Thuỷ.
Mỗi nạp âm còn có một "tượng" đi theo, như Mộc thì có Bình địa Mộc, Tùng bách Mộc, Tang đố Mộc..., Thuỷ thì có Giản hạ Thuỷ, Đại hải Thuỷ, Trường lưu Thuỷ...
Ứng dụng của việc xét sinh khắc: Theo quan niệm Phương Đông, mỗi con người là một tiểu vũ trụ, nên chịu chi phối bởi các quy luật vũ trụ, trong đó hiển nhiên là bị chi phối bởi quy luật sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành.
Việc xét sinh khắc có thể chia nhỏ thành 2 quy tắc như sau:
Quy tắc 1: Trong quan hệ tương sinh, hành được sinh (sinh nhập) hưởng lợi, hành bị sinh (sinh xuất) sẽ bị hao. Trong quan hệ tương khắc, thì hành khắc (khắc xuất) sẽ vất vả, còn hành bị khắc (khắc xuất) sẽ lao đao.
Quy tắc 2: Quan hệ ngôi thứ bên ngoài phải phản ánh đúng quan hệ sinh khắc. Đây cũng chính là nguyên lý "chính danh" mà ta thấy từ Nho giáo. Theo quy tắc này, thì việc lựa chọn đối tác, vợ chồng, cấp trên, cấp dưới phải đúng ngôi thứ.
Kết hợp 2 quy tắc trên, ta có thể đưa ra vài nguyên tắc chung:
1) Chọn cấp dưới: Nếu bạn muốn có một cấp dưới tuyệt đối phục tùng, thì nên chọn một người có bổn mệnh bị khắc. Như người mệnh Kim, nên chọn cấp dưới là mệnh Mộc, người mệnh Thuỷ nên chọn cấp dưới là người mệnh Hoả... Nhưng nếu bạn muốn chọn một người có khả năng suy nghĩ độc lập hơn, không bị bạn chế áp hoàn toàn, thì nên chọn một người có bổn mạng sinh xuất cho bạn.
2) Chọn bạn làm ăn: Việc chọn đối tác là việc cần kỹ lưỡng. Đầu tiên là bạn phải cân nhắc về mình và lựa chọn vai trò của mình trong quan hệ đối tác đó. Nếu bạn đủ năng lực đứng đầu, hãy làm ăn với người sinh xuất cho bạn. Nếu bạn là người quyết đoán, nên chọn đối tác bị bạn khắc. Còn nếu bạn thiếu khả năng quyết định, hay cần có ai đó đứng cao hơn mình, thì đừng ngại việc chọn một người mà mệnh của bạn sinh xuất cho người đó. Dĩ nhiên, không nên chọn người mà bổn mệnh của bạn bị khắc (lép vế đủ đường).
3) Chọn vợ chồng: Do ngôi thứ của quan hệ vợ chồng bao giờ cũng coi chồng là chính, vợ là phụ, nên gia đạo sẽ yên ổn nếu mệnh của vợ bị mệnh của chồng khắc (bảo đảm phục tùng) hoặc mệnh vợ sinh cho mệnh chồng (vượng phu). Nhưng nếu chồng lớn tuổi, có vai vế hơn vợ nhiều, thì cũng không ngại nếu mệnh chồng sinh xuất cho mệnh vợ (kiểu chồng chiều chuộng, bao bọc vợ). Tối kỵ là mệnh chồng bị mệnh vợ khắc xuất.
Một số quan niệm không đúng, hoặc không đủ nguyên lý nền tảng:
1) Tính hợp xung dựa trên chi của tuổi: Địa chi của tuổi (Tý, Sửu, Dần, Mão...) không quan trọng. Nên tuổi trong tam hợp vẫn có thể bị xung khắc. Cũng không có lý do gì sợ các tuổi như Thìn Tuất, Sửu Mùi, Dần Thân, Tý Ngọ... vì đó chỉ là những cặp cung xung chiếu nhau trên đồ bàn tử vi, không liên quan đến chuyện xung hợp tuổi.
2) Tính xung hợp dựa trên can của tuổi: Tương tự như trên, thiên can không có vai trò gì trong cách tính hợp xung cả. Thiên can, Địa chi chỉ quan trọng với từng tuổi một mà thôi. Nói thêm, Thiên can, Địa chi và ngũ hành nạp âm có thể coi là 3 yếu tố Thiên, Địa, Nhân của mệnh, ví như tuổi Nhâm Tý, do cả can và chi đều thuộc Thuỷ, trong khi nạp âm là Mộc, nên mệnh được Thiên Địa nuôi dưỡng, thành ra tuổi này là tuổi Thiên Địa đồng quy. Như Canh Tý, thì Canh thuộc Kim, Tý thuộc Thuỷ, nạp âm là Mộc nên đây là tuổi may mắn (do Kim sinh Thuỷ, Thuỷ dưỡng Mộc), còn gọi là tuổi Bạch Mã quá giang (như con ngựa của Huyền Trang, chỉ vì chở thầy qua sông mà may mắn thành Phật).
3) Tính xung hợp trên tượng của nạp âm: Có người lý luận Sơn đầu Hoả (lửa trên núi) làm sao bị Đại hải Thuỷ (nước biển lớn) khắc được. Hay Kiếm phong Kim (vàng đầu lưỡi kiếm) làm sao bị Tích lịch Hoả (lửa sấm sét) khắc được. Hay lý luận Bình địa Mộc (cây cỏ) là một loại tiểu mộc nên không thể hưởng lợi từ Đại hải Thuỷ. Chưa có một nguyên lý nào ủng hộ những luận điểm này, và về nguyên tắc, không thể lấy tượng (tức là hình thức bề ngoài) để xét cho thể (là chất bên trong), nên đây là cách lý luận thiếu cơ sở.
huynhthanhchiem
01-09-2009, 05:05 AM
Chào gaumeo
Trong thập nhị chi : Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi ta thấy có bốn cặp tứ hành xung : Thìn Tuất Sửu Mùi, Tí Ngọ Mẹo Dậu, Dần Thân Tị Hợi .
Nhưng chỉ có một trường hợp tam hình : Dần Tị Thân. Gaumeo hiểu trường hợp này như thế nào, các cao nhân khác cho ý kiến nhé
huynhthanhchiem
01-14-2009, 06:41 AM
Chào gaumeo !
Trong quyển sách mình đang có trong tay là Đại Diệc toàn bộ mà tác giả là Lê Văn Nhàn- Vĩnh Long in năm 1957 xuất bản lần đầu tiên , bản quyền của nhà in TÍN ĐỨC THƯ XÃ :
Trích : Trang 68 , bài số 23 nói về Địa chi xung hiệp
- Lục hiệp : Tí Sửu hiệp; Dần Hợi hiệp; Mẹo Tuất hiệp; Thìn Dậu hiệp, Tị Thân hiệp; Ngọ Mùi hiệp là tốt
- Lục xung : Tí xung Ngọ, Sửu xung Mùi; Dần xung Thân; Mẹo xung Dậu; Thìn xung Tuất; Tị xung Hợi
Tam hiệp ; Thân Tí Thìn hiệp thành Thủy cuộc - Dần Ngọ Tuất họp thành Hỏa cuộc - Hợi Mẹo Mùi hiệp thành Mộc cục - Tỵ Dậu Sửu hiệp thành Kim cuộc
Tam hình : Dần Tỵ Thân tam hình, Sửu Tuất Mùi tam hình
Nhị hình : Tí hình Mẹo, Mẹo hình Tí
Tứ hình : Thìn Ngọ Dậu Hợi
Lục hại : Tí hại Mùi, Sửu hại Ngọ; Dần hại Tỵ, Mẹo hại Thìn, Thân hại Hợi, Dậu hại Tuất. Còn tam hiệp hội cuộc, như Thân Tí Thìn họp thành Thủy cuộc, nó lâm vô Kỵ thần, là hào Tí., nó khắc hào Hỏa là hào dụng thần xấu lắm, nặng lắm..
Còn tam hiệp hội cuộc, như Thân Tí Thìn họp thành Thủy cuộc, nó lâm vô Kỵ thần, là hào Tí., nó khắc hào Hỏa là hào dụng thần xấu lắm, nặng lắm.. . Bạn hiểu đoạn này như thế nào ? Các cao nhân khác cho ý kiến nhé...Cảm ơn !
haicon vit
02-20-2009, 07:23 PM
cho em hỏi, hình: Tức là gia đạo hình khắc, xung là xung khắc, hại là làm cho nhau ko làm ăn dc, bệnh hoạn, có phải vậy ko ạ?
Ai biết rõ sự khác nhau và tác hại của từng loại "khắc" này xin phân tích giúp em.
Còn về chuyện vợ chồng khắc nhau, theo lý, và theo các cụ ngày xưa, lễ giáo gia phong thì chồng khắc vợ, dạy vợ, vợ phục tùng cúc cung mới thuận. Nhưng em thấy, những gia đình mà chồng làm lớn bên ngoài, về nhà gặp vợ là nội tướng, sợ vợ 1 phép, cũng có phần êm ấm. Chồng ngoan và ko sinh tật nhiều.
(Tất nhiên ko phải kiểu khắc chồng là dạng "bà chằn lửa" hở tí là la hét đánh dập ông chồng rùi, hix. Kiểu đó ai chẳng chạy dài.)
Lại thấy mấy nhà chồng khắc vợ, chồng nóng nảy, thiếu ga lăng, hung dữ và gia trưởng, giành mọi quyền làm chủ. Phận là nữ nhi em ko hài lòng như vậy. Chồng nhường nhịn bảo ban vợ mới tốt. Hay tại thời thế nay khác xưa rồi?
Vượng phu ích tử như kiểu vợ cụ Tú Xương thì thật, ai nói là sướng. :(
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với 1 chồng
Mấy chuyện này em ko hiểu hết, ai hiểu thì chỉ em với.
Powered by vBulletin® Version 4.1.5 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.