PDA

View Full Version : Bách Niên Nhất Mộng



Phuocthong
10-11-2007, 08:49 PM
Thiền sư Đàm Dĩnh ở Kim Sơn vốn người vùng Chiết Giang, họ Khâu, hiệu là Đạt Quan. Năm 13 tuổi, ông xuất gia quy y ở chùa Long Hưng. Năm 18 tuổi, sư đến kinh đô, trú tại hoa viên nhà thái úy Lý Đoan Nguyện.

Một hôm Lý thái úy hỏi sư rằng :” Người ta thường nói tới địa ngục, vậy rốt cuộc nó có tồn tại hay chăng?”

Sư đàm Dĩnh đáp : “ Chư Phật Như Lai thuyết pháp, trong không mà lại có , như mắt thấy quầng sáng trong không trung, vậy tuy có mà lại không . Bây giờ thái úy đang ở trong hiện hữu (hữu) mà muốn tìm kiếm cái không hiện hữu (vô) , cũng như đưa tay vốc nước sông, là trong không mà có , điều đó quả là đáng buồn cười vậy. Ví như người trước mắt chỉ thấy lao tù thì trong lòng sao có thể thấy được thiên đường ? Vui vẻ hay lo âu đều nơi tâm, mà thiên đường hay địa ngục cũng ở giữa nhất niệm (suy nghĩ), thiện hay ác cũng đều sinh ra từ đó. Nhưng nếu thái úy đọan trừ (liễu) được tự tâm ấy, thì tự nhiên sẽ không còn nghi hoặc gì nữa “

Thái úy : “ Vậy như thế nào mới gọi là liễu tâm ?”

Sư : “ Đừng suy nghĩ đắn đo về thiện – ác “

Thái úy : “ Nếu không suy nghĩ đắn đo về thiện – ác, thì tâm biết nương tựa vào đâu ? “

Sư : “ Tâm không nương tựa vào nơi nào cả, như kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm “.

Thái úy : “ Vậy khi chết, người ta về đâu “

Sư : “ Chưa biết sinh, sao có thể biết tử “

Thái úy : “ Sinh thì tôi đã biết từ lâu rồi “

Sư : “ Vậy xin hỏi ngài : Sinh tử đâu tới ? ”

Khi thái úy còn đang trầm ngâm, thì sư Đàm Dĩnh thoi vào ngực mà nói : “ Chỉ tại suy nghĩ đắn đo ở đây (tâm) chứ còn gì nữa ? “

Thái úy : “ Hiểu rồi, chỉ mải mê muội mà không hay đã lầm đường lạc lối, phí thời gian “

Sư : “ Cuộc đời như là một giấc mộng (Bách niên nhất mộng)

Thái úy tỉnh ngộ, liền ngâm rằng :


Ba mươi tám tuổi
Mơ màng chẳng hiểu chi
Đến khi hiểu biết
Cũng nào khác vô tri
Nước sông cuồn cuộn chảy
Âm ỉ theo sườn đê,
Ngày nào sự khuất bóng
Như biển đông sóng về “

Người ta nói : “ Sinh từ đâu tới ? Tử đi về đâu ?

Đây là một vấn đề mà con người thường nghĩ tới, thậm chí đã trở thành đề tài nghiên cứu tìm tòi của nhiều người. Nhưng chưa ai có lời giải đáp thỏa mãn. Phật Thích Ca và các thiền sư xưa đã đưa ra nguyên lý, nhưng lại không giải thích cặn kẽ cho thường nhân thấu triệt. Thành ra căn nguyên của sinh mệnh từ ngàn xưa đến nay vẫn là vấn đề luôn được nhiều người quan tâm tranh luận. Kỳ thực, hình tướng của sinh mệnh tuy có thiên sai vạn biệt, song lý tình của sinh mệnh là : ” Tất cả đều bình đẳng ” . Nếu có thể hiểu rõ được các nghĩa lý của Phật giáo như duyên khởi tính không, tam pháp ấn, nghiệp thức và nhân qủa, thì vấn đề : Sinh từ đâu tới ? Chết về đâu ? không hỏi cũng có thể biết được vậy.


(Theo Chan Gushi – Trích trong Tạp chí Kiến thức ngày nay số 618)

Phuocthong
11-22-2007, 10:51 PM
Thiền sư Đỉnh Châu cùng một sa di đi ngang qua sân chùa. Bỗng một cơn gió ào tới, lá trên cây rụng xuống ào ào. Sư cúi xuống nhặt từng chiếc lá bỏ vào trong túi. Sa di thấy vậy bèn hỏi : “ Thiền sư không phải nhặt đâu, mỗi buổi sáng chúng ta đều sẽ quét dọn mà !”

Sư Đỉnh Châu điềm nhiên “ Không thể nói vậy được, chẳng lẽ quét dọn thì chắc sạch hết được sao ? Ta năng nhặt từng chiếc thế này, sẽ khiến cho mặt đất thêm sạch sẽ “

Sa di : “ Nhưng lá rụng nhiều như vậy, ông nhặt đằng trước, nó lại rụng đằng sau, vậy nhặt bao giờ cho hết “

Đỉnh Châu : “Lá không chỉ rụng trên mặt đất mà lá còn rụng trong tâm chúng ta. Ta nhặt lá rụng trong lòng ta hẳn có lúc sẽ sạch”

Ngày xưa, khi Phật Đà còn tại thế, có một đệ tử tên là Chu Lợi Bàn Đà Gia rất đần độn. Anh ta đọc một bài kệ được câu sau thì đã quên câu trước. Phật hỏi biết làm gì, anh ta nói biết quét sân. Phật bèn bảo anh ta khi quét sân hãy niệm câu “Phất trần tảo cấu” (quét bụi quét bặm) . Anh ta làm theo như vậy, một thời gian lâu và nghĩ bụng : Bụi bẩn bên ngòai thì dùng chổi mà quét, vậy còn bụi bẩn trong lòng thì phải dùng cái gì mà quét ?

Nghĩ được như vậy, là Chu Lợi Bàn Đà Gia đã bắt đầu trở nên thông minh rồi vậy.

Người ta nói : Thiền Sư Đỉnh Châu nhặt lá rụng chính là nhặt những vọng tưởng và phiền não trong tâm. Khắp sông núi bao la có biết bao nhiêu là lá rụng, làm sao có thể nhặt hết ? Nhưng lá rụng trong tâm thì nhặt được một chiếc lá, là bớt đi một chiếc. Chỉ cần Thiền giả an tâm thì lập tức thấy tất cả đại thiên thế giới. Và chỉ cần tâm an tĩnh thì ai ai cũng có thể nhặt hết được những chiếc lá rụng trong lòng mình.

(Theo Chan Gushi)

KhongTu
11-23-2007, 10:08 PM
Khongtu nhớ có một thành viên hỏi "làm sao cho Tâm an tĩnh?", cái gì cũng rèn, cũng luyện, hiểu được "Đạo", biết được "Đạo", làm theo "Đạo" là con đường nhanh nhất để "Tâm tịnh", ấy thế nên Lão Tử đã viết Đạo Đức Kinh đó thôi, sống là Dương(+), tử là âm (-), mặt trời là Dương (+), mặt trăng là âm (-), âm - dương luôn tồn tại tạo nên sự ích dụng của vạn vật

Phuocthong
11-27-2007, 10:35 PM
Có một học tăng mộ danh thiền sư Trí Thường, bèn tìm đến đạo tràng của sư tham bái.

Khi ấy sư đang giẫy cỏ, chợt trong cỏ rậm có một con rắn chạy ra, sư liền giơ cuốc giết. Vị học tăng nọ thấy vậy rất ngạc nhiên, bèn nói :

– Lâu nay tôi vẫn ngưỡng mộ đạo phong từ bi của ngài, nhưng đến đây, chỉ thấy một tục nhân thô lỗ mà thôi.

Thiền sư Trí Thường nói :

– Như lời ông nói vậy thì ông thô tục, hay tôi thô tục ?

Vị học tăng vẫn không vui, hỏi lại :

– Cái gì là thô tục ?

Thiền sư giơ lưỡi cuốc lên, làm động tác chém rắn.

Vị học tăng không hiểu ẩn ý của thiền sư, nói :

– Điều huyền vi mà ngài nói, người ta không thể hiểu rõ !

Sư Trí Thường hỏi vặn lại :

– Nếu không dựa vào cách nói huyền vi như vậy, xin hỏi ông nhìn thấy tôi chém rắn bao giờ ?

Vị học tăng không khách khí nói luôn :

– Mới vừa đó thôi !

Thiền sư Trí Thường nghiêm giọng tiếp :

– Ông “mới vừa” không thấy được mình, sao lại thấy chuyện chém rắn làm gì ?
Cuối cùng vị học tăng mới tỉnh ngộ

Người ta nói :

Trong Phật môn, sát tinh là một trong những đại giới (điều cấm) mà lịch sử Thiền Tông từng có chuyện thiền sư Nam Tuyền chém mèo. Nhưng hành động bất ưng của sư Nam Tuyền là đại cơ đại dụng của cổ Phật, không thể lý giải chuyện giết mèo theo nghĩa hẹp thông thường mà nhạo báng đại đức của ông. Đó là việc lấy thủ làm thế, chém đứt vật dục và chấp trước của thường nhân để điểm hóa cho các để tử của ông.

Chuyện sư Trí Thường chém rằn cũng tương tự như vậy, nhưng vị học tăng thấy gió ngỡ mưa, cho nên mới cho rằng thiền sư Trí Thường không có lòng từ bi. Thực chất đó là hành động điểm ngộ cho vị học tăng :Không nên câu chấp vào những điều thấy, nghe và cảm giác thông thường. Thiền là phải đọan trừ thường tình, thường thức; tại sao cứ phải phân biệt chấp trước ngọai cảnh mà không nhìn lại chính mình ?


(Theo Chan Gushi)

Phuocthong
12-01-2007, 07:55 AM
Văn Đạo là một du tăng, vì lòng ngưỡng mộ đạo phong của thiền sư Huệ Huân, nên không quản treo non lội suối, vượt ngàn dậm đến tham bái.

Văn Đạo : “Mạt học Văn Đạo vốn mộ đạo phong của ngài từ lâu. Nay tìm đến đây xin ngài mở lượng từ bi khai ngộ cho ! ”

Huệ Huân : “ Bây giờ trời đã tối, ngươi hãy tạm trú lại đây đã !”

Sáng hôm sau, khi Văn Đạo tỉnh giấc, đã thấy sư Huệ Huân đang nấu cháo. Lúc ăn, vì trong động thiếu bát, nên sư Huệ Huân với tay ra ngòai nhặt một chiếc đầu lâu nhỏ, múc đầy cháo đưa cho Văn Đạo. Khi Văn Đạo còn đang chần chừ không biết có nên tiếp lấy cái bát cháo đáng sợ đó hay không, thì sư Huệ Huân nói :

“ Người không có đạo tâm, không thực sự đến đây vì pháp. Người lấy sự phân biệt thanh tịnh – ô uế và yêu – ghét để xử sự tiếp vật. Như vậy thì làm sao có thể đắc đạo ?”.

Người ta nói :

Yêu-Ghét, Phải-Trái, Được-Mất, Sạch-Bẩn … đó đều lấy Tâm phân biệt mà nhận thức thế giới. Thiền gia cho rằng Đạo chân chính thì không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không ở sạch, không ở bẩn. Cho nên lòng phân biệt yêu-ghét, chối-nhận của Văn Đạo bị cho là Không Có Đạo Tâm.


(Theo ChanGushi)

Phuocthong
12-07-2007, 10:35 PM
Thiền Sư Đức Sơn (780-865, thời Đường) là bậc đại sư gảing kinh thuyết pháp ở miền Bắc. Nhưng vì bất mãn với thuyết Giáo ngọai biệt truyền của Thiền Môn miền Nam, nên sư khăn gói mang bộ Thanh Long sớ sao do chính sư giảng giải kinh Kim Cang lên đường Nam hành, ý muốn “pháp chiến” một phen với các thiền sư Nam tông. Đến nơi, sư hỏi một bà lão rằng gần đây có vị cao tăng nào không. Bà lão chỉ đến thiền sư Long Đàm.

Đức Sơn tìm đến, vừa thấy Long Đàm đã hỏi ngay : “ Đây là nơi nào ?”

Long Đàm : “ Long Đàm ! “

Đức Sơn : “ Đã gọi là Long Đàm sao không thấy Rồng (Long) mà cũng chẳng thấy đầm (đàm) đâu vậy ? “

Long Đàm : “Thật khổ cho ngươi, ngươi đã đến Long Đàm rồi đấy !”

Đêm hôm ấy, Đức Sơn đứng trước thiền phòng của Long Đàm rất lâu, mãi đến khi Long Đàm bước ra nói :“ Đêm đã khuya lắm rồi, ngươi còn đứng đó làm gì !”

Trước lúc cáo từ Long Đàm, sư Đức Sơn ngóai lại nói : “Bây giờ bên ngòai tối như mực, tôi mới đến không biết phương hướng “

Sư Long Đàm bèn châm một ngọn nến đưa cho Đức Sơn. Khi Đức Sơn đưa tay ra toan tiếp lấy, Long Đàm liền thổi tắt. Lúc này Đức Sơn bỗng đại ngộ, liền quỳ xuống lạy tạ Long Đàm. Sư Long Đàm hỏi : “ Người đã thấy gì ?”

Đức Sơn : “Từ nay về sau, tôi chẳng còn hoài nghi lời của các thiền sư trong thiên hạ nữa “

Hôm sau, Đức Sơn mang bộ Thanh Long sớ sao vừa đốt vừa ca : “ Cùng chư huyền biện, nhược nhất hào trí ư thái hư, kiết thế khu cơ, tự nhất trích đầu ư cự hách” (Tận cùng biện luận siêu nhiên, như sợi lông thả giữa miền hư không, tận cùng cơ yếu thế nhân, như giọt nước giữa vô ngần đại dương)

Người ta nói : “ Nói cho cùng, kinh điển vẫn phân biệt tri thức. Thiên môn vô ngôn, chung quy là vô phân biệt tâm chứng ngộ. Đêm tối mù mịt, chấm nến rồi tắt, ý là “sau khi dập tắt ánh sáng bên ngòai, thì thiền qua trong lòng sẽ bừng dậy. Và Thiền quang ấy chính là chân ngã , cái gọi là ngôn ngữ văn tự, ý thức phân biệt đều chỉ như một giọt nước nhỏ nhoi giữa lòng đại dương mà thôi.


(Theo ChanGushi)

thichhuetang
12-07-2007, 11:02 PM
Cám ơn Phuocthong nhọc công post những bài hay chia sẻ cùng mọi người

Phuocthong
11-11-2008, 04:14 AM
TÂM ĐỘNG

Sau khi được Ngũ tổ Hoàng Nhẫn trao y bát, Huệ năng đi về Nam Hải. Lúc qua chùa Pháp Tính, gặp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn, sư ghé vào.

Trong buổi giảng kinh, chợt lá cờ cắm trước cửa chùa bay phất phới. Một vị tăng kêu lên : “Cờ động”.

Vị tăng bên cạnh cãi :”Đó là gió động”.

Không ai chịu ai, tranh luận rất hăng. Huệ năng đến gần hai vị tăng, lắng nghe một lát rồi từ tốn nói : “Không phải cờ động, cũng không phải gió động, mà là tâm của hai vị đang động”.

Hai vị tăng nghe vậy, hốt nhiên đại ngộ.


(Theo Chan Gushi của Ma Trí)

Phuocthong
11-24-2008, 01:54 AM
Có một tín đồ hỏi thiền sư Mặc Tiên : “Vợ tôi tính keo kiệt, bủn xỉn, không chịu bỏ ra dù một đồng để làm việc tốt. Vậy ngài có thể mở lòng từ bi đến nhà tôi khai thị cho cô ấy, được không ?”

Sư Mặc Tiên đồng ý.

Khi sư đến, vợ người tín đồ ra đón, nhưng không có lấy một tách trà. Sư Mặc Tiên bèn nắm lấy một bàn tay lại, nói với chị ta : “ Cô nhìn tay của ta xem. Nếu ngày nào cũng như vậy, thì cô nghĩ sao?”

Vợ người tín đồ : “Nếu ngày nào cũng nắm lấy như vậy, tất sẽ sinh bệnh và trở nên kỳ hình dị dạng thôi !”

Sư lại duỗi thẳng bàn tay ra, hỏi : “ Vậy gỉa như ngày nào cũng như thế này thì sao?”

Vợ người tín đồ : “Như thế cũng là dị dạng !”

Sư Mặc Tiên : “Cô nói không sai, như vậy đều là kỳ hình dị dạng. Nếu chỉ biết ki bo, không biết bố thí, là dị dạng. Nhưng nếu chỉ biết hoang phí, không lo dành dụm thì cũng là dị dạng. Cho nên phải biết sử dụng tiền bạc của cải cho đúng, có vào có ra mới là hợp lý”

Người ta nói :

Trên thế gian, có người qúa hà tiện, có người lại qúa xa xỉ. Đó đều không phải là nghĩa trung đạo của nhà Phật. Người hà tiện phải biết kết duyên với hỉ xả, đó là nhân tạo ra qủa tài qủa lộc, không gieo trồng thì làm sao có gặt hái? Ta nên biết điều hòa giữa quan niệm kinh tế và cách xử sự giữa người với người. Đó là ẩn dụ trong cái nắm tay của thiền sư Mặc Tiên.


(Theo Chan Gushi)

Phuocthong
12-19-2008, 01:21 AM
Có anh nọ đang đi, chợt trời đổ mưa vội ghé vào hiên nhà bên đường để tránh. Khi ấy có một nhà sư trẻ cầm dù đi qua, người kia muốn chọc sư một phen, bèn gọi lớn : “Thiền sư ơi ! Phổ độ chúng sinh một chút được không ?”.

Sư đáp :”Ta đang trong mưa, ngươi đang trong hiên; mà dưới hiên không ướt, cho nên ngươi không cần ta phải độ “.

Anh nó lập tức chạy ra ngoài, đứng trong mưa và nói :”Bây giờ tôi cũng đang trong mưa, hãy độ tôi với !”

Sư nói :”Ta đang trong mưa, ngươi cũng đang trong mưa; ta không bị ướt vì ta có dù, còn ngươi bị ướt vì ngươi không có dù. Cho nên không phải là ta độ ngươi, mà là cái dù độ ta. Ngươi muốn được độ, thì tìm ta làm gì ! Đi tìm dù của người đi !”.

Nói xong sư tiếp tục đi. Để anh nọ ở lại bẽ bàng.


(Theo Chan Gushi của Ma Trí)

Phuocthong
01-15-2009, 04:33 AM
Một vị sư già ngồi tọa thiền bên đường. Mắt nhắm chặt, chân xếp chéo và hai bàn tay đặt trên đùi, vị sư cứ ngồi thiền với một phong thái rất tịnh tâm như thế.

Bỗng nhiên, sự tĩnh mặc của vị sư bị phá ngang bởi một giọng nói chói tai của một gã võ sĩ không biết từ đâu đến. Hắn yêu cầu:

– “Vị sư kia! Hãy nói cho ta biết thế nào là Thiên đàng và Địa ngục!”

Thoạt tiên, gã võ sĩ tưởng chừng vị sư không nghe lời yêu cầu của hắn vì ông không có bất cứ động tĩnh nào. Một hồi sau, ông mới mở mắt và một nụ cười nhẹ xuất hiện trên khóe miệng. Gã võ sĩ nóng ruột chờ đợi trong sự trôi đi chậm chạp của thời gian, càng lúc càng trở nên kích động.

– “Người muốn biết bí mật của Thiên đàng và Địa ngục ư?” cuối cùng vị sư lên tiếng. “Trông người vô cùng nhếch nhác, tay chân lấm đầy bụi bẩn, tóc rối bù, hơi thở hôi hám, còn đường gươm thì vô tình và tàn nhẫn. Thế mà người còn hỏi ta thế nào là Thiên đàng và Địa ngục ư?”

Gã võ sĩ buông một tràng chửi rủa. Hắn vung cao thanh kiếm, gương mặt đỏ bừng giận dữ, những đường gân ở cổ như căng lên, hắn đang trong tư thế sẵn sàng chặt đầu vị sư già.

– “Đó chính là Địa ngục,” vị sư nhẹ nhàng nói, ngay khi lưỡi kiếm đã lướt đến gần cổ.
Trong khoảnh khắc, gã võ sĩ nhận ra một sự chuyển đổi kỳ lạ trong tâm tưởng mình, từ ngạc nhiên, sợ hãi đến lòng trắc ẩn và tình thương cho người đã dám hy sinh mạng sống của mình để dạy cho hắn một bài học. Hắn buông lơi thanh kiếm và những giọt nước mắt biết ơn tuôn rơi.

– “Và đó chính là Thiên đàng!” vị sư nhẹ nhàng nói.


(Cha John W. Groff Jr. – Theo tuoitre)

Phuocthong
02-08-2009, 06:34 AM
Có một tín đồ Phật giáo ngoan đạo nọ gặp việc nan giải, bèn đến chùa cầu xin Quan Âm “cứu khổ cứu nạn” cho mình. Khi vào chùa, anh ta thấy một người đang đứng trước tượng Quan Âm khấn vái. Lạ một điều là người đó giống hệt như tượng Quan Âm kia.

Tín đồ bèn hỏi : “ Người có phải là Quan Âm không ?

Người nọ đáp : “Phải”

Tín đồ : “ Vậy sao Người còn khấn vái câu xin cho chính mình ? “

Người nọ cười :”Vì ta gặp việc nan giải, nhưng ta biết cầu xin người khác không bằng cầu xin chính bản thân mình“

Người ta nói :

Khi gặp những thất bại trong công việc, hay những điều buồn khổ trong cuộc sống, chúng ta thường cầu viện, dựa dẫm vào những thế lực siêu nhiên hoặc người khác. Mà chúng ta không hay rằng không ai hiểu mình bằng mình, không ai giúp mình bằng mình giúp mình. Nếu tự tin và cố gắng hết sức, thì chúng ta sẽ vượt qua tất cả những khó khăn, thử thách. Nếu người nào làm được điều đó, tức là đã trở thành Phật của chính mình.


(Theo Chan Gushi)